CÁC CHỨNG BỆNH VÙNG CỘT SỐNG CỔ (Kỳ 6) - Pdf 16

CÁC CHỨNG BỆNH VÙNG CỘT SỐNG CỔ
(Kỳ 6)
3.8. Các chứng đau cổ do thấp: như viêm cột sống dính khớp, giả viêm đa
khớp gốc chi.
3.9. Các chứng đau cổ do nhiễm khuẩn:
- Lao cột sống cổ, hay gặp ở người có tiền sử lao, đau cột sống cổ tăng dần
lan ra các chi, co cứng các cơ cổ và cố định cổ ở một tư thế, trạng thái toàn thân
suy sụp dần, có hội chứng nhiễm độc lao. Chụp X.quang thường quy, chụp CLVT
hoặc chụp MRI từ cột sống cổ cho chẩn đoán quyết định. Bệnh nhân cần được cố
định và điều trị theo phác đồ chống lao.
- Cốt tủy viêm cột sống cổ.
- Viêm xương khớp nhiễm khuẩn khu trú ở cổ.
3.10. Viêm quanh khớp bả vai – cánh tay còn được gọi là viêm quanh khớp
vai:
Bệnh nhân thấy đau ở vai, khó hoạt động khớp vai, đôi khi đau lan xuống
cánh tay. Thường xảy ra ở người trên 40 tuổi, nguyên nhân do chấn thương hoặc
vi chấn thương khớp vai. Hiện nay người ta xếp vào bệnh hư khớp.
Lâm sàng, đau xuất hiện dần dần, nhất là khi đang tay và xoay cánh tay vào
trong hoặc giơ lên đầu. Đau lan toả từ mỏm vai tới cánh tay, hạn chế vận động
khớp vai rõ rệt. Bệnh nhân không thể dùng tay gãi sang vai đối diện được, nếu
nặng bệnh nhân có triệu chứng “khoá cứng” khớp vai, đôi khi tổn thương lan rộng
xuống gây rối loạn vận động và loạn dưỡng ở bàn tay. Chụp X.quang khớp vai
cũng có giá trị chẩn đoán loại trừ.
Về điều trị: có thể tiêm novocain + hydrocortison quanh khớp vai nhưng
phải đảm bảo vô khuẩn tuyệt đối. Dùng các thuốc giảm đau chống viêm và
corticoid đường toàn thân kết hợp với điều trị lý liệu và tập vận động.
3.11. Đau cột sống cổ do chấn thương
Do vị trí và đặc điểm sinh – cơ học cột sống cổ là bộ phận nối tiếp giữa đầu
và thân nên dễ bị tổn thương, nếu một trong hai phần của cơ thể, đầu hoặc thân bị
tăng tốc hoặc hãm đột ngột thì cột sống cổ phải chịu sức căng rất lớn. Chừng nào
đĩa đệm cột sống cổ chưa bị thoái hoá, khả năng đàn hồi có thể đáp ứng được thì

Động mạch đốt sống cũng có thể chèn ép gây trở ngại lưu thông máu, vì vậy có
các triệu chứng của thiểu năng tuần hoàn não sau. Chụp cột sống cổ thường quy,
MRI cột sống cổ cho chẩn đoán xác định.
4. Dự phòng và điều trị.
- Dự phòng, không nên cúi gấp cổ quá lâu, những nghề nghiệp phải giữ cổ
ở một tư thế, cần có chế độ tập thể dục giữa giờ (theo bài tập thể dục vận động cột
sống cổ). Tránh các chấn thương vào vùng đầu và vùng cột sống cổ. Chú ý khi
tuyển lựa nghề nghiệp cần phải có tiêu chuẩn khám cột sống cổ.
- Điều trị, tuỳ theo căn nguyên, cơ chế tổn thương, giai đoạn cấp hay mạn
mà phương hướng điều trị có thể bảo tồn, phẫu thuật hay phục hồi chức năng.
+ Điều trị bảo tồn: bằng phương pháp lý liệu như bó nến, điện xung, chiếu
tia hồng ngoại có tác dụng rất tốt đối với giai đoạn cấp. Đai cổ mềm nhằm cố định
cột sống và giảm tải trọng cho cột sống cổ. Kéo giãn cột sống cổ phải hết sức thận
trọng, loại từ tổn thương cột sống do lao, do u. Thường dùng các thuốc giảm đau
chống viêm, giãn cơ, phong bế tại chỗ. Ngoài ra còn dùng thể dục liệu pháp nắn
chỉnh, xoa bóp có tác dụng tốt đối với đau cột sống cổ, nhưng phải có chỉ định
chặt chẽ.
+ Điều trị phẫu thuật: thường làm cứng phía trước cột sống theo phương
pháp Cloward, phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, phẫu thuật cắt bỏ mỏm
móc lỗ liên đốt theo đường vào trước – bên. Sau phẫu thuật phải tiếp tục điều trị
phục hồi chức năng.
+ Điều trị phục hồi chức năng và thể dục liệu pháp kết hợp với các biện
pháp y học cổ truyền có tác dụng rất tốt đối với các hội chứng cột sống cổ.
Tóm lại, bệnh lý cột sống cổ rất đa dạng, vì vậy trong thực hành lâm sàng
đòi hỏi người thầy thuốc phải nắm vững giải phẫu, chức năng, sinh lý cột sống cổ,
kết hợp khám xét lâm sàng tỉ mỉ, chu đáo, có sự hỗ trợ của phương tiện chẩn đoán
hình ảnh hiện đại mới có thể chẩn đoán được các hội chứng bệnh lý cột sống cổ.
Từ đó có phương pháp điều trị và dự phòng đúng đắn, hiệu quả cho bệnh nhân.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Ngọc Ân, Phạm Khuê. Bệnh khớp. NXB Y học, Hà Nội 1980.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status