Thơ tình yêu của các nhà thơ nữ thời chống Mỹ
Thơ Việt Nam 1965 - 1975 kị húy với “cái tôi” để tìm đến
những chân giá trị mang tầm cộng đồng, dân tộc như lý tưởng, lẽ sống hay những phẩm
chất truyền thống. Thơ tình yêu thời đó cũng vậy. Nó tìm về trú dưới mái nhà đạo đức.
Thời thơ mới 1932 - 1945 thơ tình yêu không thèm để ý đến đạo đức, thời sau 1975 lại
càng như vậy. Nhưng thơ tình yêu 1965 - 1975 thì lại nói nhiều đến đạo đức, đạo lý.Cũng
rất đúng bởi thời đó tiêu chuẩn phẩm chất chính trị, đạo đức được đặt lên hàng đầu khi
đánh giá con người
Tình yêu thì thời nào cũng có bởi có con người là có tình yêu. Tình yêu là ngọn lửa để giữ
nuôi cho cuộc sống thêm nồng nàn, thêm xuân sắc, thêm hy vọng. Không có tình yêu có lẽ
con người sẽ trở về với bản năng. Tất nhiên mà mỗi thời mỗi khác nên tình yêu cũng thể
hiện ở mỗi giai đoạn lại mang một cung bậc, sắc thái khác nhau. Ở bài viết này chúng tôi
sẽ đề cập tới thơ tình yêu của các nhà thơ nữ thời chống Mỹ xem đặc điểm của thơ tình
thời đó có gì khác.
Thời chống Mỹ là một giai đoạn lịch sử anh hùng và đau thương của cả dân tộc Việt Nam
này. Chiến tranh là mất mát là hy sinh. Chúng ta buộc phải cầm súng để giành lại độc lập
tự do. Thế cho nên, như một lẽ tất nhiên văn học giai đoạn này là văn học của sử thi, văn
học của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nói thế cũng để thấy rằng thơ tình yêu ở giai
đoạn này cũng không thể tránh khỏi áp lực của tư duy sử thi. Đây cũng là một đặc điểm
đầu tiên của thơ tình yêu:
Trước cơn giông là đôi mắt em cười
Chiều lạ quá, chiều ơi lay động mãi
Giá lại phải băng qua trăm ngả đường phá hoại
Thì hẳn chỗ cuối cùng anh gặp - vẫn là em
(Bằng Việt - Những đoạn thơ tình giữa hai cuộc chiến tranh phá hoại)
Ngày hôm nay lớp độc giả trẻ sẽ có người không hình dung nổi “răm ngả đường phá hoại”
là như thế nào, nhưng thời chiến tranh, đó là chuyện thường ngày. Chúng tôi nói “áp lực
của tư duy sử thi” được hiểu theo nghĩa: nói về tình yêu nhưng không thuần túy là tình
yêu là luôn xuất hiện hình ảnh cuộc sống chiến đấu. Thời đó cái chung được đặt lên trên
hết, tất cả vì lợi ích sống còn của dân tộc. Hơn nữa, xét ở góc độ phản ánh, cuộc kháng
chiến vĩ đại đến mức nó đi vào tất cả các góc độ riêng tư nhất của tình cảm. Thơ là tiếng
Dáng đi nhanh nhẹn làm sao
Mắt nhìn xa, bước tự hào hiên ngang
Mừng vui em gọi vội vàng
Ai ngờ lúc đến gần hơn em nhầm
Một ngày không biết mấy lần
Bâng khuâng em tự cười thầm: vẩn vơ
Rõ ràng anh ở rất xa
Sao em lại cứ ngỡ là gần bên?
Hẳn là anh cũng nhiều phen
Đường hành quân tưởng thấy em đến gần
Thoáng qua một dáng quen thân
Lưng gùi đạn, chiếc khăn rằn quàng vai
Phải không anh của em ơi
Trong xa cách vẫn gặp người thân yêu
Chúng tôi xin phép phải trích dài như vậy để chứng minh động thái tình cảm “nhớ” giữa
họ là rất riêng: em nhớ anh, anh nhớ em. Chính vì thế mà rất dễ nhầm với cái chung, cái
chung rất giống anh: anh là bộ đội, và cũng rất giống em: cô du kích, cô dân công Thời
nay đọc bài thơ này sẽ có người cảm thấy buồn cười: tình yêu gì mà cứ “nhầm”, cứ “ngỡ”,
cứ “tưởng” như vậy. Nhưng đặt vào thời đó thì mới thấy cái lôgich tình cảm tất cả vì
nhiệm vụ chung, tất cả ra tiền tuyến mà coi nhẹ sắc thái cá thể. Cũng chính vì thế mà thời
đó càng yêu nhau người ta càng dễ dàng chấp nhận hy sinh, chấp nhận chia ly như một
“cuộc chia ly màu đỏ”. Đúng là một thời của anh hùng ca, thời của niềm tin son sắt. Chỉ ở
thời ấy mới có những câu thơ như thế này:
Bao năm rồi đánh Mỹ
Lòng tin vẫn y nguyên
Đạn bom không xóa được
Nét mùa xuân hồn nhiên
(Lâm Thị Mỹ Dạ -Tiếng mùa xuân)
Thơ Việt Nam 1965 - 1975 kị húy với “cái tôi” để tìm đến những chân giá trị mang tầm
cộng đồng, dân tộc như lý tưởng, lẽ sống hay những phẩm chất truyền thống. Thơ tình yêu
Chúng tôi cho rằng đây là thơ của một thời và sẽ “một đi không trở lại”. Nói thế không có
nghĩa là chúng ta đánh giá thấp, ngược lại đó là những vần thơ ghi lại tâm trạng của cả
một thời đánh giặc. Rất có ích cho thời đó đã đành, còn thời nay cũng rất nên đọc, để mà
suy ngẫm về ngày trước sao con người ta trong sáng quá, chân thành và thật thà quá; để
mà suy ngẫm về thời nay để sống thành thực hơn.
Tình yêu trong thơ chống Mỹ là tình yêu trong sáng đến mức tuyệt đối, nó đề cao sự hòa
điệu, đồng điệu của hai tâm hồn, rất ít khi nói về sự rung động của cảm giác, càng không
có những “va chạm” kiểu Xuân Diệu trong Thơ mới: Hãy sát đôi đầu hãy kề đôi ngực/
Hãy trộn nhau những mái tóc vắn dài Tình yêu được đẩy về miền lý tưởng chứ không
giữ lại nơi hiện thực, thế cho nên người ta rất ít nói, thậm chí im lặng, trao gởi cho nhau
cũng trong im lặng, bằng im lặng. Chúng ta hãy cùng đọc những câu thơ “im lặng” trong
thơ Phan Thị Thanh Nhàn:
Họ ngồi im không biết nói năng chi
Mắt chợt nhìn nhau rồi lại quay đi
Nào ai đã một lần dám nói
Hương bưởi thơm cho lòng bối rối.
(Hương thầm)
Hôm nay “im lặng” đã đành:
Lặng im thôi anh nhé lặng im thôi
(Với sông Hồng)
Họ cùng nhau “im lặng” cả trong thời quá khứ:
Anh vẫn như xưa hóm hỉnh và trầm tư
Vẫn muốn được ngồi bên nhau im lặng
Chiếc ghế đôi bên hồ
(Bên hồ)
Và sau này cũng vẫn “im lặng”:
Khi anh trở về hãy nắm tay em
Ta im lặng đi dọc hè nắng trải
(Từ Khâm Thiên)
“Im lặng” như vậy vừa là trạng thái cảm xúc vì quá yêu mà không nói nên lời, vừa là một