Hình tượng đất nước trong thơ kháng chiến chống Mỹ - Pdf 27

Hình tượng đất nước trong thơ kháng chiến chống Mỹ
Trần Thị Thanh Tuyền 1

PHẦN I: MỞ ĐẦU
^Ö^
I. Lý do chọn đề tài
Lòng yêu nước vốn là truyền thống tinh thần tốt đẹp bao đời của dân tộc
Việt Nam. Nói như chủ tịch Hồ Chí Minh: “đó là thứ của quý, bấy lâu nay phải
cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm nay nhờ cách mạng được đem ra trưng
bày trong tủ kính, trong bình pha lê ”. [ 5 . 152 ]
Kế thừa truyền thống yêu nước của dân tộc, nhiều thế hệ người cầm bút
luôn hướng về quê hương, đất nước. Vì th
ế khi đất nước có giặc ngoại xâm, họ
đã hăng hái lên đường tham gia vào công cuộc đấu tranh chung, để giải phóng
dân tộc. Là chiến sĩ đồng thời cũng là thi sĩ, các nhà thơ quan niệm rằng: thơ ca
là phải phục vụ cách mạng, phục vụ lý tưởng của Đảng. Cho nên mọi sự kiện,
mọi vấn đề lớn nhỏ của đời sống cách mạng, thông qua trái tim nhạy cảm của các
nhà thơ
đều trở thành đề tài và khơi nguồn cảm hứng sáng tác. Những trang thơ
thời chống Mỹ đã làm trỗi dậy trong chúng ta những cảm xúc tự hào về Tổ quốc
và nhân dân anh hùng, càng thêm mến phục những con người quả cảm không tiếc
xương máu hy sinh thân mình cho Tổ quốc được hồi sinh.
Thơ ca thời kỳ kháng chiến chống Mỹ khắc hoạ được nhiều hình tượng nổi
bật như: hình tượ
ng lãnh tụ, hình tượng người chiến sĩ, hình tượng nhân dân…
Trong đó, hình tượng đất nước là một “hình tượng đẹp đẽ được xây thành công
vào loại bậc nhất” [ 19 . 96]. Như vậy có thể khẳng định: hình tượng đất nước
trong thơ ca kháng chiến chống Mỹ giữ một vị trí, vai trò đáng kể và mang vẻ
đẹp riêng của nó, được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát triển có tính biện
chứng c
ủa thơ ca truyền thống dân tộc. Tuy nhiên qua các công trình nghiên cứu

ểu trưng, mô típ được lặp lại và các hình ảnh
tượng trưng khác vừa có tính chất truyền thống vừa có tính cách tân, đổi mới. Đó
là các biểu trưng về Tổ quốc trong cái nhìn sinh thái - nhân văn, trong chiều sâu
văn hóa lịch sử và trong hình ảnh nhân dân.
Tổng kết, hệ thống hóa các biểu trưng của hình tượng Tổ quốc trong tác
phẩm này, ta thấy trong tâm thức người Việt Nam, Tổ quốc là môi trường sinh
thái của con người xét c
ả trong ý nghĩa xã hội lẫn ý nghĩa thiên nhiên. Tổ quốc,
trước hết là làng quê, mái rạ, cánh đồng, bến sông, lũy tre, rộng ra là dòng sông,
bầu trời, đất nước, là con đường nối các vùng quê, sâu hơn, Tổ quốc là môi
trường văn hóa, là lịch sử, nhân dân, con người.
Qua đây, hình tượng Tổ quốc được thể hiện mang nhiều sáng tạo mới. Tuy
nhiên yếu tố truyền thống vẫn đóng vai trò chủ yếu trong việc sáng tạo hình
tượng Tổ quốc của các nhà thơ, với những sắc thái và diện mạo quen thuộc. Đặc
biệt trong tác phẩm này, hình tượng Tổ quốc được khám phá từ các tác phẩm thơ
của cả hai thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
2. Cái đẹp trong thơ kháng chiến Việt Nam 1945 - 1975 - Vũ Duy Thông
- NXB giáo dục - 1998. Tác giả cung cấp cho người đọc một cái nhìn khái quát
về những biểu hiện của hình tượng đất n
ước trong thơ kháng chiến. Đồng thời,
tác giả cũng sử dụng những dẫn chứng cụ thể trong một số tác phẩm thơ của các
nhà thơ tiêu biểu như: Tố Hữu, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyên Hồng,
Nguyễn Khoa Điềm… để dẫn chứng, minh họa cho các nhận định của mình.
Nhưng những nhận định của tác giả mang tính khái quát cho cả dòng thơ kháng
chiến chứ không riêng cho thơ kháng chi
ến chống Mỹ.
3. Lịch sử văn học Việt Nam tập 3 - Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên) -
NXB Đại học Sư phạm - 2002. Tác phẩm có nói đến hình ảnh đất nước trong thơ
kháng chiến chống Mỹ nhưng chỉ đề cập thoáng qua. Bởi mục đích của tác giả
khi viết cuốn giáo trình này nhằm khái quát đặc điểm của văn học, dựa trên sự

và cần thiết cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận khoá luận này.
III. Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu hình tượng đất nước trong thơ kháng chiến chống Mỹ
nhằm những mục đích sau :
1.Khám phá những biểu hiện về nội dung và nghệ thuật xây dựng hình
tượng đất nước. Qua đó khẳng định những đóng góp của thơ ca thời kỳ chống
Mỹ.
2. Bổ sung kiến thức về thơ kháng chiến chống Mỹ. Vận dụng kế
t quả
nghiên cứu nhằm phục vụ nhu cầu học tập và giảng dạy.
IV. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1. Đối tượng nghiên cứu: hình tượng đất nước trong thơ kháng chiến chống
Mỹ
2. Phạm vi nghiên cứu: Khoá luận chỉ đi sâu nghiên cứu, phân tích hình
tượng đất nước trong một số tác phẩm thơ tiêu biểu của giai đoạn này.
V. Phương pháp nghiên cứu
Nhìn chung, khi tiến hành nghiên cứu hình tượng đất nước trong thơ kháng
chiến chống Mỹ tôi đã sử dụng một số phương pháp sau :
1. Phương pháp hệ thống tư liệu
Trên cơ sở những tài liệu thu thập được, tiến hành phân loại, sắp xếp những
tác phẩm thơ theo từng phạm vi biểu hiện của hình tượng đất nước. Lựa chọn tác
giả, những bài, đoạn th
ơ hay, phù hợp để làm dẫn chứng cho những nhận định
nghiên cứu. Hình tượng đất nước trong thơ kháng chiến chống Mỹ
Trần Thị Thanh Tuyền 4

2. Phương pháp phân tích tổng hợp

2. Trường ca
II. Ngôn ngữ thơ
1. Sự tiếp nhận các yếu tố khẩu ngữ, yếu tố văn xuôi
2. Vận dụng sáng tạo các biện pháp tu từ
III. Hình ảnh thơ
1. Hình ảnh bà mẹ
Hình tượng đất nước trong thơ kháng chiến chống Mỹ
Trần Thị Thanh Tuyền 5

2. Hình ảnh màn đêm
3. Hình ảnh ngọn đèn - ngọn lửa
VII. Đóng góp của khoá luận
1. Khóa luận giúp cho người đọc có cái nhìn hệ thống hơn về nội dung biểu
hiện hình tượng đất nước trong thơ ca thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.
2. Qua việc tìm hiểu nội dung khoá luận, người đọc sẽ bồi dưỡng tình yêu
quê hương đất nước và lòng tự hào dân tộc thêm sâu sắc. Từ đó có ý thức tu
dưỡng bản thân, sống có ích cho gia đình và xã hội để xứng đáng với truyền
thống của cha ông. Đồng thời, khoá luận còn góp phần khẳng định vai trò to lớn
của thơ ca kháng chiến chống Mỹ trong sự phát triển của văn học hiện đại nói
riêng và nền văn hoá dân tộc nói chung.
3. Trong chừng mực nào đó, khoá luận cũng đóng góp vào kho tài liệu của
tổ bộ môn để phục vụ nhu cầu nghiên cứu, giảng dạy, học tập của thầy cô và sinh
viên chuyên ngành Ngữ văn.


ồn lực
tinh thần
và lực lượng của cả dân tộc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận
và văn nghệ sĩ là những chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Cho nên, văn học trong thời
kỳ này phải trở thành một vũ khí tinh thần quan trọng, phục vụ cho những mục
tiêu cao cả và sống còn của dân tộc. Nền văn họ
c cách mạng qua hai mươi năm
hình thành và phát triển đã nhanh chóng nhập cuộc, đứng vào đội ngũ chung của
dân tộc trong cuộc ra quân vĩ đại. Và hơn bao giờ hết các nhà văn, nhà thơ cần
xác định đây là giai đoạn thử thách cao nhất mà mỗi người phải tự vươn mình lên
trong sáng tạo nghệ thuật. Nhà thơ Chế Lan Viên hẳn rất tâm đắc về vị trí và tư
thế của người cầm bút lúc bấ
y giờ :
Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy
Bên những dũng sĩ đuổi xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi.
(Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng - Chế Lan Viên)
Các văn nghệ sĩ đều có những chuyến đi bám sát các trận địa, các vùng
chiến sự ác liệt ngay trên miền Bắc, nhiều người được điều động bổ sung cho lực
lượng văn nghệ giải phóng ở miền Nam. Nhiều người viết thực sự vừa cầm súng
vừa cầm bút, không ít nhà văn đã hy sinh ở chiến trường trong tư cách của người
chiến sĩ. Họ hy sinh nhưng hình ảnh của họ sẽ còn sống mãi trong lòng nhân dân,
họ mất mà như vẫn sống, sống hào hùng mãi :
Có những phút làm nên lịch sử
Có cái chết hóa thành bất tử
(Hãy nhớ lấy l
ời tôi - Tố Hữu)
Đặc trưng của văn học là phản ánh hiện thực. Do đó, hiện thực đời sống
chống Mỹ với tất cả những nét khác nhau đã được thể hiện một cách chân thực,
đúng với tầm vóc lớn lao của nó trong văn học. Đó là yêu cầu, là đòi hỏi của lịch

Cuộc đời trải mút mắt ta
Lối mòn nhỏ cũng dần ra chiến trường
Cuộc chiến tranh càng lan rộng và quyết liệt, thơ càng bám sát hiện thực
chiến tranh, phản ánh nhiều hình ảnh cụ thể chân thực và sinh động. Không chỉ
bám sát hiện thực, cuộc chi
ến đấu qua những hình ảnh, chi tiết cụ thể như đã nêu
trên, thơ chống Mỹ còn kịp thời ghi nhận những sự kiện lớn, những vấn đề hệ
trọng trong đời sống chính trị, tư tưởng. Theo hướng đó, thơ ca thời kỳ này giàu
tính thời sự và đậm chất chính luận. Các nhà thơ Tố Hữu, Chế Lan Viên, Xuân
Diệu, Huy Cận, Tế Hanh… đều chuyển mạ
ch theo hướng thơ chính luận, khuynh
hướng ấy cũng chi phối cả lớp nhà thơ trẻ được sinh ra và lớn lên dưới mái
trường Xã hội chủ nghĩa như: Bằng Việt, Phạm Tiến Duật, Lê Anh Xuân, Thanh
Thảo…Nhìn vào diện mạo chung của thơ ca thời kỳ này, ta thấy rõ một điều là
chưa bao giờ dân tộc ta có một đội ngũ nhà thơ và người làm thơ đông đảo, sung
sức đế
n như vậy.
Tuy sự đóng góp của các thế hệ nhà thơ chưa thật đồng đều nhưng mỗi thế
hệ đều có mặt mạnh và đặc điểm riêng không thể thay thế được. Họ đều có ý
thức rút ngắn khoảng cách giữa thơ và cuộc sống, nâng mình lên ngang tầm thời
đại để thơ của mình có khả năng bao quát hiện thực, xây dựng những hình tượng,
Hình tượng đất nước trong thơ kháng chiến chống Mỹ
Trần Thị Thanh Tuyền 8

biểu hiện những tình cảm lớn của thời chống Mỹ. Viết về đề tài chiến tranh cách
mạng, họ thường suy nghiệm về đất nước và dân tộc anh hùng. Tổ quốc thường
được khám phá, nhìn nhận trong chiều sâu lịch sử bốn nghìn năm của dân tộc.
Cuộc chiến đấu với một kẻ thù hùng mạnh và tàn bạo nhất của thời đại đòi hỏi
dân tộc không chỉ
phát huy sức mạnh của hiện tại mà còn biết khơi dậy sức mạnh

1945 vừa có những đặc điểm riêng.
II. Những đặc điểm chính của thơ ca thời kỳ kháng chiến
chống Mỹ
1. Thơ ca tập trung phản ánh hiện thực công cuộc đấu tranh của dân
tộc
Hiện thực cách mạng là nguồn sáng tạo vô tận đối với thơ ca. Thực tế cách
mạng đã đem cuộc sống với toàn bộ sự phong phú, đa dạng của nó vào làm giàu
Hình tượng đất nước trong thơ kháng chiến chống Mỹ
Trần Thị Thanh Tuyền 9

cho thơ. Khác với những sáng tác thơ ca thời kỳ trước cách mạng - những bài thơ
có tính chất thoát ly, xa thực tế, những sáng tác thơ sau cách mạng đã trực tiếp đề
cập những vấn đề nóng hổi của cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chủ
nghĩa xã hội.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mang ý nghĩa và tầm vóc của thời
đại. Hi
ện thực đời sống chiến tranh hơn bao giờ hết lấp lánh chất thơ. Và cũng
hơn bao giờ hết hiện thực chiến tranh tràn vào thơ một cách ồ ạt từ những sự kiện
lịch sử to lớn, những thử thách của đời sống chiến trường, phút giáp mặt trong
chiến đấu, những tổn thất đau thương, những kỳ tích anh hùng đến những chi tiết
hết sức bình thường của cuộc sống. Các nhà thơ hầu hết là những chiến sĩ đi vào
cuộc chiến tranh, ở giữa cuộc chiến tranh, trực tiếp tham gia chiến đấu, giáp mặt
với kẻ thù. Cho nên hơn ai hết, họ hiểu rất rõ hiện thực cuộc đấu tranh của dân
tộc. Hoà trong không khí của thời đại chống Mỹ, trong sức sống mãnh liệt của
dân tộc, các nhà thơ
đã cảm nhận sâu sắc hơi thở cũng như niềm vui, nỗi buồn
của nhân dân. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã nói hộ thế hệ mình bao cảm nhận
về sự kỳ vĩ của dân tộc - thời đại - lịch sử :
Trong chiến tranh này có ai nói giùm ta
Những kỳ diệu của một mùa nước lớn.


Cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước đặt ra cho người cầm bút những
nhiệm vụ mới cao quý: phải là người xây dựng pháo đài tâm hồn nhân dân, phải
chú ý rèn luyện thường xuyên nâng cao chất lượng tác phẩm, phải nêu lên vấn đề
của thời đại, hướng mọi tình cảm vào sự nghiệp chung của toàn dân tộc, phải có
sức khái quát cao, giàu những hình ảnh cụ thể sinh động của cuộc đời đầy ch
ất
anh hùng ca, lạc quan và trữ tình, làm sáng tỏ những mục đích cao quý của cuộc
chiến đấu, phải tác động vào tình cảm nâng cao năng lực và ý chí bất khuất để
giành chiến thắng. Nhận nhiệm vụ là người phát ngôn cho thời đại, với hai vũ khí
trong tay: cây súng và cây bút, đội ngũ ấy ra quân với một khí thế sục sôi tràn trề
cảm xúc. Họ làm tròn trách nhiệm của mình qua những tác phẩm chói ngời chủ
nghĩa anh hùng cách mạng. B
ằng tiếng nói chung của cộng đồng, họ dùng các
phương tiện để phát ngôn cho ý chí, khát vọng, tình cảm chung rộng lớn và thống
nhất của toàn dân tộc.
Như vậy, với ý thức công dân và tinh thần của người chiến sĩ, các nhà thơ
đã hăng hái và tự nguyện đem nghệ thuật phục vụ cách mạng trên mặt trận văn
hoá tư tưởng. Đồng thời, họ còn hoà mình với quần chúng nhân dân, bám sát
những n
ơi mũi nhọn của cuộc đấu tranh. Thời kháng chiến chống Pháp nhiều văn
nghệ sĩ đã đầu quân, đi chiến dịch, thời kháng chiến chống Mỹ, nhiều văn nghệ sĩ
đi vào tuyến lửa, vào chiến trường miền Nam. Xuân Diệu đã nói lên sự gắn bó
của nhà thơ với nhân dân mình như sau :
Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi
Cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu
Tôi sống v
ới cuộc đời chiến đấu
Của triệu người yêu dấu gian lao
(Những đêm hành quân - Xuân Diệu)
Hình tượng đất nước trong thơ kháng chiến chống Mỹ
Trần Thị Thanh Tuyền 12

CHƯƠNG II : HÌNH TƯỢNG ĐẤT NƯỚC TRONG THƠ

Nọ bức dư đồ thử đứng coi
Sông sông núi núi khéo bia cười
Biết bao lúc mới công vờn vẽ
Sao đến bây giờ rách tả tơi
Ấy trước ông cha mua để
lại
Mà sau con cháu lấy làm chơi
Thôi thôi có trách chi đoàn trẻ
Thôi để rồi ta sẽ liệu bồi
(Bức dư đồ rách - Tản Đà)

Hình tượng đất nước trong thơ kháng chiến chống Mỹ
Trần Thị Thanh Tuyền 13

Phải đến với cách mạng, trực tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh giữ nước của
nhân dân, các cây bút thơ về sau mới có được niềm tự hào về đất nước ở tất cả
các góc cạnh của nó, và cất lên lời thơ ca ngợi thiết tha, say mê đất nước mình.
Có thể nói hình tượng đất nước xuất hiện trong thơ kháng chiến đã thoát
khỏi những điển cố, ước lệ mang tính khuôn sáo. Gi
ờ đây, các nhà thơ không
phải vay mượn những sự tích anh hùng, những con người anh hùng trong các
sách vở nước ngoài như Cốt Đãi Ngộ Lang, Đường Ngột Ngại, Lưu Công hay sự
văn minh của nước Nhật như trong thơ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh để so
sánh với con người, đất nước Việt Nam nữa. Những từ ngữ mang tính chất trừu
tượng cũng không còn. Có thể thấy hình tượng đất nướ
c là hình tượng đẹp đẽ,
được xây dựng thành công vào loại bậc nhất trong thơ kháng chiến. Chưa bao
giờ chủ nghĩa yêu nước lại hoà quyện cái tôi và cái ta, lý trí và tình cảm, lý
tưởng và hiện thực để cất lên tiếng thơ trong sáng, sảng khoái như giai đoạn này
[ 19 . 96 ] . Nhìn chung hình tượng đất nước trong thơ kháng chiến chống Mỹ đã

Trần Thị Thanh Tuyền 14

nên cuộc sống, từ việc xây dựng nhà cửa đến sản xuất làm ra hạt gạo, cùng bao
của cải vật chất :
Cái kèo cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đất nước có từ ngày đó.
Nhà thơ tiếp tục mạch cảm hứng về đất nước, bằng sự suy nghiệm và miêu
tả Tổ quốc qua thời gian đằng đẵng và không gian mênh mông
vừa chân thực
vừa phảng phất không khí huyền thoại. Từ không gian và thời gian trong các
truyền thuyết về cội nguồn đất nước, dân tộc: “Đất là nơi chim về. Nước là nơi
rồng ở. Lạc Long Quân và Âu Cơ. Đẻ ra đông bào ta trong bọc trứng”…đến
không gian và thời gian gần gũi của cuộc sống hàng ngày: “Đất là nơi anh đến
trường. Nước là nơi em tắm” . Và đất nước ngày càng thân thuộ
c hơn khi nó tồn
tại ngay trong máu thịt con người :
Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần đất nước
Vì thế, trách nhiệm, bổn phận đối với đất nước không phải là cái gì khác mà
là trách nhiệm đối với chính bản thân mình :
Em ơi em đất nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên đất nước muôn đời…
Tổ quốc đã được nhà thơ
Nguyễn Khoa Điềm quan niệm và miêu tả như
một cơ thể toàn vẹn. Đó là nét đặc sắc, mới mẻ chưa từng có trong cảm quan về
Tổ quốc của dân tộc ta. Ở khía cạnh này, các nhà thơ khác đã cùng gặp gỡ với
Nguyễn Khoa Điềm trong xây dựng hình tượng thơ :

sức thiêng liêng, thiết cốt đối với mọi người. Cho nên trong thời kỳ văn học này,
những gì thuộc về cái tôi riêng th
ường bị xem là nhỏ mọn, tầm thường. Con
người luôn đứng trước những vấn đề có tầm cỡ lịch sử: Tổ quốc còn hay mất, độc
lập tự do hay nô lệ? Câu hỏi ấy khiến mọi công dân biết tự trọng đều phải gác lại
lợi ích cá nhân, quyết hy sinh tất cả, kể cả tính mạng mình để bảo vệ quê hương,
đất nước.
Viết về
đất nước, Chế Lan Viên còn có những phát hiện mới. Đó là sự phát
hiện hình tượng đất nước trong chiều sâu văn hoá lịch sử. Trong thơ Chế Lan
Viên, chúng ta thấy Việt Nam là một đất nước anh hùng nhưng đồng thời cũng là
một đất nước văn hoá. Khi suy nghĩ về lịch sử dân tộc, nhà thơ nhận thấy những
giờ phút hào sảng, rạng rỡ nhất cũng là lúc bừng nở v
ề văn hoá nghệ thuật :
Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc
Nguyễn Du viết Kiều đất nước hoá thành văn
Trong giờ phút xung trận của cả nước đánh Mỹ, giữa đau thương, bom đạn,
Chế Lan Viên vẫn nhìn ra cái dịu dàng, êm ả của tâm hồn và cảnh sắc Việt Nam
ẩn chứa chiều sâu của văn hoá dân tộc. Đây là những cảm nhận tinh tế, thấm thía
về Tổ
quốc :
Ta đã yêu Việt Nam đẹp, Việt Nam thơ, bát ngát câu kiều, bờ tre, mái
rạ
Mái đình cong như bàn tay em gái giữa đêm chèo
Cánh cò Việt Nam trong hơi mát xẩm xoan, cò lả
Cái đôn hậu nhân tình trong nét chạm chùa keo
(Thời sự hè 72 - bình luận - Chế Lan Viên )
Hình tượng đất nước trong thơ kháng chiến chống Mỹ
Trần Thị Thanh Tuyền 16


Tiếng đàn bầu, tiếng đàn bầu
Ngân nga trong đêm trăng
Giữa hai mùa lúa
Dây đàn tưởng không bén tay chú nữa
Mà căng trong không gian
Tự rung lên ngàn đời sức mạnh Việt Nam.
(Tiếng đàn bầu và đêm trăng - Trần Đăng Khoa)
Có thể nói tiếng đàn bầu của Trần Đăng Khoa là một biểu tượng sâu sắc về
Tổ quốc và con người Việt Nam: ân nghĩa, ân tình, thuỷ
chung, son sắt, mềm
mại, thẳm sâu.
Hình tượng đất nước trong thơ kháng chiến chống Mỹ
Trần Thị Thanh Tuyền 17

Các nhà thơ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ viết về đất nước không chỉ bằng
tình yêu tha thiết, chân thành mà còn vì niềm tự hào về một đất nước bốn nghìn
năm văn hiến; về những truyền thống văn hóa đã tạo nên bản sắc riêng của dân
tộc Việt Nam; về những trang sử vẻ vang của cha ông ta trong quá trình dựng
nước và giữ nước. Đó cũng là cơ sở
để chúng ta có cái nhìn sâu sắc, đầy đủ hơn
về hình tượng đất nước trong thơ kháng chiến chống Mỹ.
2. Đất nước - làng quê hiền hòa, bình dị mến thương
Bằng sự cảm nhận tinh tế của trẻ thơ, Trần Đăng Khoa đã nhìn, đã nghĩ và
đưa vào thơ những hình ảnh hết sức quen thuộc của làng quê Việt Nam. Này là
một mảnh vườn hả hê đón nhận cơn m
ưa với vô số những tre, bưởi, dừa, mía,
ngọn mồng tơi, cỏ gà…(Mưa). Đây là đàn gà con đang liếp chiếp kiếm mồi trong
vườn. Kia là đêm trăng sáng với những cây cau, cây chuối im lìm (Trăng sáng
sân nhà em). Nào là một buổi hái trầu đêm (Đánh thức trầu). Một tiếng gà gáy
đánh thức vạn vật (Ò ó o…). Một sớm heo may về, hoa cau rụng đầy vại nước

Trần Thị Thanh Tuyền 18

Toả hơi ruộng đồng
(Hương đồng - Trần Đăng Khoa)
Nghĩ về đất nước mình đã sinh ra và lớn lên, Bằng Việt luôn có những lời
thơ ấm áp tin yêu. Trong thơ ông, cảnh vật quê hương, đất nước hiện lên tươi đẹp
qua những chi tiết rất bình thường :
Tôi đi trong sắc thắm trời xanh
Cây cỏ đu đưa một dáng vui thầm
Ước cây cỏ bỗng làm sao nói
được
Ôi những đồi chè đang lên xanh mướt
Mạ nô đùa rồng rắn đuổi theo nhau
Hoa tím ngát trong nắng chiều hạnh phúc
Những nương khoai bừng trổ nỗi vui đầu.
(Lời chào từ Việt Nam 1966 - Bằng Việt)
Thơ của ông là tiếng nói tâm tình đưa ta về với những kỉ niệm tuổi thơ: một
bếp lửa ấp iu nồng đượm, một chùm hoa gạo đỏ t
ươi, một tiếng tu hú, một xóm
ven đồi, hay một cánh hoa bìm bịp cũng gợi nhớ xa xôi :
Hoa bìm ơi hoa bìm!
Vẫn tròn trặn, đơn sơ màu tím thế!
Như ước vọng mở lòng ta thủ thỉ
Có nét gì vẫn quyến rũ như xưa.
(Từ giã tuổi thơ - Bằng Việt)
Cái đẹp chính là ở trong lòng người và với tình yêu quê hương sâu đậm nên
trong con mắt nhà thơ cái gì của quê hương cũng đẹp, cũng xinh c
ả.
Khi đi xa, ai cũng nhớ về quê hương nhưng mỗi người sẽ nhớ một cách
khác nhau. Viết về quê hương, Nguyễn Trọng Định đã chọn bát nước vối đơn sơ

Rồi những ngày ngâu tràn chum nước gốc cau,
Những tháng rét trải rơm làm ổ ngủ,
Bắc ấm nước mưa, con ngồi nhóm lửa,
Nụ tích mấy mùa mẹ lại sẻ ra pha…
Đây là đoạn thơ đã làm rung động trái tim của hàng triệu bạn đọc. Những
câu thơ giản dị đầy sức gợi đã gọi nhau, liền một mạch, làm s
ống dậy trong ta
những tình cảm đẹp đẽ về một vùng quê nước Việt thân yêu
Với Tế Hanh khi sống giữa hai nửa yêu thương, Bắc - Nam xa cách, ông
lúc nào cũng nhớ về cái làng quê ruột thịt - nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Dù
trải qua bao nhiêu thời gian, dù cuộc đời thay đổi, nhưng nhà thơ vẫn luôn trở về
với dòng sông. Ông như mê đi trong cái mát mẻ của dòng sông, của những bờ tre
ríu rít tiếng chim kêu, củ
a những mặt nước chập chờn con cá nhảy... Dòng sông
bỗng trở nên đẹp hơn, lung linh huyền ảo hơn, kể từ khi xuất hiện bài thơ Nhớ
con sông quê hương của chính đứa con dòng sông ấy. Dòng sông chính là quê
hương, là người mẹ của Tế Hanh, và ông đã để hết tâm hồn và tình cảm của mình
vào bài thơ cũng như đã và sẽ sống mãi cùng dòng sông quê ấy :
Tôi nhớ không nguôi ánh nắng màu vàng
Tôi quên sao được s
ắc trời xanh biếc
Tôi nhớ cả những người không quen biết
Có những trưa tôi đứng dưới hàng cây
Bỗng nghe dâng cả một nỗi tràn đầy
Hình ảnh con sông quê mát rượi
Lai láng chảy lòng tôi như suối tưới…
Ra đi với dòng sông và trở về với dòng sông, thơ Tế Hanh là cuộc chuyện
trò thầm thì không dứt với con sông thân yêu của mình. Và chính ông cũng là
một dòng sông bình dị và đầy xúc cảm, một dòng sông biết chắt chiu từng giọt
Hình tượng đất nước trong thơ kháng chiến chống Mỹ

Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao
Những ngày trốn học đuổi bướm cầu ao
Mẹ bắt được chưa đánh roi nào đã khóc
Cô bé nhà bên nhìn tôi cười khúc khích
(Quê hương - Giang Nam)
Quê hương là con đường đến trường, là trang sách, là bài văn, là phút mơ
màng nghe chim hót…Quê hương đối với con người là cái gì đó thật giản dị, thật
gần gũi, đơn s
ơ mà thật là thiêng liêng, sâu lắng! những câu thơ của Giang Nam
làm tôi nhớ đến thơ của Đỗ Trung Quân :

Hình tượng đất nước trong thơ kháng chiến chống Mỹ
Trần Thị Thanh Tuyền 21

Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay
(Quê hương - Đỗ Trung Quân)
Quê hương không còn là một khái niệm quá to tát, xa vời, mà quê hương là
những cái gần gũi, thân thương với con người nhất. Với vài dòng thơ, mà tình
yêu trong tác giả được thể hiện sâu sắc, dạt dào nồng thắm biết bao!
Với tâm hồn tuổi thơ, tình yêu quê hương trong tác giả được khơi nguồ
n từ
những kỉ niệm sâu lắng. Lớn lên khi rời xa quê hương, xa nơi gắn bó bao kỉ niệm
tuổi thơ, tình yêu lại càng được nhân lên gấp bội :
Cách mạng bùng lên rồi kháng chiến
Quê tôi đầy bóng giặc, từ biệt mẹ tôi đi
Ra đi, nhưng lòng vẫn khôn nguôi nhớ về quê hương. Yêu quê hương tha
thiết, vậy mà “quê tôi đầy bóng giặc” nên tác giả phải đi kháng chiến. Và “cô bé

khó mà phân biệt được đâu là tình cảm riêng, đâu là tình cảm chung, đâu là tình
người, đâu là tình quê hương. Tất cả như hòa quyện thành một khối thống nhất,
không thể tách rời. Chính vì lẽ đó mà Quê hương đã đến với người đọc và để lại
trong trái tim họ những rung động thiết tha, làm cho mỗi người càng thêm gắn bó
với quê hương đấ
t nước.
Cái nên thơ nghìn đời trong thơ ca Việt Nam ta là bờ tre, giếng nước, là tạo
vật thiên nhiên gắn liền với đời sống lao động, sản xuất nơi chốn ruộng đồng, từ
đó đã tạo nên thói quen cảm xúc cho người đọc. Hình tượng đất nước trong thơ
thời kỳ chống Mỹ cũng được các nhà thơ xây dựng trên nền những thói quen đó
và nó đã đi vào lòng người đọc qua t
ừng hình ảnh, đường nét, màu sắc miêu tả
thật giản dị mà thân quen trìu mến.
II. Đất nước trong đau thương máu lửa nhưng rất đỗi hào
hùng
1. Quân thù giày xéo quê hương
Liền sau niềm vui chiến thắng thực dân Pháp, miền Nam bắt đầu sống
những năm tăm tối, có thể chưa từng thấy trong lịch sử. Kể từ khi đế quốc Mỹ
nhảy vào Việt Nam, chúng ngày đêm giày xéo đất nước ta và gây ra nhiều tội ác
khiến trời không dung, đất không tha, người người đều căm giận :
Bọn xé xác trẻ em. Bọn châm lửa đốt nhà
Bọn mư
u giết ruộng đồng ta bằng hóa học
Bọn đẵn gốc những mùa xuân nảy lộc
Bọn đâm lê vào những áo cà sa…
…Chúng ném bom Na - pan trong kinh nguyện nhà thờ
Người Mỹ biết trộn hòa bình vào bom nguyên tử
Như rưới nước hoa hồng vào máu trẻ ngây thơ
(Đế quốc Mỹ là kẻ thù riêng của mỗi trái tim ta - Chế Lan Viên)
Thơ Chế Lan Viên đã giúp người đọc nhận ra bộ mặt thật của kẻ thù đằ

Tôi nhìn ra thấy máu thịt quê hương
Như
đang dâng thành núi đọng thành sông
Ơi! Gió Lào ơi! Người đừng thổi nữa
Những ruộng đói mùa, những đồng đói cỏ
Những đồi sim không đủ quả nuôi người
Cuộc sống gian lao ít tiếng nói tiếng cười
Chỉ tiếng gió mù trời chen tiếng súng
Của đồn giặc mấy năm trời chiếm đóng
(Kết nạp Đảng trên quê hương của mẹ - Chế Lan Viên )
Đất nước Vi
ệt Nam sao mà nhọc nhằn đến thế! vừa cởi được ách nô lệ tám
mươi năm của tên đế quốc này thì tên đế quốc nọ ùa tới cướp bóc, tàn phá làm
cho đất nước ta vốn đã nghèo nay lại càng thêm tiêu điều xơ xác :
Từ núi qua thôn đường nghẽn lối
Xuân Dục, Đoài Đông cỏ ngút dày
Sân biến thành ao, nhà đổ chái
Ngổn ngang bờ bụi cánh dơi bay
Cha mẹ dìu nhau về nhận đất
Tóc bạc th
ương từ mỗi gốc cau
Nứa gianh nửa mái lều che tạm
Sương trắng khuây dần chuyện xót đau …
( Núi đôi - Vũ Cao)
Hình tượng đất nước trong thơ kháng chiến chống Mỹ
Trần Thị Thanh Tuyền 24

Đã là nỗi đau thì không ai muốn nhớ nhưng kẻ thù đâu chịu để chúng ta
quên. Bọn chúng từ trên không, ngoài biển ào ạt trút xuống đầu ta những thành
tựu mới nhất về khoa học giết người “Toan xóa sạch màu xanh của lá - Toan xé

Người vươn lên như m
ột thiên thần
( Máu và hoa - Tố Hữu)
Có thể nói, giai đoạn chống Mỹ là thời kỳ mà hình tượng Tổ quốc hiện lên
đẹp đẽ, cao quý nhất, toàn diện nhất trong thơ ca của chúng ta. Mỗi nhà thơ đều
có những sáng tác trực tiếp về đề tài Tổ quốc. Trong thơ của Phạm Ngọc Cảnh,
đất nước hiện ra trong tư thế hùng mạnh như chưa từng thấy ở giai
đoạn kháng
chiến nào trước đây :
Hình tượng đất nước trong thơ kháng chiến chống Mỹ
Trần Thị Thanh Tuyền 25

Này đây
Doi đất Cửu Long xanh
Sư đoàn Châu Thổ
Giữa bãi sú, rừng tràm
Vụt đứng dậy sư đoàn Nam Bộ
Từ hầm chông, bãi đá, cung tên …
( Sư đoàn - Phạm Ngọc Cảnh )
Quân đội hiện ra trong những khí phách của người chiến thắng, trong tư thế
sừng sững hiên ngang giữa bãi sú rừng tràm, đất nước hiện ra trong những
khung cảnh anh hùng từ chiều sâu lịch sử
đấu tranh, từ chiều rộng không gian núi
sông hiển hách :
Nhìn Nam Bắc Tây Đông
Hỏi cả hai mươi thế kỷ :
Ở đâu? mỗi ngọn núi dòng sông
Cũng hiển hách chiến công
Lừng danh dũng sĩ.
Ở đâu? một mũi chông, một ngọn tầm vông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status