QUAN NIỆM CỦA GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC VỀ MỐI QUAN HỆ PHẨM CHẤT NĂNG LỰC VÀ ẢNH HƯỞNG ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC - Pdf 16


ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN:
TÂM LÝ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
ĐỀ TÀI:
QUAN NIỆM CỦA GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC VỀ
MỐI QUAN HỆ PHẨM CHẤT - NĂNG LỰC
VÀ ẢNH HƯỞNG ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG
GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
Giảng viên hướng dẫn:
Ths. LÊ TUYẾT ÁNH

TP. HỒ CHÍ MINH - 2013

DANH SÁCH NHÓM THUYẾT TRÌNH

STT
Họ và tên

01692870989 7
Trần Hiếu Huy
01657207520 8
Nguyễn Đăng Khoa
0988937740 9
Lương Ngọc Lan
01225627515 10
Nguyễn Thị Xuân Lan
01668366440 11
Nguyễn Thị Tuyết Lê
01656542269
Nguyenthituyetle.k35@gmail.
com

12

2.1. Định nghĩa về năng lực của giảng viên: 8
2.2. Phân loại năng lực của giảng viên: 8
2.2.1. Năng lực chung và năng lực riêng: 8
2.2.2. Chức năng của giảng viên : 9
3. Thực trạng về quan niệm phẩm chất và năng lực của giảng viên đại học
ngày nay 11
3.1. Quan niệm phẩm chất quan trọng hơn năng lực 12
3.2. Quan niệm năng lực quan trọng hơn phẩm chất 14
4. Giải pháp để nâng cao phẩm chất và năng lực của giảng viên đại học 16
4.1. Giải pháp để nâng cao phẩm chất của giảng viên đại học 16
4.2. Giải pháp để nâng cao năng lực của giảng viên đại học 18
KẾT LUẬN 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO 22 2

Lời mở đầu
Hồ Chủ Tịch đã từng nói rằng: “Làm việc gì cũng phải có cái tâm và yêu nghề
thì chúng ta mới thành công được”. Để bước lên bục giảng dạy, một người giảng viên
trẻ luôn phải đặt ra cho mình rất nhiều yêu cầu như làm thế nào để học viên thích học,
làm thế nào để truyền đạt phương pháp giảng dạy hiệu quả nhất cho học viên, làm thế
nào để học viên hứng thú với tiết học của mình… Lời dạy của Bác luôn là phương
hướng hành động, là kim chỉ nam để người giảng viên hoàn thành tốt công việc của
mình:
Thứ nhất, mỗi giảng viên, giáo viên thấm nhuần tư tưởng của Người: “Giáo dục
phải tạo ra được những người lao động mới” là người vừa có tài vừa có những phẩm
chất cách mạng, lòng yêu nước, có đạo đức trong sáng, có chí khí hăng hái vươn lên,
không sợ hy sinh gian khổ, dũng cảm, khiêm tốn, thật thà, cần cù, tiết kiệm, giản dị, và
sức khỏe để sẵn sàng đi xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh. Giảng

phẩm chất luôn tồn tại một mối quan hệ song hành, chúng tương hổ và bổ sung cho
nhau. Nếu có năng lực mà thiếu đi phẩm chất cũng không xứng đáng với tư cách của
một người làm thầy và ngược lại. Vậy quan niệm và thực trạng của giảng viên đại học
ngày nay đối với mối quan hệ này như thế nào và tác động của nó đến nền giáo dục
Việt Nam ra sao? Bài tiểu luận này của nhóm tác giả sẽ đi vào phân tích, đặt vấn đề
cũng như là đưa ra các đề xuất, biện pháp để góp phần giải quyết những mâu thuẫn tồn
đọng, góp phần xây dựng một đội ngũ giảng viên có năng lực và phẩm chất, đáp ứng
yêu cầu của một nền giáo dục tiên tiến, vững mạnh. 4

1. Phẩm chất của người giảng viên
1.1. Định nghĩa về phẩm chất của giảng viên
Phẩm chất là những biểu hiện bản chất đạo đức của con người đã được rèn
luyện trong cuộc sống, tạo thành nếp sống, nếp nghĩ, nếp hành động vì cộng đồng,
được cộng đồng đánh giá.
Phẩm chất nhà giáo là thế giới quan của họ (hay nói cách khác là phẩm chất
chính trị của nhà giáo), nền tảng định hướng thái độ, hành vi ứng xử của giáo viên. Bên
cạnh đó, phẩm chất, đạo đức, nhân văn của người thầy giáo thể hiện qua lòng thương
yêu con trẻ, thương yêu học trò.
1.2. Phân loại phẩm chất của giảng viên
1.2.1. Phẩm chất tư tưởng chính trị:
A. Thế giới quan khoa học:
Trong phẩm chất nhân cách của người giảng viên, yếu tố trước tiên là thế giới
quan khoa học. Đây là yếu tố quan trọng trong cấu trúc nhân cách, nó không những
quyết định niểm tin chính trị, mà còn quyết định toàn bộ hành vi cũng như ảnh hưởng
của người dạy đối với người học.
Thế giới quan của giảng viên là thế giới quan duy vật biện chứng bao hàm
những quan điểm duy vật biện chứng về những quy luật phát triển của tự nhiên, xã hội

- Có những biện pháp cụ thể để khắc phục khó khăn, quyết tâm thực hiện bằng
được kế hoạch đề ra.
6

- Gần gũi, yêu thương quan tâm đối với những sinh viên có hoàn cảnh khó khăn và
tin tưởng vào khả năng và sự tiến bộ của họ.
- Nhà giáo luôn học tập tu dưỡng để nâng cao trình độ giáo dục của mình.
B. Đạo đức lối sống:
Nhà giáo tác động đến người học không những bằng những hành động trực tiếp
của mình mà còn bằng sự mẫu mực, bằng thái độ và hành vi của chính mình đối với thế
giới xung quanh. Để làm được đều đó, nhà giáo phải biết lấy các quy luật khách quan
là chuẩn mực cho mọi tác động sư phạm của mình, mặt khác phải có những phẩm chất
đạo đức và phẩm chất ý chí cần thiết. Những phẩm chất đạo đức và những phẩm chất ý
chí đó là tinh thần nghĩa vụ, tinh thần nhân đạo, lòng tôn trọng con người, thái độ công
bằng, tính ngay thẳng, giản dị, khiêm tốn; tính mục đích, tính nguyên tắc, tính kiên
nhẫn, tính tự kiềm chế, biết chiến thắng thói hư tật xấu; kỹ năng điều kiển tình cảm,
tâm trạng của bản thân cho phù hợp với tình huống sư phạm.
Trong thời đại mới, một số phẩm chất nhân cách dưới đây không những cần
thiết đối với giảng viên mà còn cần được hình thành từ người học:
- Lý tưởng nghề nghiệp
- Tính trung thực trong cuộc sống và trong hoạt động nghề nghiệp
- Lòng tin, trước hết tin vào đạo học và tin vào chính mình.
Muốn xây dựng được nhân cách cho người học, người thầy trước hết phải có
phẩm chất đạo đức thể hiện ở thái độ, tác phong chuẩn mực khi thực hiện giảng dạy và
trong lối sống, trở thành tấm gương, vừa là người thầy, vừa là người cán bộ ưu tú,
chuẩn mực cho người học noi theo.
Cái phẩm chất của người thầy thể hiện ở sự hi sinh vô tư “tất cả vì học sinh thân
yêu”, giúp đỡ người học một cách chân thành, không vì vụ lợi, không phân biệt đối xử,
giúp đỡ trong hỗ trợ kiến thức phải đến nơi đến chốn; giúp đỡ không có nghĩa là cho
7

- Mẫu mực trong cách tiếp cận các ý tưởng, khái niệm và tài liệu
- Đưa ra những đòi hỏi phù hợp với tất cả các mức năng lực của người học
- Thể hiện sự tôn trọng đối với tính đa dạng và yêu cầu lớp học cũng có một
thái độ tương tự
2. Năng lực của người giảng viên
2.1. Định nghĩa về năng lực của giảng viên:
Năng lực là tổng hợp các khả năng của giảng viên trong các lĩnh vực hoạt động
chuyên môn bao gồm giảng dạy và nghiên cứu.
2.2. Phân loại năng lực của giảng viên:
2.2.1. Năng lực chung và năng lực riêng:
Năng lực chung là loại năng lực mà bất kì ai làm việc cũng phải có mới đạt kết
quả tốt đẹp như năng lực sáng tạo, năng lực tự học, năng lực giao tiếp, năng lực hợp
tác…
Năng lực riêng hay gọi là năng lực sư phạm là loại năng lực chuyên biệt bao
gồm năng lực tìm hiểu sinh viên và môi trường giáo dục, năng lực giáo dục nhân cách,
năng lực đánh giá kết quả giáo dục, năng lực phát triển nghề nghiệp, năng lực kết hợp
giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội. Và các kĩ năng bao gồm kĩ năng tổ chức lớp
9

học, soạn giáo án cụ thể như: kĩ năng tạo tình huống có vấn đề, kĩ năng thuyết trình
khúc chiết – mạch lạc – hấp dẫn – lí thú, kĩ năng đặt câu hỏi, ra bài tập đúng lúc, đúng
chỗ, đúng trọng tâm, đúng bản chất sáng tạo và thiết thực, kĩ năng trình bày bảng logic,
trực quan, kĩ năng sử dụng thiết bị dạy học.
Năng lực sư phạm liên quan chặt chẽ với năng lực chung. Năng lực sư phạm
được thể hiện rõ ở người giáo viên như: phẩm chất trí tuệ (quan sát, sáng tạo), phẩm
chất ngôn ngữ (thuyết phục, nghiêm túc, logic), phẩm chất tưởng tượng là khả năng đặt
mình vào vị trí học sinh và hiểu họ.
Những giáo viên có kinh nghiệm và thâm niên công tác nhiều năm, có trình độ
đại học sư phạm thì vẫn có thể thiếu năng lực cần thiết. Thâm niên công tác không thể
hiện trình độ cao của tay nghề sư phạm mà muốn nắm vững tay nghề sư phạm thì phải

B. Giảng viên là nhà khoa học:
Ở vai trò thứ hai này, giảng viên thực hiện vai trò nhà khoa học với chức năng
giải thích và dự báo các vấn đề của tự nhiên và xã hội mà loài người và khoa học chưa
có lời giải.
Ba chức năng chính của một nhà khoa học bao gồm : Nghiên cứu khoa học, tìm
cách ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học về thực tiễn đời sống và công bố các
kết quả nghiên cứu cho cộng đồng (cộng đồng khoa học, xã hội nói chung, trong nước
và quốc tế). Trong vai trò nhà khoa học, giảng viên đại học không chỉ phải nắm vững
kiến thức chuyên môn, phương pháp nghiên cứu mà còn phải có kỹ năng viết báo khoa
học.
C. Giảng viên là nhà cung ứng dịch vụ cho xã hội:
11

Đây là một vai trò mà rất nhiều giảng viên đại học Việt Nam đang thực hiện –
nó cũng là một vai trò mà xã hội đánh giá cao và kỳ vọng ở các giảng viên. Ở vai trò
này, giảng viên cung ứng các dịch vụ của mình cho nhà trường, cho sinh viên, cho các
tổ chức xã hội – đoàn thể, cho cộng đồng và cho xã hội nói chung. Cụ thể đối với nhà
trường và sinh viên, một giảng viên cần thực hiện các dịch vụ như tham gia công tác
quản lý, công việc hành chính, tham gia tổ chức xã hội, cố vấn cho sinh viên, liên hệ
thực tập, tìm chỗ làm cho sinh viên… Với ngành của mình, giảng viên làm phản biện
cho các tạp chí khoa học, tham dự về tổ chức hội thảo khoa học.
Đối với cộng đồng, giảng viên trong vai trò của một chuyên gia cũng thực hiện
các dịch vụ như tư vấn, cung cấp thông tin, viết báo. Trong chức năng này, giảng viên
đóng vai trò là cầu nối giữa khoa học và xã hội, để đưa nhanh các kiến thức khoa học
vào đời sống cộng đồng. Viết báo thời sự (khác với báo khoa học) là một chức năng
khá quan trọng và có ý nghĩa lớn trong việc truyền bá kiến thức khoa học và nâng cao
dân trí.
3. Thực trạng về quan niệm phẩm chất và năng lực của giảng viên đại học
ngày nay
Phẩm chất và năng lực là yếu tố có mối quan hệ mật thiết không thể tách rời đối

vững giá trị đạo đức là người sống trung thực, thẳng thắn, công bằng và có lòng vị tha,
biết vui cái vui của người, biết buồn cái buồn của người. Đặc biệt không bị đồng tiền
và lối sống xa hoa của nên kinh tế thị trường quyến rũ, biết đi lên bằng chính đôi chân
của mình. Phong trào học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một việc
làm kịp thời và đúng đắn nhằm giữ vững giá trị đạo đức của dân tộc Việt Nam đang
trên đà suy thoái.
13

Câu nói “cô giáo như mẹ hiền” và “mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương
sáng cho học sinh noi theo” vẫn còn nguyên giá trị. Hiện nay, ở các trường Cao đẳng
và Đại học trên cả nước, một số những giảng viên có quan niệm cho rằng phẩm chất,
tức là cái đức của người thầy, quan trọng hơn năng lực (tức cái tài). Tuy nhiên, xét về
góc độ tổng thể, đây là một quan niệm sai lầm của một bộ phận giảng viên của nước ta.
Đồng ý rằng trước những trào lưu, trước nền kinh tế thị trường và các luồng
giao lưu văn hóa đang ngày càng xâm nhập nước ta thì giảng viên giữ được các tư cách
đạo đức, giữ được cái phẩm chất của một người thầy là một điều cực kỳ đáng trân
trọng. Họ là những người sẽ ươm mầm nên những thế hệ tương lai có đạo đức, có suy
nghĩ, sống có trách nhiệm và chính bản thân họ cũng sẽ „miễn nhiễm‟ trước những tiêu
cực do cuộc sống mang lại như „mua bán điểm số‟, „bệnh thành tích‟.v.v…
Nhưng chỉ có phẩm chất sẽ là chưa đủ để tạo nên một người giảng viên thật sự.
Thế kỷ XXI - thời đại của tri thức và khoa học công nghệ, những nhà giáo phải năng
động, tích cực tiếp thu những kiến thức mới, không ngừng học tập, nâng cao trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ. Năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm của một số bộ phận
giảng viên còn có nhiều hạn chế dù về mặt ý thức họ là người nghiêm túc cố gắng làm
hết sức mình nhưng kết quả giảng dạy, giáo dục đều không đạt đến điều mong muốn,
không thể đáp ứng nổi yêu cầu “đổi mới toàn diện, triệt để giáo dục” hiện nay.
Một người giảng viên phải đáp ứng được các chức năng cơ bản kể trên, trong đó
có chức năng của một nhà nghiên cứu khoa học, một nhà giáo. Thật vậy, là một người
sẽ đứng vai trò truyền đạt kiến thức cho sinh viên, những thế hệ tương lai của đất nước
mà người giảng viên lại thiếu đi năng lực nghiên cứu, năng lực truyền đạt thông tin

và ngoài nước. Hiện ở Việt Nam đã có các nhà giáo, các giảng viên có đủ khả năng
trong công tác nghiên cứu và giảng dạy để phục vụ cho lợi ích „trồng người‟. Đây là
15

những người giảng viên thật sự đáng quý và cần thiết cho nền giáo dục cũng như sự
phát triển của nước ta.
Tuy nhiên, cũng như phần trước, hiện nay, dưới áp lực của nền kinh tế thị
trường, sự chi phối của yếu tố vật chất khách quan và chủ quan đã dẫn đến việc hình
thành nên quan niệm coi trọng năng lực hơn phẩm chất của một số giảng viên. Những
giảng viên này nhấn mạnh tầm quan trọng của năng lực hơn là phẩm chất, họ coi năng
lực là yếu tố tiên quyết để tạo nên một người thầy mà bỏ qua yếu tố về phẩm chất.
Quan niệm này đã dẫn đến những sai lầm trong tư duy và tạo ra một thế hệ giảng viên
thiếu đi phẩm chất cốt cách của bậc làm nhà giáo.
Những nhà giáo có năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm nhưng không nhiệt
tình, không tự giác, không say mê với nghề. Họ có thể làm tốt tùy hoàn cảnh không
thường xuyên. Số đông nhà giáo mắc bệnh nghề nghiệp: có thành tích trong giảng dạy,
nghiên cứu nên luôn cho mình là đúng coi thường những đóng góp của đồng nghiệp,
khó chịu với những thắc mắc của học sinh. Luôn nói nhiều, không chịu lắng nghe, luôn
đổ lỗi cho học sinh, cho cha mẹ học sinh và nhà trường, đồng nghiệp, còn bản thân
luôn cho là hoàn hảo.
Ngoài việc coi nhẹ thái độ ứng xử với sinh viên. Vài người trong số họ còn đặt ra
vấn đề về „vật chất‟, không giữ đúng tư cách người thầy. Từ đó nảy sinh ra bệnh „vòi
tiền‟ sinh viên, bệnh „mua bán điểm số‟ .v.v… Đây chính là điều nguy hại nhất. Các
hành động đó sẽ khiến cho sinh viên và xã hội dần mất niềm tin vào người giảng viên,
mất niềm tin vào người thầy và nền giáo dục Việt Nam. Hậu quả xa hơn nó sẽ gián tiếp
gây ra hiện tượng „chảy máu chất xám‟ cũng vì nguyên nhân mất đi lòng tin vào nền
giáo dục mà những người giảng viên là người trực tiếp tạo ra điều này.
Cho nên dù có năng lực về nghiên cứu và giảng dạy nhưng nếu giảng viên thiếu đi
phẩm chất, đạo đức thì người giảng viên đó sẽ thiếu đi tư cách tối thiểu nhất của một
người thầy. Và trước cuộc sống bộn bề những áp lực nhất là về vật chất thì người giảng

nhà giáo là tình yêu quê hương, đất nước, tình yêu thương con người, tôn trọng lẻ phải,
có tâm hồn trong sáng, thích sự công bằng và đặt biệt là luôn gắn bó và tâm huyết với
nghề nghiệp.
Bản thân giảng viên khi đã chọn nghề giáo là phải tự nhận thức được các khó
khăn do nghề nghiệp này đem lại. Và có lẽ những ai chọn con đường giảng viên đa
phần vì mục đích yêu nghề. Vì thế tự bản thân mỗi giảng viên phải biết gìn giữ tình
yêu nghề nghiệp của chính mình, yêu nghề tức là yêu trường, yêu lớp, yêu sinh viên
không những trên giảng đường mà còn ngoài đời thường để ta có thể hiểu hơn về chính
sinh viên của mình.
Giảng viên không chỉ rèn luyện phẩm chất cho riêng mình mà cũng cần phải
cương quyết đấu tranh loại trừ những biểu hiện chạy theo thành tích, xúc phạm đến
nhân cách và thân thể sinh viên, hoặc các hành vi cố kiếm tiền bằng mọi hình thức, tự
đánh mất mình, làm ảnh hưởng chung đến uy tín của nghề giáo, mất lòng tin của xã
hội.
Phẩm chất của con người không phải ngày một ngày hai mà có, nó phải trải qua
quá trình hình thành lâu dài. Và để có được phẩm chất của một nhà sư phạm, người
giảng viên cần đổi mới cách nhìn nhận đối với sinh viên, sinh viên là người học nhưng
cũng là người mang lại kinh nghiệm và hướng sáng tạo mới cho giảng viên. Sinh viên
là đội ngũ trẻ, có sức sống, sức sáng tạo mãnh liệt - những năng lực dồi dào này giúp
họ có khả năng tốt nhất trong tiếp thu và nhìn nhận hình ảnh của người thầy Thay đổi
từ cách nhìn nhận với sinh viên là để người giảng viên đứng trên một khía cạnh khác
nhìn vào quá trình giảng dạy. Sinh viên giao tiếp với giảng viên để học tốt hơn, tiếp thu
kiến thức nhạy và nhiều hơn, giảng viên giao tiếp để truyền thông tin tốt hơn, sinh
viên dễ hiểu, dễ nắm bài hơn.
Dù biết rằng việc rèn luyện phẩm chất là việc cần thiết của tự bản thân mỗi giảng
viên nhưng những chủ thể bên ngoài như nhà trường và nhà nước cần có chế độ quan
18

tâm dành cho giảng viên, nhất là việc nâng cao thu nhập để giảng viên không còn phải
lo nghĩ về cuộc sống mà tập trung cho sự nghiệp giáo dục, từ đó các vấn nạn liên quan

sát, học hỏi kinh nghiệm từ các bậc thế hệ giảng viên đi trước. Giảng viên phải tự đầu
tư, cập nhật kiến thức mới cũng như là nghiệp vụ sư phạm phù hợp để kiến thức có thể
đến với sinh viên nhanh nhất. Phương pháp dạy cần được thay đổi, từ chỗ lấy người
dạy là trung tâm sang lấy người học làm trung tâm của quá trình dạy - học. Phương
pháp này đòi hỏi giảng viên không chỉ có kiến thức trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt về
lĩnh vực mình đảm trách mà còn phải có phương pháp tổ chức việc học cho sinh viên.
Người giảng viên phải trở thành người đạo diễn, kích thích hoạt động cho học viên, là
“trọng tài khoa học” kết luận vấn đề do sinh viên trình bày. Phải hướng dẫn cho sinh
cách tự học, tự tìm kiếm kiến thức bằng suy nghĩ, hành động. Dưới sự tổ chức, hướng
dẫn của giảng viên thì học viên sẽ tự tìm cách chiếm lĩnh tri thức khoa học, tự giác rèn
luyện, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo. Qua phương pháp này, sinh
viên không chỉ tiếp thu tri thức với chất lượng và hiệu quả cao mà còn trau dồi được
cách phát hiện vấn đề, giải quyết vấn đề, phương pháp khám phá chân lý… và đó chính
là cơ sở để trau dồi, phát huy tính chủ động, sáng tạo trong công tác của sinh viên sau
này.
Giảng viên là người nói còn sinh viên là người nghe, đây là một quan niệm đã cũ
và không còn phù hợp vào hiện tại. Một giảng viên cần phải lắng nghe phản hồi của
chính sinh viên để có thể cải thiện được năng lực giảng dạy cũng như là năng lực
nghiên cứu của bản thân. Vì thế người giảng viên nên tạo điều kiện cho sinh viên đóng
góp ý kiến về cách dạy của giảng viên, thứ nhất là để người học cảm thấy được tôn
trọng, được đưa ra ý kiến, cách suy nghĩ của mình về người giảng viên. Thứ hai, giảng
viên có được những cách nhìn nhận đánh giá của sinh viên, thông qua đó phân tích
20

xem cách giảng dạy của mình có phù hợp chưa, sinh viên đóng góp ý kiến như vậy có
chính xác với những gì mình mong muốn thể hiện ở lớp học chưa?
Ngoài bản thân giảng viên tự nỗ lực nâng cao năng lực của chính mình, nhà
trường và nhà nước cũng nên tạo điều kiện vật chất và tinh thần tối đa nhất để hỗ trợ
người giảng viên trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy. Sự hỗ trợ đó có thể bao gồm
việc cung cấp kinh phí trong công tác nghiên cứu, giảng dạy ; nâng cao lương bổng cho


22

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Thị Phương Nam – Hoàng Văn Lợi (2012). Thực trạng và giải pháp nâng cao
năng lực đội ngũ giảng viên đại học giai đoạn 2010-2015. Viện nghiên cứu Lập
pháp.
2. Nguyễn Thạc (cb) (2007). Tâm lí học Sư phạm Đại học. NXB Đại học Sư phạm
TP.HCM.
3. Thanh Chiến (2011). Quan niệm về người thầy trong xã hội hiện đại. Báo Đồng
Khởi.
4. La Giang (2013). Định hướng nhân cách cho sinh viên: Nhà trường thôi chưa đủ.
Báo Giáo dục Thời đại. />nhan-cach-cho-sinh-vien-nha-truong-thoi-chua-du-1973920/
5. Vũ Minh Giang (2006). Đổi mới giáo dục đại học bắt đầu từ giảng viên. Trường
Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
/>=492&Itemid=359
6. Hoàng Long. Suy nghĩ về người thầy tốt. Trường Đại học Cảnh sát Nhân dân.
562
7. Đan Phượng (2012). Giảng viên đại học vừa mỏng, vừa yếu. Báo Tin Tức.
/>20120626091153534.htm
8. Minh Tư (2013). Phẩm chất người thầy. Báo Giáo dục Thời đại.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status