Những biện pháp tích cực hoá hoạt động của HS trong giờ học Ngữ văn ở trường THCS - Pdf 16

Th viÖn SKKN cña Quang HiÖu http://quanghieu030778.violet.vn/
PHẦN ĐẶT VẤN ĐỀ
  
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1- Cơ sở lí luận :
Môn Ngữ văn trước hết là môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, điều đó nói nên
tầm quan trọng của nó trong việc giáo dục quan diểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh.
Nói như nhà văn hào Nga Macximgorki : "Học văn là học làm người". Học tốt môn ngữ
văn sẽ giúp học sinh rất nhiều trong giao tiếp với đời sống xã hội, gia đình và bè bạn.
Tư tưởng và cũng là mục đích của hoạt động đổi mới phương pháp dạy học môn
Ngữ văn cũng như các môn khác trong nhà trường phổ thông hiện nay là tích cực hoá
hoạt động học tập của học sinh trong giờ học. Với ý nghĩa người học tự giác chủ động
trong lĩnh vực học và vận dụng kiến thức, kĩ năng, tạo điều kiện cho tất cả các đối tượng
học sinh đều được suy nghĩ, tìm tòi, khám phá. Học sinh được coi là những đối tượng
vốn có sẵn những tiềm năng mà giáo viên có nhiệm vụ đánh thức, tạo điều kiện để
những tiềm năng đó được phát triển tối đa, đặc biệt là tiềm năng sáng tạo .
Phát huy tính tích cực học tập của học sinh không phải là vấn đề mới có mà nó đã
được đặt ra trong ngành giáo dục nước ta từ những năm 60 của thế kỷ XX và đã được
xác định là một trong các phương hướng của cuộc cải cách giáo dục từ năm 1980.
Đến nghị quyết TƯ4 khoá VII đã xác định phải: '' khuyến khích tự học '' phải áp
dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy
sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề.
Nghị quyết TƯ2 khoá VIII tiếp tục khẳng định: " Phải đổi mới phương pháp giáo
dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành một nếp tư duy sáng
tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến hiện đại vào quá trình
dạy học bảo đảm điều kiện và thời gian tự học tự nghiên cứu cho học sinh .
Như vậy, định hướng đổi mới PPDH đã được khẳng định, không còn là vấn đề
tranh luận. Cốt lõi của việc đổi mới PPDH ở trường THCS là giúp HS hướng tới việc
học tập chủ động , chống lại thói quen thụ động.
Cùng với định hướng đổi mới đã được xác định thì Bộ giáo dục đã nghiên cứu
SGK cho phù hợp. Việc thay đổi chương trình SGK gần 4 năm học vừa qua nhằm để đạt

- Học sinh khao khát, tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi của GV, bổ sung các
câu trả lời của bạn, thích được phát biểu ý kiến của mình về vấn đề được nêu ra .
- HS hay thắc mắc đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề GV trình bày chưa rõ.
-HS chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kỹ năng đã học để nhận thức
các vấn đề mới.
-Học sinh muốn được đóng góp với thầy, với bạn những thông tin lấy từ các
nguồn khác nhau, có khi vượt ra ngoài phạm vi môn học bài học.
Ngoài các biểu hiện trên, giáo viên còn nhận thấy những biê4ủ hiện về cảm xúc
khó nhận thấy hơn. Với một bài học, các em tích cực, hứng thú, ngạc nhiên, hoan hỉ
còn nếu các em chưa tích cực học tập sẽ biểu hiện buồn chán, thờ ơ, phớt lờ.
* Tính tích cực học tập của học sinh còn thể hiện qua lí trí:
+ HS tập trung vào vấn đề đang học, không lơ là, không có những việc làm khác.
+ Kiên trì làm cho xong các bài tập.
+ Không nản lòng trước các tình huống khó khăn.
+ Thái độ phản ứng khi trống báo hết tiết học: Còn nuối tiếc, cố làm cho xong.
Chương II: Thực hiện đổi mới PPDH theo hướng
tích cực để phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ học Ngữ văn.
Qua thực tiễn tôi nhận thấy rằng mối quan hệ giưa cách dạy và cách học trong
việc phát huy tính tích cực của học sinh là rất quan trọng. rõ ràng cách dạy chỉ đạo cách
học nhưng ngược lại, thói quen học tập có ảnh hưởng đến các dạy của thầy. HS tích cực
học tập đòi hỏi người giáo viên có cách dạy tích cực và ngược lại.
Do đó trong quá trình dạy trên lớp người GV văn cần áp dụng PPDH truyền thống
có kế thừa, phát triển những mặt tích cực. Nhưng nếu chỉ giới hạn trong những thói quen
cũ sẽ không đáp ứng được yêu cầu đổi mới PPDH theo hướng tích cực hoá hoạt động
của HS.
Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy trong giờ dạy học Ngữ văn giáo viên có thể
vận dụng một số phương pháp như sau:
(1) Dạy học đặt và giải quyết vấn đề:
- Đây không phải là vấn đề mới nhưng điều đáng chú ý là viêc tập dượt cho học
sinh phát hiện và giải quyết vấn đề không chỉ thuộc phạm trù PPDH mà trở thành một

trong nhóm nhỏ.
Lớp học chia thành những nhóm từ 4 - 6 em, nhóm tự bầu nhóm trưởng. Trong
nhóm phân công mỗi thành viên hoàn thành một phần việc. Làm như vậy khi được giao
nhiệm ụ mỗi thành viên đều làm việc rất tích cực, không ỷ lại vao vài em học khá. Các
thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiểu vấn đề trong không khí thi đua với nhóm
khác. Kết thúc nhóm trưởng rình bày kết quả của mình trước lớp.
* Ví dụ : Dạy tiết Tiếng Việt bài " Chữa lỗi về quan hệ từ ".
(Ngữ văn 7 tập I )
Bài có 4 nội dung chia thành 4 nhóm:
* Nhóm 1: Tìm ra chỗ dùng thiếu quan hệ từ và sửa lại cho đúng ( Thông qua ví
dụ SGK )
* Nhóm 2: Tìm ra lỗi dùng quan hệ từ không thích hợp và sửa lại ( qua ví dụ
SGK).
* Nhóm 3: Tìm ra lỗi dùng thừa quan hệ từ và sửa lại ( qua ví dụ SGK).
*Nhóm 4: Sửa lỗi dùng quan hệ từ không có tác dụng liên kết:
- Sau khi đã giao nhiệm vụ cho các nhóm, để cho học sinh trong nhóm tự trao đổi. Cuôí
cùng giáo viên giảng bài, đó trên cơ sở các nhóm đã thảo luận và trình bày ý kiến của
nhóm mình.
Thực hiện theo phương pháp giảng này tôi thấy vai trò của người giáo viên thực
sự là người định hướng, người thiết kế, tổ chức các hoạt động còn học sinh thực sự là
đối tượng tìm tòi khám phá nội dung bài học. Qua việc thảo luận trong nhóm thì tính
cách, năng lực của cá nhân được hể hiện rất rõ, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức kỷ luật
tinh thần tương trợ và ý thức tổ chức cộng đồng. bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn
nhau chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động.
Sau khi vận dụng PPDH này tôi rất phấn khởi bởi học sinh trong lớp hoạt động
tích cực, sôi nổi và năm chắc kiến thức của bài học.
* Chú ý: Không phải lúc nào bài nào cũng nên sử dụng hình thức dạy học theo
nhóm mà từng bài học cần ứng dụng ninh hoạt vào bài dạy để làm sao đạt đích là: Hiệu
quả học tập của học sinh đạt đỉnh cao .
(3) Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của học sinh nhất là là hoạt

đã khơi dậy lòng ham học tiềm năng vốn có trong HS, giúp học sinh chuyển từ học tập
thụ động sang tự học chủ động. GV hướng đẫn học sinh phương pháp tự học rèn luyện
phương pháp đó kết quả học tập sẽ tăng lên. Trong thực tế cho thấy việc tự học của HS
rất quan trọng. nếu các em không có ý thức tự học GV không rèn luyện ý thức tự học
cho HS thì kiến thức các em có được chỉ bó gọn trong bài giảng của thầy cô, các em
không phát huy được tính tích cực của mình.
Vì thế trong khi dạy trên lớp, GV cần luôn rèn luyện cho HS phương pháp tự học:
Ví dụ: Khi dạy văn bản " Ca dao về tình yêu quê hương đất nước"
(Ngữ văn 7 - tập I )
Rèn luyện cho HS tự học bằng cách:
+ Trước khi học bài, các em phải chuẩn bị bài ở nhà(đọc , soạn )
+Khi kết thúc bài đưa cho HS câu hỏi để HS tự học, chẳng hạn:
? sưu tầm những câu ca dao cũng có nội dung nói về chủ đề quê hương đất nước.
? Tìm những câu ca dao cũng bắt đầu bằng cụm từ " Thân em ".
(5) Dạy học kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò.
- Đánh giá của thầy:
Trong học tập, việc đánh giá HS không nhằm mục đích nhận thức thực trạng điều
chỉnh hoạt động của trò mà đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều trỉnh
hoạt động dạy của thầy ngoài cách đánh giá học sinh bằng hình thức kiểm tra quen
thuộc. Chúng ta nên kiểm tra đánh giá HS qua hình thức trắc nhiệm cách này thường cho
kết quả cao mà đồng thời kích thích HS hứng thú vào học tập.
Có thể sử dụng một số loại trắc nghiệm sau:
+ Trắc nghiệm đúng/ sai.
+ Trắc nghiệm điền khuyết.
+ Trắc nghiệm đối chiếu cặp đôi ( Nối A với B ).
+ Trắc nghiệm nhiều câu trả lời ngắn.
+ Trắc nghiệm nhiều lưa chọn.
Khi sử dụng hình thức kiểm tra trắc nghiệm cấn linh hoạt: Có thể dùng ngay khi
kiểm tra bài cũ hoặc dùng trong bài học. Qua phần trả lời của HS sẽ giúp GV điều
chỉnh cách dạy cho mình để làm sao HS hiểu bài tốt nhất.

+ Câu hỏi phân tích tổng hợp.
+ Câu hỏi nêu vấn đề.
+ Câu hỏi tình huống.
(+)Đối với học sinh yếu kém:
Vì nhận thức của các em có hạn nhưng không hẳn các em tiếp thu chậm mà GV
bỏ qua các em chỉ hướng vào HS khá giỏi, như vậy sẽ chưa phát huy tính tích cực của
các học sinh trong lớp.
Với đối tượng này sử dụng loại câu hỏi như:
+ Câu hỏi phát hiện.
+ Câu hỏi gợi mở.
Những loại câu hỏi này sẽ phù hợp với học sinh, từ đó sẽ phát huy được hứng thú học
tập cho tât cả HS.
(7) Sử dụng dồ dùng dạy học phát huy tính tích cực học tập cho HS trong
dạy học cũng cần áp dụng hình thức sử dụng đồ dùng dạy học.
Đồ dùng có thể là:
+ Tranh minh hoạ: Sử dụng tranh minh hoạ vào trong giờ học giúp học sinh tiếp
thu bài học rất tốt, nó kích thích hứng thú học tập cho các em trong lớp, HS cảm thấy
giờ học hào hứng hơn từ đó dẫn tới việc hiểu bài sâu hơn.
* Ví dụ: Khi dạy ca dao về tình yêu quê hương đất nước có bài .
"Rủ nhau xem cảnh kiểm hồ
Xem cầu thê húc xem đền ngọc sơn
Đài nghiêm tháp bút chưa mòn
Hỏi ai gây dựng nên non nước này? "
GV có thể sử dụng một bức tranh minh hoạ cảnh hồ gươm cho HS quan sát Qua đó
các em suy nghĩ về cảnh đẹp nơi đây.
+ Bảng phụ: đây là đồ dùng có thể sử dụng hầu hết trong các giờ học, nhất là giờ
học và làm văn.
Hình thức này sẽ giúp cho các em hiểu bài nhanh và GV không mất nhiều thời gian để
viết ví dụ hay bài tập trên lớp .
Sử dụng đồ dùng bảng phụ đã phát huy tính tích cực , tạo điều kiện cho HS đều chú ý

? Dựa vào hiểu biết của em hãy cho biết những câu cô vừa hát- đọc là ca dao hay dân ca
?
? Em hiểu thế nào là ca dao, dân ca ?
? Ca dao, dân ca khác nhau như thế nào ?
( xem chú thích SGK)
II. Đọc - Hiểu văn bản
Hoạt động của thầy Hoạt động của trò Ghi bảng
- GV hướng dẫn cách đọc - HS đọc-HS khác nhận 1/ Đọc
- GV đọc lai bài
? Theo em tại sao 4 bài ca
dao dân ca khác nhau lại
có thể hợp thành 1 văn
bản ?
- Trong chủ đề chung mỗi
bài có nội dung tình cảm
riêng:
. Nỗi nhớ mẹ nơi quê nhà
. Nỗi nhớ, yêu kính ông

. Ơn nghĩa, công lao cha
mẹ
. Tình anh em ruột thịt
? Những bài ca dao nào
ứng với nội dung đó ?
? Có gì giống nhau trong
hình thức diễn đạt của 4
bài ca dao ?
? Theo em bài ca 1 là lời
của ai nói với ai ? về việc
gì ?

-công lao cha mẹ nuôi con
vất vả nhiều bề
- đặt công lao cha mẹ
ngang tầm vẻ cao rộng
vĩnh cửu của thiên nhiên
-(HS tự bộc lộ)
-(HS tự tìm)
- Tâm trạng của người
con gái lấy chồng xa nhớ
về quê mẹ
- Thời gian chiều chiều
-cuối ngày
2/ Phân tích :
Bài 1
- Lời mẹ ru con
+) Khẳng định công lao to
lớn của cha mẹ đối với
con cái
Bài 2 :
+ chiều chiều
gian nào ? Nó có đặc
điểm gì ?
? Nỗi nhớ mẹ, nhớ quê
được nói tới qua cụm từ
nào ?
? Cảm nhận về lời ca? Bài
ca ?
? theo em, ý kiến : bài ca
dao còn là tâm trạng của
tất cả người con xa quê có

nơi vắng người qua lại
-ruột đau chín chiều
- (Hs tự bộc lộ)
- (Hs tự bộc lộ)
- (Hs tự bộc lộ)
-Lời con cháu nói với ông
bà về nỗi nhớ ông bà
- gợi công lao của ông bà,
- gợi mái nhà ấm cúng
- gợi tình cảm bền chặt
- thể hiện t/c' tôn kính của
cháu với ông bà
Lời nói có thể là của cha
mẹ, chú bác nói với on
cháu về tình cảm anh em
trong gia đình .
(HS nêu)
Quan hệ ruột thịt, cùng
cha mẹ sinh ra .
( HS tìm - Nêu)
(HS tự bộc lộ )
(HS tự bộc lộ )
+ ngõ sau
+ ruột đau chín chiều
+) Diễn tả nỗi nhớ cha mẹ
, nhớ nhà da diết
Bài 3 :
+ Lời con cháu nói với
ông bà
+) Nỗi nhớ thương và tình

Hình ảnh so sánh , ẩn dụ
mộc mạc gần gũi , dễ
hiểu.
III. Luyện tập:
1/ Bước đầu em hiểu như thế nào về câu ca dao, dân ca ?
Em có thể kể thêm một số bài ca dao khác ngoài bài đọc thêm.
( HS tự bộc lộ)
2/ Trong cuộc sống gia đình em có bao giờ vi phạm tình cảm gia đình trái với lời
khuyên của 4 bài ca dao không.
( HS tự bộc lộ)
3/ Ca dao về tình cảm gia đình thường dùng để hát ru. Em hãy hát một lời mà em thích.
(GV hát một bài ca dao minh hoạ)
4/ Bài tập trắc nghiệm.
Bài ca dao : " Công cha như núi ngất trời " là lời của ai ? nói với ai khoanh tròn
chữ cái đầu ý trả lời đúng:
A. Lời của người con nói với cha mẹ
B. Lời của ông nói với cháu
C. lời của mẹ nói với con
D. lời của cha nói với con
5/ Phiếu học tập:
Tìm trong ca dao những câu có cặp so sánh" bao nhiêu bấy nhiêu"
( HS làm theo nhóm)
* Hướng dẫn về nhà
- Học thuộc bài, nắm nội dung, nghệ thuật
- Soạn bài: những câu hát về tình yêu quê hương đất nước.
- Tìm những bài ca dao nói về tình cảm gia đình.
( Chép vào sổ tay văn học).
PHẦN KẾT LUẬN
Một trong những vấn đề đổi mới PPDH là phát huy tính tích cực học tập của HS tạo điều
kiện cho các em đều được suy nghĩ, tìm tòi, khám phá là vấn đề cần thiết trong sự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status