LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự gia tăng xu hướng quốc tế hoásản xuất và đời sống của thời
đại phát triển của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, công nghiệp. Du lịch đã,
đang và sẽ trở thành một hiện tượng xã hội, một nhu cầu không thể thiếu của
nhân loại. Du lịch đã trở thành một nghành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia
và đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển của kinh tế thế giới.
Từ năm 1990 đến nay, du lịch Việt Nam đã phát triển nhanh với tốc độ
tăng trưởng hàng năm từ 30% đến 40%.
Lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam ngày càng tăng nhanh đã dẫn
đến hệ thống kinh doanh du lịch cũng phát triển mạnh mẽ nhằm cung cấp sản
phẩm dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của du lịch và mang lại nguồn doanh thu
lớn cho ngân sách nhà nước.
Trong bối cảnh ngành du lịch thế giới nói chung và ngành du lịch Việt
Nam nói riêng đang đối mặt với nhiều thử thách như ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng tiền tệ khu vực, các cuộc khủng bố của Mỹ, dịch SARC và hiện nay là
dịch cúm gia cầm,Trước tình hình đó, các ngành các cấp và đặc biệt là ngành du
lịch đã có những chủ trương, biện pháp nhằm ngăn chặn các hiểm hoạ và đưa du
lịch nước ta đứng vững.
Công ty du lịch Cổ phần Thanh Hoá cũng không nằm ngoài tình hình
chung đó. Toàn công ty đang từng bước tự hoàn thiện và đứng vững trong cuộc
cạnh tranh xứng đáng là công ty du lịch có uy tín trong ngành kinh doanh lữ
hành.
Mục tiêu của công ty là nâng cao chất lượng phục vụ đồng thời thực hiện
các công tác quảng bá những tour du lịch trong và ngoài nước. Hiện nay công ty
đang tập trung vào việc khai thác thị trường khách du lịch nội địa, doanh thu từ
hoạt động lữ hành nội địa chiếm khoảng 70% tổng doanh thu của hoạt động kinh
doanh lữ hành .Tuy nhiên, các chính sách nhằm phát triển thị trường này còn
1
nhiều bất cập, hạn chế. Vậy đây là lí do giải thích cho việc lựa chọn chuyên đề: “
Một số giải pháp nhằm khai thác thị trường khách du lịch nội địa của Chi
nhánh công ty du lịch cổ phần Thanh Hoá tại Hà Nội” – 180 Phố Vọng, Hà
trình du lịch. Ở Việt Nam, doanh nghiệp lữ hành được định nghĩa: “ doanh
nghiệp lữ hành là đon vị có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập, được thành lập
nhằm mục đích sinh lợi bằng việc giao dịch, kí kết các hợp đồng du lịch và tổ
chức thực hiện các chương trình du lịch đã bán cho khách du lịch” (Thông tư
hướng dẫn thực hiện Nghị định 09/CP của Chính phủ về tổ chức và quản lý các
doanh nghiệp du lịch TCDL-số 715/TCDL ngày 9/7/1994)
1.1.2 Phân loại công ty lữ hành
Có nhiều cách phân loại các công ty lữ hành. Mỗi một quốc gia có một cách
phân loại phù hợp với điều kiện thực tế của hoạt động du lịch .Các tiêu thức
thông thường dùng để phân loại bao gồm:
- Sản phẩm chủ yếu của công ty lữ hành : dịch vụ trung gian, du lịch trọn
gói…
- Phạm vi hoạt động của công ty lữ hành .
3
- Qui mô và phương thức hoạt động của công ty lữ hành.
- Quan hệ của công ty lữ hành với khách du lịch .
- Qui định của cơ quan quản lí du lịch.
Tại Việt Nam các công ty lữ hành được chia thành hai loại cơ bản là doanh
nghiệp lữ hành quốc tế và doanh nghiệp lữ hành nội địa theo qui định của Tổng
cục Du lịch Việt Nam trên cơ sở phạm vi hoạt động của doanh nghiệp. Các quy
định này nhằm đảm bảo cho các doanh nghiệp lữ hành quốc tế phải có đủ các
điều kiện cần thiết như kinh nghiệm ( phải trải qua ít nhất hai năm kinh doanh lữ
hành nội địa ), uy tín, tài chính, đội ngũ nhân viên…Từ đó hạn chế được những
hậu quả bất lợi cho doanh nghiệp nói riêng và du lịch Việt Nam nói chung.
Trên thị trường du lịch quốc tế. Nhật bản cũng có cách phân loại tương tự
như ở Việt Nam, phân chia các công ty lữ hành ra làm 3 loại cơ bản: công ty lữ
hành tổng hợp ( tương đương với công ty lữ hành quốc tế ), công ty lữ hành nội
địa và các công ty lữ hành trực thuộc là đại diện hoặc Chi nhánh của các công ty
lữ hành khác.
Hiện nay cách phân loại chủ yếu đối với công ty lữ hành được áp dụng hầu
Các công ty
lữ hành
nội địa
Cỏc i lý du lch l nhng cụng ty l hnh m hot ng ch yu ca chỳng
l lm trung gian bỏn sn phm ca cỏc nh cung cp dch v v hng hoỏ du
lch. Cỏc i lớ du lch bỏn vộ mỏy bay ( chim phn ln doanh s ), bỏn cỏc
chng trỡnh du lch, ng kớ ch trong khỏch sn, bỏn vộ xe la, tu thu, mụi
gii thuờ xe ụ tụ. õy l h thng phõn phi cỏc sn phm du lch , m cỏc i lớ
du lch cao vai trũ gn ging nh cỏc ca hng du lch.Ti cỏc nc phỏt trin
bỡnh quõn c 15000 20000 dõn cú mt i lớ du lch, m bo thun tin ti
mc ti a cho khỏch du lch .
Cỏc i lớ du lch bỏn buụn thng l cỏc cụng ty l hnh ln, cú h thng
cỏc i lớ bỏn l, im bỏn. Con s ny cú th lờn ti hng trm, v doanh s ca
cỏc i lớ du lch bỏn buụn ln trờn th gii lờn ti hng t USD.
Cỏc i lớ du lch bỏn buụn mua cỏc sn phm ca cỏc nh cung cp vi s
lng ln cú mc gi r, sau ú tiờu th qua h thng bỏn l vi mc giỏ cụng
5
bố, phổ biến trên thị trường. Các đại lí bán lẻ có thể là những đại lí độc lập, đại lí
độc quyền hoặc tham gia vào các chuỗi của các đại lí bán buôn. Các điểm bán
độc lập thường do các công ty hàng không, tập đoàn khách sạn đứng ra tổ chức
và bảo lãnh cho hoạt động.
Các công ty lữ hành ( tại Việt Nam còn gọi là các công ty Du lịch ) là những
công ty kinh doanh chủ yếu trong lĩnh vực du lịch trọn gói và khách sạn du lịch
tổng hợp . Các công ty lữ hành gửi khách trường được tổ chức ( thành lập ) tại
các nguồn khách lớn, nhằm thu hút trực tiếp khách du lịch , đưa họ đến các điểm
du lịch nổi tiếng. Các công ty lữ hành nhận khách được thành lập gần các vùng
tài nguyên du lịch và tiến hành phục vụ khách du lịch do các công ty du lịch gửi
khách gửi tới.
Sự phối hợp giữa các công ty du lịch gửi khách và nhận khách là xu thế phổ
Chúng ta có thể phác hoạ vai trò của công ty lữ hành trong sơ đồ 2:
7
Kinh doanh lưu trú, ăn uống
(khách sạn, cửa hàng...)
Kinh doanh vận chuyển
( hàng không, ôtô...)
Tài nguyên du lịch
(thiên nhiên, nhân tạo...)
Các cơ quan du lịch
vùng, quốc gia
Các công
ty lữ hành
du lịch
Khách
du lịchSơ đồ 2:Vai trò của các công ty lữ hành du lịch
trong mối quan hệ cung - cầu du lịch
Khi s dng dch v ca cỏc cụng ty l hnh, khỏch du lch thu c cỏc li
ớch sau õy:
+ Khi mua cỏc chng trỡnh du lch trn gúi, khỏch du lch ó tit kim c
c thi gian v chi phớ cho vic tỡm kim thụng tin, t chc sp xp b trớ cho
chuyn du lch ca h.
+ Khỏch du lch s c tha hng nhng tri thc v kinh nghim ca cỏc
chuyờn gia t chc du lch ti cỏc cụng ty l hnh, cỏc chng trỡnh va phong
phỳ, hp dn va to iu kin cho khỏch du lch thng thc mt cỏch khoa
hc nht.
+ Mt li th khỏc l mc giỏ thỏp ca cỏc chng trỡnh du lch. Cỏc cụng ty
l hnh cú kh nng gim giỏ thp hn rt nhiu so vi mc giỏ cụng b ca cỏc
Cỏc cụng ty l hnh du lch cú quy mụ trung bỡnh phự hp vi iu kin Vit
Nam cú c cu t chc c th hin trong s 3.
S 3: C cu t chc ca cụng ty du lch l hnh.
HộI ĐồNG QUảN TRị
Giám đốc
Các bộ
phận tổng
hợp
Các bộ
phận
nghiệp vụ
du lịch
Các bộ
phận hỗ trợ
và phát triển
Tài
chính
kế
toán
Tổ
chức
hành
chính
Thị
trường
marke
hay một điểm bán sản phẩm của các nhà sản xuất du lịch. Các dịch vụ trung gian
chủ yếu bao gồm:
- Đăng ký đặt chỗ và bán vé máy bay.
- Đăng ký đặt chỗ và bán vé trên các loại phương tiện khác: tàu thuỷ,
đường sắt, ô tô,…
- Môi giới cho thuê xe ô tô.
- Môi giới và bán bảo hiểm.
- Đăng ký đặt chỗ và bán các chương trình du lịch.
1.1.5.2. Các chương trình du lịch trọn gói.
Định nghĩa chương trình du lịch: Hiện nay các ấn phẩm khoa học về du lịch
chưa có định nghĩa thống nhất về chương trình du lịch. Có thể nêu ra các định
nghĩa tiêu biểu sau đây:
Chương trình du lịch là các dịch vụ trong lộ trình du lịch, thông thường gồm
dịch vụ vận chuyển, nơi ăn ở, di chuyển và tham quan ở một hoặc nhiều hơn các
quốc gia, vùng lãnh thổ hay thành phố. Sự phục vụ này phải được đăng ký đầy
đủ hoặc hợp đồng trước với một doanh nghiệp lữ hành và khách du lịch phải
thanh toán đầy đủ trước khi các dịch vụ được thực hiện. (Tác giả David Wright
trong cuốn tư vấn nghề nghiệp lữ hành )
“Chương trình du lịch là một sản phẩm lữ hành được xác định giá trước,
khách có thể mua riêng lẻ hoặc mua theo nhóm và có thể tiêu dùng riêng lẻ hoặc
tiêu dùng chung với nhau. Một chương chương trình du lịch có thể bao gồm và
theo các mức độ chất lượng khác nhau của bất kỳ hoặc tất cả các dịch vụ vận
chuyển, hàng không, đường bộ, đường sắt , đường thuỷ, nơi ăn ở, tham quan và
vui chơi giải trí” (Theo tác giả Gagnon và Ociepka trong cuốn “Phát triển nghề
lữ hành ” ).
11
Chương trình du lịch là lịch trình được định trước của chuyến đi du lịch do
các doanh nghiệp lữ hành tổ chức, trong đó xác định thời gian của chuyến đi, nơi
đến du lịch, các điểm dừng chân, dịch vụ lưu trú, vận chuyển, các dịch vụ khách
và giá bán chương trình”.(Theo nghị định số 27/2001/NĐ-CP về kinh doanh lữ
du lịch. Các công ty lữ hành liên kết các sản phẩm của các nhà sản xuất riêng lẻ
thành một sản phẩm hoàn chỉnh và bán cho khách du lịch với một mức giá gộp.
Có nhiều tiêu thức để phân loại chương trình du lịch. Ví dụ như các chương trình
du lịch nội địa và quốc tế, và các chương trình du lịch dài ngày, ngắn ngày, các
chương trình tham quan văn hoá và các chương trình vui chơi giải trí. Khi tổ
chức các chương trình du lịch trọn gói, các công ty lữ hành có trách nhiệm đối
với khách du lịch cũng như các nhà sản xuất ở một mức độ cao hơn nhiều so với
các hoạt động trung gian.
1.1.5.3.Các hoạt động kinh doanh lữ hành tổng hợp.
Trong quá trình phát triển, các công ty lữ hành có thể mở rộng phạm vi hoạt
động của mình, trở thành những người sản xuất trực tiếp ra các sản phẩm du
lịch . Vì lẽ đó các công ty lữ hành lớn trên thế giới hoạt động trong hầu hết các
lĩnh vực có liên quan đến du lịch.
- Kinh doanh khách sạn, nhà hàng.
- Kinh doanh các dịch vụ chơi giải trí.
- Kinh doanh vận chuyển du lịch: hàng không, đường thuỷ…
- Các dịch vụ ngân hàng phục vụ khách du lịch.
Các dịch vụ này thường là kết quả của sự hợp tác, liên kết trong du lịch.
Trong tương lai, hoạt động lữ hành du lịch càng phát triển, hệ thống sản
phẩm của các công ty lữ hành sẽ càng phong phú.
1.2. Thị trường của công ty lữ hành
13
1.2.1.Khái niệm về khách du lịch và thị trường khách du lịch nội địa.
1.2.1.1. Khái niệm về khách du lịch.
- Nhà kinh tế học người Anh, Ogilvie cho rằng “ khách du lịch là tất cả
những người thoả mãn hai điều kiện: rời khỏi nơi ở thường xuyên trong một
khoảng thời gian dưới một năm và chi tiêu tiền bạc tại nơi họ đến thăm mà
không kiếm tiền ở đó”. Khái niệm này chưa hoàn chỉnh vì nó chưa làm rõ được
mục đích của người đi du lịch và qua đó để phân biệt được với những người
cũng rời khỏi nơi cư trú của mình nhưng lại không phải là khách du lịch.
1.2.3. Khái niệm kinh doanh lữ hành nội địa.
Theo cuốn “ Từ điển quản lí du lịch, khách sạn và nhà hàng” của khoa quản
trị kinh doanh du lịch và khách sạn, trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội
kinh doanh lữ hành nội địa được định nghĩa như sau:
Kinh doanh lữ hành nội địa là hoạt động xây dựng, bán và tổ chức thực hiện
chương trình du lịch nội địa cho khách du lịch của doanh nghiệp lữ hành nhằm
mục đích sinh lợi.
1.2.4.Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nội địa.
Điều 5 của Nghị định 27/ 2001/NĐ- CP ngày 05 tháng 6 năm 2001 của
Chính phủ về kinh doanh lữ hành, hướng dẫn du lịch. Một số nghĩa vụ được làm
rõ như sau:
- Thông báo thời điểm bắt đầu kinh doanh cho Sở Du lịch nơi doanh nghiệp
đặt trụ sở chính, kèm theo phương án kinh doanh lữ hành nội địa và bản sao hợp
lệ giấy chứng nhận ký quỹ.
Khi lập chi nhánh hoặc văn phòng đại diện ở trong nước, doanh nghiệp phải
thông báo bằng văn bản cho Sở Du lịch nơi đặt trụ sở chính và Sở Du lịch nơi
15
đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện, kèm theo bản sao hợp lệ giấy chứng nhận
đăng ký hoạt động chi nhánh hoặc văn phòng đại diện.
- Khi thay đổi địa điểm trụ sở chính, doanh nghiệp phải thông báo bằng văn
bản cho Sở Du lịch nơi doanh nghiệp chuyển đến nếu địa điểm chuyển đến thuộc
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác.
Khi thay đổi địa điểm chi nhánh hoặc văn phòng đại diện, doanh nghiệp
phải thông báo bằng văn bản cho Sở Du lịch nơi đặt chi nhánh hoặc văn phòng
đại diện.
- Chỉ được ký hợp đồng đại lý với đại lý lữ hành để bán chương trình du
lịch cho khách du lịch; không được uỷ thác cho đai lý lữ hành tổ chức thực hiện
chương trình du lịch đã bán.
- Phải có phương án, biện pháp nhằm đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản
cho khách du lịch. Thông báo trước cho khách du lịch những nơi có thể gây nguy
chất tổng hợp của nhu cầu đòi hỏi sự phối hợp có hiệu quả sản phẩm của các nhà
cung cấp hàng hoá và dịch vụ du lịch vốn tồn tại tương đối độc lập.
Tính chất phức tạp và đa dạng của nhu cầu. Khách du lịch vốn rất đa dạng,
họ khác nhau theo đủ mọi tiêu thức từ lứa tuổi, trình độ văn hoá, thu nhập, tính
cách đến động cơ đi du lịch.Chính những khác biệt ấy đã tạo nên tính đa dạng,
phong phú đủ mọi màu sắc của nhu cầu du lịch.
Tính mùa vụ của nhu cầu. Nhu cầu du lịch thay đổi rất lớn theo các mùa
trong năm. Các nhà cung cấp du lịch thường chịu một sức ép rất lớn trong các
mùa vụ du lịch. áp dụng các biện pháp khuyến mại nhằm kéo dài thời vụ du lịch
là một trong những điều bắt buộc đối với các nhà cung cấp du lịch.
Tính dễ bị tổn thương của nhu cầu. Nhu cầu du lịch là nhu cầu dễ bị tổn
thương nhất vì nó không phải là nhu cầu thiết yếu. Không đi du lịch thì khách du
17
lịch vẫn có thể tồn tại và phát triển với những hoạt động nghỉ ngơi giải trí tại gia
đình. Những khả năng xấu có thể xảy ra khi đi du lịch dù là rất thấp cũng khiến
cho khách du lịch huỷ bỏ toàn bộ những chương trình du lịch đã được chuẩn bị
công phu nhất.
1.2.5.2. Một số nhân tố ảnh hưởng tới cầu du lịch.
Medlik và Bukhart đã phân chia các nhân tố tác động đến nhu cầu du lịch
thành hai nhóm cơ bản. Các nhân tố bên ngoài ( hay nhân tố vĩ mô ) bao gồm
kinh tế, nhân khẩu, địa lí,văn hoá, mức giá so sánh, khả năng di chuyển, chính
sách, truyền thông. Các nhân tố bên trong thuộc về nội tại của khách du lịch bao
gồm động cơ và hành vi tiêu dùng của khách du lịch.
* Những nhân tố thuộc môi trường vĩ mô.
Hoà bình thế giới, quan hệ quốc tế thân thiện và sự ổn định chính trị là
những yếu tố sống còn và đặc trưng đối với du lịch.
Kinh tế. Chỉ số kinh tế vĩ mô là những nhân tố tác động quan trọng nhất tới
lượng cầu du lịch. Tăng trưởng và phát triển kinh tế tạo ra một lương khách du
lịch công vụ lớn. Tăng trưởng kinh tế làm gia tăng mức thu nhập của các tầng
lớp dân cư trong xã hội.Theo kết quả nghiên cứu thì cầu du lịch có hệ số co giãn
thức đi du lịch của các tầng lớp trong xã hội.
Truyền thông. Có ảnh hưởng rất lớn tới nhu cầu du lịch. Những chương
trình trên TV hay những bộ phim được chiếu có thể tạo ra luồng khách du lịch
lớn. Lượng sách báo về du lịch hiện nay đã tạo ra khả năng tiếp cận của khách du
lịch đối với các chương tình du lịch của các công ty lữ hành.
* Những nhân tố nội tại của khách du lịch. Để hiểu rõ quyết định của khách
du lịch, cần phải phân tích những yếu tố nội tạng ảnh hưởng tới sự lựa chọn của
19
mỗi cá nhân. Quá trình ra quyết định của khách du lịch sẽ được phân tích theo
hai bước: Động cơ đi du lịch và mô hình hành vi tiêu dùng của khách du lịch.
Động cơ đi du lịch là toàn bộ những tác động tâm sinh lý nội tại ( bên
trong ) của khách du lịch tới sự lựa chọn của họ. Động cơ đi du lịch được hình
thành trong khuôn khổ những nhân tố vĩ mô tác động tới nhu cầu du lịch. Nhằm
tăng khă năng ứng dụng trong kinh doanh, người ta nhóm các động cơ đi du lịch
căn cứ vào nguyên nhân dẫn đến quyết định đi du lịch.
Mô hình hành vi tiêu dùng của khách du lịch. Trong mô hình này các yếu tố
“ đầu vào” bao gồm các sản phẩm của các công ty du lịch trên thị trường được
thể hiện qua các sản phẩm và hoạt động tuyên truyền quảng cáo. Các kênh thông
tin chính là các phương tiện truyền thông đại chúng, bạn bè, xã hôi, các nhóm
tham vấn. Những thông tin này khi đến với khách du lịch trước khi được đưa vào
“ xử lý” ra quyết định sẽ phải thông qua một “ phẫu lọc” với hai thành phần chủ
yếu là kiến thức và kinh nghiệm của khách du lịch. Trung tâm xử lý thông tin và
ra quyết định là “ hộp đen” của khách du lịch. Đây chính là bộ phận quan trọng
nhất với banhóm nhân tố chủ yếu là: Vị trí kinh tế và xã hội lứa tuổi; tâm sinh lý;
thái độ của khách du lịch. Những nhân tố nà y tác động tới ba yếu tố: Nhu cầu,
mong muốn và mục đích của khách du lịch. Cuối cùng, thì ba yếu tố này trở
thành các tham số chính thức trong phương trình ra quyết định chọn mua sản
phẩm của khách du lịch.
1.2.6. Đặc điểm và các nhân tố ảnh hưởng tới cung du lịch.
1.2.6.1. Đặc điểm của cung du lịch.
Ngoài những đặc điểm bất lợi trên, cung du lịch còn phải chịu ảnh hưởng
của các nhân tố sau đây:
1.2.6.2. Một số nhân tố nảh hưởng đến cung du lịch.
21
Cung du lịch bị chi phối sâu sắc bởi mặt bằng giá cả chung. Xuất phát từ
tính chất tổng hợp của nhu cầu du lịch, cung du lịch là một bộ phận khăng khít
của thị trường hàng hoá và dịch vụ nói chung. Sự biến động của mặt bằng giá cả
ngay lập tức sẽ làm thay đổi hoàn toàn mức giá sản phẩm du lịch.
Cung du lịch chịu ảnh hưởng lớn của tài nguyên du lịch. Tài nguyên du lịch
có ảnh hưởng lớn tới thể loại và thứ hạng của cung du lịch. Các cơ sở kinh doanh
du lịch được hình thành nhằm khai thác tối đa giá trị sử dụng các tài nguyên du
lịch. Tuy nhiên cũng cần lưu ý một điều là tài nguyên du lịch chỉ phát huy tác
động tới việc xây dựng các khu du lịch khi các nghiên cứu điền khả thi cho thấy
là có nhu cầu về việc sử dụng giá trị của tài nguyên du lịch đó.
Chính sách của Nhà nước. Đa số các chính sách của nhà nước là nhằm tới các
nhà cung cấp. Những quy định này sẽ có tác động tới mục tiêu sử dụng, quy mô,
thứ hạng của các cơ sở du lịch. Mặt khác chúng góp phần tao ra sự cạnh tranh
giữa các nhà cung cấp.
Khoa học kỹ thuật. Những phương tiện thông tin liên lạc hiện đại, đặc biệt là
internet đã đem lại hoàn toàn diện mạo mới cho ngành du lịch. Chúng thay đổi
phương thức tìm kiếm thông tin của khách du lịch và vì vậy mà các nhà cung cấp
đã buộc phải điều chỉnh chiến lược tiếp cận với khách hàng.
Cho đến thời điểm này, một bộ phận khá lớn dịch vụ du lịch mang tính chuẩn
hoá cao như mua vé, đặt phòng khách sạn, thuê xe ô tô … đã được mua bán
thông qua internet.
Chỉ có các chương trình du lịch trọn gói và những dịch vụ phức tạp hơn, đòi hỏi
phải có sự chuẩn bị và tư vấn công phu là chưa được bán một cách đại trà qua
internet. Tuy nhiên khi việc sử dụng internet trở nên phổ biến và rẻ hơn nữa, có
thể đây là bước cách mạng mới trong việc bán các chương trình du lịch trọn gói.
Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Mức độ cạnh tranh vừa là yếu tố nội tại của
chủ động hơn trong hoạt động kinh doanh của mình.Tài chính tốt giúp cho công
ty có điều kiện nâng cao chất lượng sản phẩm của công ty mình. Cùng một lúc
công ty lữ hành phải tạo ra nhiều mối quan hệ do đó ổn định tài chính là điều
kiện tốt để duy trì và cải thiện các mối quan hệ.
- Nguồn lao động dồi dào: Đối với công ty lữ hành nguồn lao động dồi
dào thể hiện ở số lượng của đội ngũ cán bộ, nhân viên, cộng tác viên. Nếu nguồn
lao động dồi dào, công việc sẽ trôi chảy, tính khả thi cao hơn.
- Giá cả có thể cạnh tranh:Với cơ chế giá linh hoạt công ty sẽ thu hút số
lượng khách đông đảo hơn, tạo ra sức cạnh tranh với các công ty khác.
- Kỹ thuật hiện đại: Với điều kiện cơ sở vật chất hiện đại, phong phú sẽ tạo
điều kiện cho hoạt động của công ty thuận lợi, chất lượng chương trình ngày
càng được nâng cao.
+ Các điểm yếu :- Một vấn đề khó khăn đối với các công ty lữ hành là
chất lượng của đội ngũ hướng dẫn viên. Đây là lực lượng lao động tiếp xúc trực
tiếp với khách, trực tiếp phục vụ khách nhưng trình độ còn quá kém.Số lượng
các hướng dẫn viên tốt nghiệp đại học chuyên ngành về du lịch còn quá ít ỏi,
tình trạng thiếu hướng dẫn viên thường xuyên xảy ra đối với các công ty lữ hành.
* Những cơ hội và thách thức.
Là các yếu tố bên ngoài tác động đến hoạt động của doanh nghiệp:
+ Những cơ hội: - Chính sách ưu đãi của Nhà nước, khuyến khích đầu tư
cho du lịch phát triển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của cả nước.
- Thu nhập người dân ngày càng tăng, thời gian rỗi ngày càng nhiều làm
cho nhu cầu đi du lịch tăng mạnh. Đây là những cơ hội cho các công ty lữ hành
ngày càng mở rộng địa bàn hoạt động.
24
+ Những thách thức:- Sự cạnh tranh gay gắt giữa các công ty lữ hành với
nhau. Đòi hỏi mỗi công ty phải nâng cao chất lượng sản phẩm công ty mình,
phải tạo ra các sản phẩm mang tính dị biệt cao.
- Vấn đề về trật tự an toàn tại điểm đến du lịch. Rất nhiều các tệ nạn xã
hội đã làm ảnh hưởng đến tâm lí khách du lịch , gây ra cảm giác sợ hãi, khó chịu