MỞ ĐẦU
Như ta đã biết “Du lịch “ ,có thể nói là một khái niệm còn xa lạ đối với nh
ững người dân ở miền quê, họ chỉ hiểu chung chung về du lịch đó là sự đi tham
quan quan tới một địa điểm nào đấy trong dịp hội hè hoặc là lúc có thời gian rỗi
cuối tuần…
Nguyên nhân nào mà họ lại có cách hiểu như vậy,thật đơn giản đó chính là
do sự nhận thức,cảm thấy từ họ,hơn nữa nghành du lịch Việt Nam vẫn chưa đ
ược mọi người dân quan tâm để tôn tạo và phát triển nó.Nhưng với xu thế hiện
nay thì du lịch lại được xem là một nghành kinh tế mũi nhọn của đất nước, đặc
biệt là sau khi gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới WTO ,du lịch Việt Nam
được đánh giá là nghành có khả năng phát triển nhất, đem lại nguồn lợi nhuận
cao cho nền kinh t ế .Do đó để phát triển được du lịch Việt Nam hòa chung vào
du lịch thế giới thì một xu hướng mới ra đời:”Phát triển du lịch bền vững”. Đây
là một xu hướng hợp lý nhất trên cơ sở vừa khai thác tài nguyên du lịch, vừa
nghiên c ứu để đưa những biện pháp nhằm tôn tạo các tài nguyên đó,phục vụ
cho chiến lược phát triển lâu dài.
Chính vì vậy mà em đã tiến hành nghiên cứu về đề tài: "Du lịch bền vững
lí luận và thực tiễn ở Thành Phố Hồ Chí Minh".
Với bài viết ày em xin chân thành cảm ơn thầy giáo:Thạc s ĩ LÊ TRUNG
KIÊN ,giảng viên khoa du lịch và khách sạn _ Đại học kinh tế quốc dân đã giúp
đỡ em hoàn thành đề tài này.
Mặc dù em đã rất cố gắng nhưng chắc chắn bài viết lần này không tránh
khỏi thiếu sót.Vì vậy em rất mong nhận được sự phê bình ,góp ý của thầy giáo
cùng các bạn đọc.Em xin cảm ơn.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Sinh
Lớp: Du Lịch và Khách Sạn 46a1
NỘI DUNG
chọn ngày 27/9 làm ngày du lịch thế giới với các chủ đề cho từng năm gắn du
lịch với sự tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc,vì nền hoà bình và
tình hữu nghị trên toàn thế giới.Du lịch không còn là hiện tượng lẻ loi, đặc
quyền của cá nhân hay hay một nhóm người nào đó .Ngày nay nó mang tính phổ
biến và tính nhận thức với mục tiêu không ngừng nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần cho con người củng cố hoà bình cho các nước, cho các dân tộc .Hiện
nay du lịch đang được phát triển một cách mạnh mẽ, trở thành nghành kinh tế
mũi nhọn ở nhiều nước trên thế giới.Thực tế du lịch đã đạt được những hiệu quả
kinh tế cao , được gọi là nghành xuất khẩu vô hình đem lại nguồn ngoại tệ lớn,
tốc độ tăng thu nhập của du lịch vượt xa so với một số nghành kinh tế khác .Hơn
nữa du lịch được xem là nghành tổng hợp, vì để tạo ra sản phẩmcung ứng cho du
lịch thì phải có sự kết hợp giữa nhiều nghành khác nhau,do đó cũng có nhiều
chức năng ,trong đó 4 chức năng chính là:chức năng xã hội, chức năng kinh tế,
chức năng sinh thái và chức năng chính trị-xã hội được thể hiện ở vai trò của
nó……………………..
Nhưng yếu tố cần thi khi phát triển nghành du lịch chính là tài nguyên du
lịch. Nó bao gồm hai loại: tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn. Mỗi loại
đều có những tác động riêng đối với hoạt động du lịch. Riêng đối với tài nguyên
tự nhiên là các đối tượng, hiện tượng trong môi trường tự nhiên xung quanh
chúng ta, được lôi cuốn vào việc phục vụ cho mục đích du lịch. Trong chuyến
du lịch người ta thường tìm đến nhưng nơi có phong cảnh đẹp. Căn cứ vào mức
độ biến đổi của phong cảnh, có thể chia nó ra thành 4 loại.
+ Phong cảnh nguyên sinh
+ phong cảnh tự nhiên, trong đó thiên nhiên bị thay đổi tương đối ít bởi
con người
+ Phong c ảnh nh ân t ạo (v ăn ho á), tr ư ớc h ết l à do con ng ư ời t ạo ra.
+ Phong cảnh suy bi ến (loại phong cảnh b ị tho ái ho á khi c ó nh ững
thay đ ổi kh ông c ó l ợi đ ối v ới m ôi tr ư ơng t ự nhi ên).
3
Tài nguyên thiên nhiên du lịch được sử dụng ,khai thác để thu hút khách
+Theo uỷ ban Liên Hợp Quốc về môi trường và phát triển(UNCED,1992):
Phát triển bền vững phải thoả mãn những yêu cầu hiện tại nhưng không
làm giảm khả năng thoả mãn nhu cầu của các thế hệ mai sau.
+Trong hội nghị toàn cẩu RIO-92 và RIO-92+5,các nhà khoa học đã bổ
sung thêm:phát triển bền vững được hình thành trong sự hoà nhập,xen cài và
thoả hiệp giữa ba hệ thống tương tác:Hệ tự nhiên-hệ kinh tế-hệ xã hội.
+ Riêng đối với Việt Nam,lí luận phát triển bền vững cũng đã được tạo sự
chú ý đối với giới khoa học.Chỉ thị số 36/CT của bộ chính trị ban chấp hành
trung ương đảng cộng sản việt nam 25/6/1998 xác địnhmục tiêu và các quan
điểm cơ bản cho sự phát triển bền vững và chủ yếu dựa vàn hành động bạo vệ
môi trường.Phát triển bền vững có những diểm sau:
./ Được xác định trên nền tảng: Đó là sự cân bằng giữa cùng một thế hệ và
sựcân bằng liên thế hệ sao cho các năng lực dùng để triển kinh tế xã hội của thế
hệ này cũng phải tương đương và bằng cho các thé hệ trong tương lai.
./Phát triển bền vững làm cho nền kinh tế ổn định,nền kinh tế bền vững là
sản phảm của phát triển bền vững
./Phát triển bền vững sẽ tạo cân đối giữa con người-con người qua các thế
hệ,cân bằng con người với tự nhiên trong hiện tại và tương lai.
2.2. Cơ sở thực tiễn:
Thực tế ở nước ta quan niệm du lịch bền vững là một khái niệmcòn
mới,phát triển bền vững là sự đáp ứng nhu cầu phát triển trong xã hội loài
người,trong hiện tại và mai sau trên cơ sở ứng dụng những tiến bộ trong khoa
học công nghệ để tao ra sự phát triển kinh tế nhưng lại manh xu hướng tích cực
và có trách nhiệm đối với môi trường sinh thái- nhân văn, đặc biệt là duy trì kéo
dài năng lực sản xuất của các nguồn tài nguyên tái tạo và không tái tạo.Phát triển
du lịch thì phải có trách nhiệm với môi trường có tác dụng với giáo dục,nâng
cao hiểu biết cho cộng đồng do đó muốn phát triển du lịch bền vững cần giải
5
quyết các vấn đề sau :thứ nhất là mối quan hệ giữa con người và tự nhiên :phải
tích cực đưa ra vấn đề xã hội vào chu trình sinh học,biến xã hội từ chỗ đối lập tự
lịch tác động tới môi trường xung quanh : ô nhiễm, tài nguyên cạn kiệt . Khác
hẳn du lịch đơn thuần , du lịch bền vững vừa phát triển vừa thấy được những tác
động từ hai phía môi trường – du lịch để từ đó khắc phục được những hạn chế ,
những ảnh hưởng tiêu cực từ mỗi phía .
+ Thứ ba là: khi có những thành tựu khoa học công nghệ mới ra đời thì du
lịch đơn thuần ứng dụng ngay những thành tựu đó để khai thác tài nguyên thiên
nhiên một cách tối đa. Bên cạnh đó với mục tiêu là phát triển bền vững ngành du
lịch thì du lịch bền vững đã biết áp dụng những tiến bộ mới của khoa học công
nghệ một cách hợp lí vào việc khai thác tài các tài nguyên du lịch .
+ Thứ tư: du lịch đơn thuần phát triển với mục đích chính là thu được lợi
ích nhiều trong thời gian ngắn nên việc nhận thấy: Mối quan hệ con người – tài
nguyên – môi trường còn hạn chế, trong khi đó phát triển du lịch bền vững thì
bốn yếu tố quan trọng nhất là con người – môi trường – kinh tế - công nghệ.
+ Thứ năm: do phát triển với mục đích trước mắt là thu được lợi nhuận cao
nên du lịch đơn thuần chỉ tạo ra được những sản phẩm thông thường. Khác với
đièu đó sản phẩm của du lịch bề vững luôn mang tính đặc sắc, đa dạng, thể hiện
được sự phát triển lâu dài của mình.
Như vậy với chiến lược phát triển bền vững ngành du lịch trong tương lai
ở Việt Nam nói chung và Thành Phố Hồ Chí Minh nói riêng, cần phải tuân thủ
10 nguyên tắc của du lịch bền vững :
1. Sử dụng các tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên xã hội và tài nguyên về
văn hóa một cách hợp lí
2. Giảm thiệu tiêu thụ nguyên liệu, giảm tải tiêu thụ rác thải độc hại với
môi trường .
3. Duy trì tính đa dạng của môi trường tự nhiên xã hội và văn hóa
4. Lồng gép du lịch và quy hoạch phát triển của vùng, địa phương và quốc
gia .
7
5. Hỗ trợ kinh tế địa phương, tính toán các chi phí phát sinh để bảo vệ địa
6. Thu hút sự tham gia của nhiều thành phần trong cộng đồng địa phương
8
thành một trung tâm công nghiệp, văn hóa, khoa học kỹ thuật, một trung tâm
giao dịch quốc tế, một đầu mối giao thông quan trọng, một trung tâm du lịch và
là một trong 3 thành phố lớn của cả nước. Bản thân thành phố là một hải cảng
quan trọng. Sông Sài Gòn với độ sâu có thể tiếp nhận các tàu biển trọng tải trên
30.000 tấn, một ưu thế hiếm có trên thế giới đối với một thành phố lớn ở sâu
trong nội địa. Cảng Sài Gòn được thành lập từ năm 1862.
-Về Khí hậu - Thời tiết - Lượng mưa:
Đặc điểm chung của khí hậu Thành phố là khí hậu nhiệt đới gió mùa mang
tính chất cận xích đạo nên nhiệt độ cao và khá ổn định trong năm. Số giờ nắng
trung bình tháng đạt từ 160-270 giờ. Độ ẩm không khí trung bình là 79,5%.
Nhiệt độ trung bình năm là 27,55
0
C (tháng nóng nhất là tháng Tư, nhiệt độ khoảng 29,3
0
C).
Mùa mưa từ tháng Năm đến tháng Mười Một. Lượng mưa bình quân năm
1979mm. Số ngày mưa trung bình năm là 159 ngày (>90% lượng mưa tập trung
vào các tháng mùa mưa). Đặc biệt những cơn mưa thường xảy ra vào buổi xế
chiều, mưa to nhưng mau tạnh đôi khi mưa rả rích kèo dài cả ngày.
Nói chung, Thành phố nằm ở khu vực ít bị ảnh hưởng trực tiếp của gió to,
bão lớn. Tuy nhiên, từ tháng Năm đến tháng Tám thường có xuất hiện những
cơn bão gây thiệt hại đáng kể trên diện tích hẹp.
- Dân số - Các đơn vị hành chính:
Thành phần chủ yếu của cư dân Sài Gòn - Chợ Lớn từ cuối thế kỷ 18 đến
thế kỷ 19 là người Việt từ miền Trung, miền Bắc đến đây khai khẩn, cư trú, lập
chợ, mua bán. Về sau một số người ở miệt Lục tỉnh lên. Ngoài người Việt ra,
còn có một số bộ phận người Hoa, phần lớn là thần dân nhà Minh rời bỏ quê
hương di cư đến đất Đồng Nai, trú ở Cù Lao Phố (Biên Hòa). Sau những trận
chiến giữa quân Tây Sơn và quân Nguyễn Ánh, người Hoa lại rời bỏ nơi này đi
Sài Gòn là đầu mối giao thông lớn của Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Từ đây,
mạng lưới giao thông đường bộ tỏa đi khắp nơi: theo quốc lộ 22 đến Tây Ninh,
10
theo quốc lộ 51 đến Vũng Tàu, theo quốc lộ 20 đi Đà Lạt, theo quốc lộ 1 A đến
miền Tây và miền Trung nước ta.
Sài Gòn có mối quan hệ với các tỉnh và vùng phụ cận bằng hệ thống quốc
lộ, liên tỉnh lộ và tỉnh lộ ngoài ra Thành phố có hệ thống đường trục và đường
vành đai.
Về hiện trạng mạng lưới giao thông trong nội bộ Thành phố, chiều dài của
mạng lưới này khoảng 1500km với 105 đường 1 chiều, 1.020 giao lộ (457 ngã
ba, 543 ngã tư, 10 ngã năm, 9 ngã sáu và 2 ngã bảy), 210 cầu với tổng chiều dài
là 11.000 m.
Về đường sắt, thành phố có 4 ga xe lửa - lớn nhất là ga Trung tâm Sài Gòn.
Về đường thủy, thành phố có tổng chiều dài tuyến đường sông là 2035km, trong đó có 432km ở khu vực thành phố có thể cho
tàu, xà lan trọng tải 600 - 1000 tấn qua lại dễ dàng. Hệ thống đường sông ở thành phố và phụ cận tương đối đều khắp, chủ yếu
tập trung ở phía Đông và phía Nam. Thành phố có các cảng chính: cảng Sài Gòn, cảng Bến Nghé, cảng dầu Nhà Bè và Tân
Cảng, cảng Tân Thuận, cảng Container khu chế xuất, .vv... Thành phố đang chuẩn bị xây dựng cảng khách để đón khách du
lịch đến thành phố bằng đường thủy.
Khách du lịch quốc tế đến Sài Gòn chủ yếu bằng đường hàng không. Vì
vậy, hàng không có vai trò quan trọng trong việc phát triển du lịch thành phố.
Tại Sài Gòn, sân bay Tân Sơn Nhất là sân bay lớn nhất ở các tỉnh phía Nam và
là một trong 2 sân bay lớn của cả nước.
- Nguồn cung cấp điện:
Bao gồm các nhà máy điện, thủy điện với tổng công suất thiết ký 1.098,7
MW, chưa kể nguồn điện từ đường dây 500 KV đưa lượng điện thế về thành
phố hàng năm từ 1,5 đến 2 tỷ Kwh.
- Cấp thoát nước:
Nhà máy nước Thủ Đức với công suất 650.000 m3/ngày, nhà máy nước ngầm Hóc Môn giai đoạn 1 cho 20.000m3/ngày.
Ngoài ra có 27 giếng nước ngầm cho trên dưới 100m3/giếng/ngày. Thành phố đang có dự án xây dựng mới hai nhà máy nước
và hệ thống xử lý nước hiện đại.