Bài tiểu luận: Tổ chức hệ thống thông tin quản lý doanh nghiệp - Pdf 16

Trường Đại Học Kinh Tế Tp. Hồ Chí Minh Lớp Quản Trị Kinh Doanh K13
GVHD Nguyễn Văn Năm Bài tiểu luận nhóm 14 BÀI TIỂU LUẬN

TỔ CHỨC HỆ THỐNG
THÔNG TIN QUẢN LÝ
DOANH NGHIỆP
Trường Đại Học Kinh Tế Tp. Hồ Chí Minh Lớp Quản Trị Kinh Doanh K13
Trường Đại Học Kinh Tế Tp. Hồ Chí Minh Lớp Quản Trị Kinh Doanh K13
GVHD Nguyễn Văn Năm Bài tiểu luận nhóm 14 NỘI DUNG TIỂU LUẬN

Các ứng dụng CNTT chủ yếu của các Doanh nghiệp hiện nay là gì?
Dùng để giải quyết các mối quan hệ nào?
Những cảnh báo khi chúng ta thực hiện những ứng dụng công nghệ đó?
Những tiện ích khi ứng dụng những công nghệ đó?
Các bước tiến hành những ứng dụng đó như thế nào? Phân tích những
nguyên nhân vì sao ứng dụng CNTT tại Việt Nam chưa thành công?


giao tiếp và hội nhập của doanh nghiệp.

Sự ra đời của mạng toàn cầu đã khắc phục được những khó khăn lớn trong
trong việc trao đổi thông tin như việc làm tương thích hóa công nghệ cũng như
giải quyết được vấn đề về khoản cách truyền tin. Bên cạnh đó, nó còn kéo theo
một số dịch vụ hổ trợ việc kinh doanh, quảng cáo cho các doanh nghiệp, cũng
như việc tìm hiểu thông tin.

Công nghệ thông tin ra đời đã cải thiện rõ nét về mặt thông tin trong các
Doanh nghiệp cũng như trong xã hội.

Đối với các Doanh nghiệp, Công nghệ thông tin đã hổ trợ trong việc giải
quyết các mối quan hệ giữa các cấp quản lý cơ sở với cấp trên cũng như các cơ
quan nhà nước, giữa các bộ phận trong Doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với
nhà cung cấp và giữa doanh nghiệp với khách hàng. Một mối quan hệ khác
cũng không kém phần quang trọng đó là giữa doanh nghiệp với nhà đầu tư.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong doanh nghiệp đã hổ trợ rất cao
trong các công việc quản lý nội bộ cũng như thông tin lên lạc với môi trường
bên ngoài như việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc lưu trử và xử lý
thông tin, quản lý tài sản, quản lý nhân sự, quản lý tiền lương, quản lý kho, kế
toán, sản xuất kinh doanh, tổ chức hội nghị, hội thảo… đối với môi trường bên
ngoài, ứng dụng công nghệ thông tin hổ trợ cho việc truyền thông, thương mại,
marketing, xây dựng thương hiệu, tư vấn khách hàng, tìm khách hàng và thị
trường mới…
Trường Đại Học Kinh Tế Tp. Hồ Chí Minh Lớp Quản Trị Kinh Doanh K13
GVHD Nguyễn Văn Năm Bài tiểu luận nhóm 14

- Để giải quyết các mối quan hệ giữa các cấp quản lý với cấp trên cũng như
với các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp đã mạnh dạng áp dụng công

hàng, nhận các thông tin báo giá, gửi các xác nhận đơn giá nhận các thông
tin giao hàng và hóa đon tạm thời… - Và ngược lại, giữ doanh nghiệp với khách hàng cũng có những quan hệ cần
giải quyết như việc nhận các đơn đặc hàng, gởi các đơn báo giá, nhận đơn
xác nhận giá, gởi thông tin giao hàng và hóa đơn tạm thời…
Trường Đại Học Kinh Tế Tp. Hồ Chí Minh Lớp Quản Trị Kinh Doanh K13
GVHD Nguyễn Văn Năm Bài tiểu luận nhóm 14

Những cảnh báo khi thực hiện những ứng dụng CNTT trong doanh
nghiệp.

Doanh nghiệp có thể ứng dụng CNTT trong mọi hoạt động: điều hành, sản
xuất, kinh doanh, giao dịch, thương mại Nhưng trước hết, cần phải xác định
rõ ứng dụng CNTT là một khoản đầu tư của doanh nghiệp.
Việc đầu tư và triển khai ứng dụng phải theo kế hoạch, lộ trình và đặc biệt
phải rất lưu ý đến các điểm sau:

 Đầu tư tập trung
Vì ứng dụng CNTT đòi hỏi chi phí lớn, không chỉ về tài chính mà còn về
nhân lực. Doanh nghiệp nên đầu tư CNTT cho những hoạt động cốt lõi và
những hoạt động mang nặng tính thống kê, phân tích và nên đầu tư từng phân
hệ vì trong quá trình triển khai, để tránh kéo dài thời gian hoặc gia tăng chi phí,
mọi vấn đề nên được làm rõ trong hợp đồng. Hơn nữa, phần mềm không phải
là một loại hàng hoá đơn thuần và mối quan hệ của Doanh nghiệp và nhà cung
cấp phần mềm không dừng lại sau khi hai bên thanh lý hợp đồng, bởi vậy
Doanh nghiệp nên lưu ý đến chi phí dịch vụ và dịch vụ hỗ trợ của nhà cung
cấp.


cách nhanh chóng nếu như đường truyền Internet không được bảo đảm hoạt
động ổn định.
Mặt khác khi doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực CNTT cùng với việc
hiểu biết pháp luật thương mại truyền thống còn phải nắm được các văn bản
pháp luật như: Luật Giao dịch điện tử, Luật Dân sự, Luật về bảo vệ quyền và
sở hữu trí tuệ, hải quan…
Ngoài ra hệ thống thanh toán điện tử và an ninh, an toàn là yếu tố quan
trọng trong phát triển CNTT, song đây cũng là khâu yếu của doanh nghiệp
trong nước hiện nay.
Vai trò người lãnh đạo trong việc triển khai hệ thống thông tin hỗ trợ quản
lý và kế hoạch hóa nguồn lực doanh nghiệp là đặc biệt quan trọng. Nếu ở mức
ứng dụng 1 vấn đề chỉ đơn giản là một số chuyên viên được trang bị công cụ
làm việc mới, hiệu quả hơn thì mức ứng dụng 2 thực chất là trang bị cho doanh
nghiệp công nghệ quản lý mới.
Các phân hệ ứng dụng do thiết kế riêng, không tính đến các quan hệ giữa
chúng, kết quả là các ứng dụng mang tính rời rạc, đơn lẻ không có tính hệ
thống chung. Trong phần lớn các trường hợp, có rất nhiều thông tin giống
nhau phải cập nhật và quản lý tại nhiều nơi, tại nhiều phòng ban của công ty
Ví dụ:
- Tại phòng bán hàng phải quản lý hồ sơ khách hàng 1 cách thật chi tiết,
chúng sẽ được xử lý bằng chương trình quản lý bán hàng.
- Tại phòng kế toán phải theo dõi công nợ và cũng được cập nhật lưu trữ,
xử lý trong chương trình kế toán tại phòng tài chính…)
Trường Đại Học Kinh Tế Tp. Hồ Chí Minh Lớp Quản Trị Kinh Doanh K13
GVHD Nguyễn Văn Năm Bài tiểu luận nhóm 14
Điều đó dẫn đến lãng phí nguồn tài nguyên thông tin trong doanh nghiệp
cũng như lãng phí nguồn nhân lực của công ty do cùng phải cập nhật quản lý
các thông tin giống nhau.
Việc xây dựng các ứng dụng độc lập cho phép dễ áp dụng nhưng dẫn đến
không thống nhất số liệu báo cáo trong một công ty do tín không đồng bộ trong


Trường Đại Học Kinh Tế Tp. Hồ Chí Minh Lớp Quản Trị Kinh Doanh K13
GVHD Nguyễn Văn Năm Bài tiểu luận nhóm 14
Những tiện ích khi ứng dụng CNTT trong Doanh nghiệp.

Doanh nghiệp có vị trí quan trọng trong nền kinh tế, nhất là khi nước ta đã
trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) . Để
doanh nghiệp hội nhập vào nền kinh tế quốc tế, yếu tố hàng đầu để đạt được là
doanh nghiệp phải phát triển và ứng dụng CNTT.
Trong thời đại CNTT như hiện nay, khi mà Internet trở nên thân quen và
dần trở thành một công cụ không thể thiếu trong cuộc sống thì lợi ích của
Website đối với việc quảng bá sản phẩm và thương hiệu của một công ty thật
là to lớn. Tùy từng lĩnh vực kinh doanh của từng doanh nghiệp mà website
mang lại những lợi ích khác nhau. Trang web trở thành một cửa ngõ để doanh
nghiệp tiếp thị sản phẩm của mình đến khách hàng khắp nơi trên toàn thế giới.
Những tiện ích mà Web mang lại, đó là:

 Tiết kiệm và tối ưu:
Đây có thể là lợi ích mà các Doanh nghiệp quan tâm hàng đầu. Đó là giảm
chi phí văn phòng, các văn phòng không giấy tờ chiếm diện tích nhỏ hơn rất
nhiều, chi phí tìm kiếm, in ấn tài liệu hầu như được bỏ hẳn. Bằng phương tiện
Internet/Web, một nhân viên bán hàng có thể giao dịch được với rất nhiều
khách hàng, làm giảm thấp chi phí bán hàng và chi phí tiếp thị. Qua
Internet/Web giúp người tiêu thụ và các doanh nghiệp giảm đáng kể thời gian
và chi phí giao dịch. Doanh nghiệp có thể cung cấp những thông tin cơ bản về
sản phẩm và dịch vụ của mình cho khách hàng 24/24 giờ, cả 7 ngày trong tuần.
Khách hàng sẽ có được thông tin cần thiết vào thời điểm họ cần nhất. Phần
mềm quản lý khách hàng (Customer Relationship Management – CRM) đưa
dịch vụ trực tuyến này tiến xa thêm một bước nữa bằng cách cho phép khách
hàng truy cập vào trang web, truy cập vào những thông tin quan trọng về

được chia thành nhiều phần nhỏ, không tập trung vào cùng một thời điểm
Việc sử dụng giải pháp tích hợp không chỉ cho phép sử dụng phần mềm
ứng dụng theo dõi các tiến trình mà còn như là một công cụ hướng dẫn giúp áp
dụng các quy trình quản lý sản xuất kinh doanh tối ưu, mang lại hiệu quả cao
cho doanh nghiệp.

 Đồng hành và vượt lên trên các đối thủ cạnh tranh trong một môi
trường kinh doanh năng động:
Tạo ra thế cạnh tranh của doanh nghiệp, nếu như không có Web thì các
doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ rất khó khăn trong việc cạnh tranh với các doanh
nghiệp lớn vì khoảng cách về vốn, thị trường, nhân lực, khách hàng. Khi ứng
dụng CNTT, đặc biệt là Web, khoảng cách này bị thu hẹp do bản thân doanh
nghiệp đó có thể cắt giảm nhiều chi phí, hơn thế nữa với lợi thế của kinh doanh
trên mạng sẽ giúp cho doanh nghiệp tạo ra sắc thái riêng về một phương thức
kinh doanh khác với hình thức kinh doanh truyền thống. Chính những điều này
sẽ tạo nên lợi thế cạnh tranh, giúp cho doanh nghiệp vừa và nhỏ đặc biệt các
doanh nghiệp nhỏ cạnh tranh với đối thủ của mình

Trường Đại Học Kinh Tế Tp. Hồ Chí Minh Lớp Quản Trị Kinh Doanh K13
GVHD Nguyễn Văn Năm Bài tiểu luận nhóm 14
 Có thêm hàng ngàn khách hàng mới, làm thỏa mãn cả những khách
hàng khó tính nhất:
Là thị trường không biên giới nên giúp cho doanh nghiệp có cơ hội quảng
bá thông tin sản phẩm ra thị trường toàn cầu, qua đó giúp doanh nghiệp tăng
khách hàng và tăng doanh thu. Với việc cập nhật thường xuyên các sản phẩm
mới, khách hàng sẽ thực sự thích thú vì có nhiều sản phẩm để lựa chọn.

 Làm tăng chất lượng dịch vụ khách hàng:
Trên cơ sở cung cấp cho khách hàng bảng giá, hợp đồng một cách gần như
tức thời, bên cạnh đó với website bán hàng của mình, doanh nghiệp tạo điều

nhân chính sau:
 Thứ nhất: Do các cấp lãnh đạo ở Việt Nam chưa nhận thức đúng
mức vai trò của CNTT trong việc nâng cao năng suất lao động và
chất lượng sản phẩm.
 Đây chính là nguyên nhân quan trọng nhất vì phần lớn các cấp lãnh đạo ở
Việt Nam đã quen với công việc quản lý ít ứng dụng CNTT. Do đó, họ
không mặn mà và không dành nhiều thời gian cho việc tìm hiểu những lợi
ích mà công nghệ thông tin mang lại. Không ít các cấp lãnh đạo nghĩ rằng
việc kinh doanh và quản lý ít ứng dụng CNTT như hiện tại cũng không ảnh
hưởng nhiều đến công việc kinh doanh của họ.
 Mặt khác, ở một vài doanh nghiệp dù cấp lãnh đạo đã nhận thức được vai
trò và hiệu quả của việc ứng dụng CNTT mang lại, nhưng do khả năng tài
chính hiện tại của doanh nghiệp họ không đáp ứng đủ cho việc triển khai
ứng dụng CNTT.
 Ban chỉ đạo công nghệ thông tin quốc gia đã làm một cuộc khảo sát việc
ứng dụng công nghệ thông tin tại 217 doanh nghiệp và những con số có
được đã khiến mọi người không khỏi bất ngờ. Hiện các doanh nghiệp Việt
Nam mới chỉ đầu tư khoản chi phí rất nhỏ bé là 0,05- 0,08% doanh thu cho
công nghệ thông tin, trong khi ở Mỹ con số trung bình là 1,5%. Chính sách
đầu tư cho công nghệ thông tin của doanh nghiệp còn nhiều bất cập. Đa
phần doanh nghiệp chỉ đầu tư một lần cho hệ thống thông tin và nâng cấp
các ứng dụng, do đó đầu tư đã thấp và hiệu quả của nó còn thấp hơn.
 Bên cạnh đó, có một số dự án của các doanh nghiệp nhằm nâng cao việc
ứng dụng CNTT nhưng rất tiếc do tầm nhìn và chiến lược phát triển không
hợp lý nên hiệu quả mang lại không cao.
 Thứ hai: Do môi trường ứng dụng CNTT ở Việt Nam chưa thật tốt.
 Trong các doanh nghiệp Việt Nam có rất nhiều các quy trình, nghiệp vụ
khác nhau và rất nhiều quy trình, nghiệp vụ trong số đó thay đổi liên tục.
Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc ứng dụng CNTT vào các quy
trình, nghiệp vụ này.

dụng CNTT, tự đổi mới và phát triển doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu cạnh
tranh ngày càng khốc liệt của nền kinh tế thị trường. Đặc biệt, Việt Nam đã
tham gia WTO, đã mở cửa để các doanh nghiệp nước ngoài vào đầu tư,
cũng như việc Việt Nam ký kết vào Hiệp định thương mại tự do ASEAN,
miễn giảm thuế cho các mặt hàng của các doanh nghiệp nước ngoài. Câu
hỏi lớn được đặt ra là liệu các doanh nghiệp Việt Nam có đủ sức cạnh tranh
để tồn tại và phát triển ngay trên thị trường nhà.
 Kết quả dễ nhận thấy là nếu không ứng dụng CNTT vào công tác quản lý và
sản xuất kinh doanh thì các doanh nghiệp Việt Nam sẽ mãi chỉ là những
doanh nghiệp nhỏ lẻ, không đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp nước
ngoài ngay tại thị trường Việt Nam, chứ chưa nói tới việc cạnh tranh với
đối thủ ngay tại thị trường của họ.
Trường Đại Học Kinh Tế Tp. Hồ Chí Minh Lớp Quản Trị Kinh Doanh K13
GVHD Nguyễn Văn Năm Bài tiểu luận nhóm 14
 Thứ tư: Do trình độ quản lý của các cấp lãnh đạo ở Việt Nam chưa
cao.
 Chúng ta đều biết rằng nhận thức và trình độ của nhà lãnh đạo là yếu tố tối
quan trọng đối với việc phát triển của doanh nghiệp. Đó là yếu tố sống còn.
Khi cấp lãnh đạo có trình độ và nhận thức không cao thì không thể hoạch
định ra những chiến lược và chính sách kinh doanh hợp lý, có chiều sâu để
phát triển doanh nghiệp.
 Đôi khi chính nhận thức và trình độ thấp kém của nhà lãnh đạo sẽ kìm hãm
nổ lực cống hiến của nhân viên. Nhà lãnh đạo có trình độ thấp kém sẽ
không trao đủ quyền hạn để các nhân viên có thể sử dụng hết khả năng của
mình xây dựng công ty.
 Thứ năm: Do các đề cương, dự án CNTT chất lượng kém nhưng
vẫn được triển khai.
 Ở Việt Nam, đa số các dự án CNTT có chất lượng rất kém nhưng do yếu tố
ngoại giao giữa các lãnh đạo nên vẫn được triển khai. Kết quả là tiền đầu tư
mất đi trong khi hiệu quả đạt được lại rất thấp. Thậm chí nhiều dự án bị

 Đa số cán bộ quản lý thường chú trọng công tác tổ chức quản lý là chính,
họ thường không chịu lắng nghe nhiều ý kiến đóng góp của người khác.
 Nhiều dự án chỉ làm mà kết quả đạt được không cao, không tương xướng
với số tiền đầu tư. Điều này là do cung cách tổ chức đấu thầu hiện nay chủ
yếu dựa vào giá bỏ thầu mà không quan tâm nhiều đến giá trị bên trong mà
những dự án có mang lại.
 Công tác quản lý Nhà nước về CNTT còn nhiều bất cập.
 Hệ thống CSDL còn manh mún, thiếu tập trung, mức độ chia sẻ chưa cao.
 Hạ tầng CNTT còn thiếu về số lượng và không đồng bộ.
 Ứng dụng CNTT vào quản lý Nhà nước của các cấp, các ngành còn hạn
chế, chưa có sự phối hợp giữa cải cách hành chính với ứng dụng CNTT.
 Đầu tư cho phát triển Công nghiệp CNTT còn nhỏ lẻ, phân tán, kém hiệu
quả; đầu tư cho đào tạo CNTT chưa được quan tâm đúng mức.
 Thiếu quy hoạch tổng thể và một lộ trình khoa học trong việc ứng dụng và
phát triển CNTT.
 Cơ chế, chính sách ứng dụng và phát triển CNTT chưa cụ thể, chưa hấp dẫn
và chưa đồng bộ, chưa tạo được môi trường thuận lợi thúc đẩy ứng dụng
CNTT trong các lĩnh vực.
Giải pháp khắc phục?
Để nâng cao việc ứng dụng CNTT trong các doanh nghiệp Việt Nam, ta cần
phải áp dụng các biện pháp sau:
 Trước tiên là phải nâng cao nhận thức của doanh nghiệp.
 Tạo môi trường thuận lợi cho ứng dụng CNTT và phát triển CNTT.
 Khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực CNTT. Rà soát và tháo bỏ mọi nhận thức
và quy định không phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi nhất, áp dụng mức ưu
đãi hiện hành cao nhất và từng bước đạt mức ưu đãi bằng hoặc cao hơn so
Trường Đại Học Kinh Tế Tp. Hồ Chí Minh Lớp Quản Trị Kinh Doanh K13
GVHD Nguyễn Văn Năm Bài tiểu luận nhóm 14
với các nước trong khu vực cho việc ứng dụng và phát triển CNTT, đi đôi
với việc thực hiện các biện pháp quản lý chặt chẽ, sử dụng có hiệu quả.

Tích cực phát triển các khu công nghệ cao ở các địa phương khác khi có
điều kiện thuận lợi.
 Các sản phẩm và dịch vụ CNTT được tạo ra trong nước không chịu thuế giá
trị gia tăng. Các doanh nghiệp trong lĩnh vực CNTT được hưởng mức ưu
Trường Đại Học Kinh Tế Tp. Hồ Chí Minh Lớp Quản Trị Kinh Doanh K13
GVHD Nguyễn Văn Năm Bài tiểu luận nhóm 14
đãi cao nhất về thuế thu nhập doanh nghiệp, được hưởng chế độ ưu đãi về
tín dụng, về sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
 Hoàn chỉnh hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và đảm bảo việc thực
hiện pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có bảo hộ quyền tác
giả đối với phần mềm và các sản phẩm CNTT khác…
Những thành tựu đã đạt được:
 Trong những năm qua việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ vào
công tác kỹ thuật địa chính nhà đất được Sở Tài nguyên và Môi trường giao
cho Trung tâm Kỹ thuật Địa chính - Nhà đất Đồng Nai triển khai thực hiện.
Trung tâm Kỹ thuật Địa chính - Nhà đất đã triển khai ứng dụng CNTT, các
thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến, đầu tư trang bị các phần mềm, trang
thiết bị tin học vào hoạt động quản lý nhà đất.
 Đến nay Trung tâm Kỹ thuật Địa chính - Nhà đất đã ứng dụng thành công
các phần mềm phổ biến trên thế giới (MicroStation, Mapinfo, AutoCad …)
và các phần mềm do bộ Tài nguyên Môi trường chuyển giao (Famis và
Caddb…). Song song với việc áp dụng công nghệ trên, Trung tâm không
ngừng nghiên cứu thiết kế, cải tiến nhiều phần mềm có khả năng giúp cho
việc thực hiện các tác nghiệp kỹ thuật một cách nhanh chóng và hiệu
quả nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện nhiệm vụ chính trị và tạo điều kiện
thuận lợi cho việc quản lý Nhà nước về đất đai phù hợp với đặc điểm của
tỉnh Đồng Nai. Thực tế, từ năm 2001 đến nay, Trung tâm Kỹ thuật Địa
chính - Nhà đất đã xây dựng khá nhiều phầm mềm, trong đó đáng kể nhất
là: Hệ thống Atlas điện tử Ðồng Nai nhằm phục vụ cho công tác nghiên cứu
khoa học, công tác quản lý, chỉ đạo việc phát triển mọi mặt trên địa bàn tỉnh

 Trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập mạnh mẽ như hiện nay, ngành Hải
quan đang phải quản lý một số lượng doanh nghiệp tăng lên không ngừng,
trong khi số lượng cán bộ công chức không tăng nhiều. Hiện nay, lĩnh vực
kiểm tra sau thông quan đang phải quản lý hơn 38.000 doanh nghiệp với
một khối lượng thông tin dữ liệu rất đa dạng và hỗn độn. Trong khi đó, cán
bộ kiểm tra sau thông quan chỉ chiếm chưa đến 15% tổng số cán bộ ngành,
phấn đấu đến năm 2020, tỉ lệ này tăng lên là 17 đến 20% cán bộ toàn ngành.
Với số lượng này, việc thu thập, xử lý thông tin doanh nghiệp phục vụ công
tác quản lý còn nhiều bất cập.
 Thực tế này đặt ra một bài toán cho lĩnh vực kiểm tra sau thông quan là cần
có sự hỗ trợ về công nghệ, để công tác thu thập, xử lý thông tin doanh
nghiệp phục vụ quản lý trở nên có hệ thống. Xuất phát từ nhu cầu đó, Cục
Kiểm tra sau thông quan đã kết hợp với công ty phần mềm xây dựng bước
đầu một dự án xây dựng hệ thống thông tin quản lý doanh nghiệp. Dự án
nhằm đạt được các mục tiêu chính là: thứ nhất, đáp ứng yêu cầu khai thác
thông tin về doanh nghiệp xuất nhập khẩu, phục vụ theo dõi, quản lý, điều
hành và hoạch định chính sách trong KTSTQ; thứ hai, cung cấp thông tin
phục vụ phân tích, đánh giá rủi ro đối với doanh nghiệp; và thứ ba là phân
loại đối tượng kiểm tra phục vụ công tác đánh giá, phân loại và lựa chọn đối
tượng KTSTQ. Tuy dự án nhằm những mục tiêu phục vụ cho công tác quản
lý của lĩnh vực kiểm tra sau thông quan, thế nhưng lại đem lại lợi ích thiết
thực cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp sẽ được quản lý một cách có hệ
thống, khoa học, những quyết định áp dụng với doanh nghiệp từ cơ quan
Hải quan do đó cũng sẽ kịp thời và chính xác.
Trường Đại Học Kinh Tế Tp. Hồ Chí Minh Lớp Quản Trị Kinh Doanh K13
GVHD Nguyễn Văn Năm Bài tiểu luận nhóm 14
 Theo kế hoạch, dự án sẽ tập trung khảo sát, phân tích yêu cầu nhiệm vụ và
kế hoạch thực hiện. Đồng thời thiết kế, xây dựng hệ thống theo mô hình xử
lý tập trung, giao dịch cổng thông tin dạng web, quản lý và xử lý thông tin
theo dữ liệu doanh nghiệp và phân loại doanh nghiệp. Khi đã hoàn thành


Trường Đại Học Kinh Tế Tp. Hồ Chí Minh Lớp Quản Trị Kinh Doanh K13
GVHD Nguyễn Văn Năm Bài tiểu luận nhóm 14
Các bước triển khai ứng dụng công nghệ thông tin tại các mức ứng dụng.

1. Ứng dụng CNTT hỗ trợ công việc văn phòng, công tác nghiệp vụ của cá nhân:
a. Mục tiêu:
- Triển khai CNTT hỗ trợ nhân viên làm việc tốt hơn.
- Sử dụng phần mềm làm thay công việc của con người.

b. Các bước triển khai:
- Trang bị máy tính cá nhân cho mỗi nhân viên
- Triển khai các gói ứng dụng văn phòng
Ứng dụng MS Office Oracle Open Office
Văn bản Word Writer
Bảng tính Excel Calc
Đồ họa cơ bản Visio Draw
Trình chiếu Power Point Impress
Cơ sở dữ liệu Access Base
Mail Outlook

- Đào tạo cán bộ nhân viên sử dụng thành thạo các phần mềm trên
- Sử dụng các phần mềm trên để hỗ trợ giải quyết các nghiệp vụ cá nhân (Báo
cáo, văn bản, thuyết trình, tính toán, cơ sở dữ liệu nhân viên, bảng lương, trao

Bước 6: Chuyên gia nói trên sẽ thẩm định lại bảng thiết lế này
Bước 7: Mời công ty CNTT thi công hệ thống đã được thiết kế và thẩm
định. Hiện đã có một số công ty CNTT có hệ thống chuẩn. Tuy nhiên việc là ở
bước 4 vẫn nên làm độc lập với hệ thống chuẩn. Bước 6 này thì nên mời các
công ty có các hệ thống chuẩn để đảm bỉa thời gian và chất lượng.
Bước 8: Công tác cài đạt vận hành thử và bàn giaophari đưa vấn đề huấn
luyện nhân viên, đội ngũ lãnh đạo doangh nghiệp lên hàng đầu
Bước 9: Ký hợp đồng bảo trì đối với hệ thống

 Một vài ứng dụng CNTT trong doanh nghiệp:
Ứng dụng quản lý việc bán hàng

Chỉ áp dụng tại phòng bán hàng và Marketing để quản lý:
- Hồ sơ khách hàng một cách cho tiết.
- Các Hợp Đồng bán hàng với Khách Hàng
- Đơn Hàng Bán” để tạo lệnh giao hàng và theo dõi chi tiết giao hàng từng
phần.
- Thiết lập đơn hàng bán bị trả lại hay bù hàng, để bù cho một khách hàng
các hàng hóa không đúng hoặc hư hỏng…

Ứng dụng quản lý tài chính – kế toán của công ty

Chỉ áp dụng tại phongd tài chính – kế toán:
- Cho phép phân bổ các dữ liệu trong tài khoản, cho các bộ phận, các dự án,
hợp đồng, thông qua các tiêu thức phân bổ. Tiêu thức phân bổ có thể căn
cứ vào số lượng, tỷ lệ hoặc số tiền. Tiêu thức phân bổ được sử dụng cho
Trường Đại Học Kinh Tế Tp. Hồ Chí Minh Lớp Quản Trị Kinh Doanh K13
GVHD Nguyễn Văn Năm Bài tiểu luận nhóm 14
nhiều mục đích khác nhau, chẳng hạn như phân bổ chi phí (tiền thuê nhà,
bảo hiểm trả trước, …) cho các trung tâm chi phí của công ty.

dụ như mô hình (ERP)
ERP: ( Enterprise Resource Planning)

- ERP là phần mềm (PM) trên máy tính tự động hoá các tác nghiệp của đội ngũ
nhân viên của DN nhằm mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động và hiệu quả quản
lý toàn diện của DN. Nói cách khác, ERP là PM phục vụ tin học hóa tổng thể
doanh nghiệp. Đây chỉ là một cách nhìn “dễ hiểu” về khái niệm ERP. Trên thực
Trường Đại Học Kinh Tế Tp. Hồ Chí Minh Lớp Quản Trị Kinh Doanh K13
GVHD Nguyễn Văn Năm Bài tiểu luận nhóm 14
tế, khái niệm ERP theo chuẩn quốc tế giới hạn trong phạm vi hoạch định nguồn
lực, các nguồn lực bao gồm nhân lực (con người), vật lực (tài sản, thiết bị ) và
tài lực (tài chính). Khối lượng công việc trong hoạch định và sử dụng các nguồn
lực của DN chiếm phần lớn trong toàn bộ hoạt động của DN nên ERP là hệ
thống PM rất lớn.

- Khác biệt cơ bản của ERP so với việc duy trì nhiều PM quản lý rời rạc
+ Điểm phân biệt cơ bản nhất của việc ứng dụng ERP so với cách áp dụng nhiều
PM quản lý rời rạc khác (như PM kế toán, quản lý nhân sự, quản lý bảo hành )
là tính tích hợp. ERP chỉ là một PM duy nhất và các module của nó thực hiện các
chức năng tương tự như các PM quản lý rời rạc, nhưng các module này còn làm
được nhiều hơn thế trong môi trường tích hợp. Tính tích hợp của hệ thống ERP
được gọi là tính “tổng thể hữu cơ” do các module có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau như các bộ phận trong cơ thể chúng ta. Vì sự khác biệt cơ bản này mà cách
tiếp cận xây dựng hệ thống ERP của các công ty PM và cách hiểu về PM ERP
của chúng ta cũng khác đi so với cách hiểu về PM thông thường. ERP là PM mô
phỏng và quản lý các hoạt động của DN theo quy trình.
Trường Đại Học Kinh Tế Tp. Hồ Chí Minh Lớp Quản Trị Kinh Doanh K13
GVHD Nguyễn Văn Năm Bài tiểu luận nhóm 14
+ Cách tổ chức nhân sự theo phòng, ban của tất cả các DN hiện nay là cách tổ
chức nhân sự theo từng nhóm mà DN cho là tốt nhất để có thể dễ dàng tác nghiệp

dưới sự giúp đỡ của các công ty tư vấn xây dựng hệ thống quản lý chất lượng
ISO.

Trường Đại Học Kinh Tế Tp. Hồ Chí Minh Lớp Quản Trị Kinh Doanh K13
GVHD Nguyễn Văn Năm Bài tiểu luận nhóm 14
- Mối quan hệ giữa các mo đun là 2 chiều chung 1 CSDL


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status