thái độ của phụ huynh học sinh trường thpt nguyễn thượng hiền đối với giáo dục giới tính - Pdf 16

ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA TÂM LÝ – GIÁO DỤC
DƯƠNG THỊ NHƯ MƠ
THÁI ĐỘ CỦA PHỤ HUYNH HỌC SINH TRƯỜNG THPT
NGUYỄN THƯỢNG HIỀN ĐỐI VỚI GIÁO DỤC GIỚI TÍNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH CỬ NHÂN TÂM LÝ HỌC
Đà nẵng 2010
Trang 1
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em đã nhận được rất nhiều sự
sự giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo, gia đình, bạn bè, và người thân.
Trước hết, em xin bày tỏ lòng chân thành biết ơn đến các thầy giáo, cô
giáo khoa tâm lý – giáo dục đã cung cấp cho các em kiến thức trong 4 năm
học qua để em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo – Thạc sỹ Lê Thị Phi – cô giáo trực
tiếp hướng dẫn đã nhiệt tình dẫn dắt, tận tâm chỉ bảo em trong suốt quá trình
làm đề tài.
Con cảm ơn ba mẹ đã sinh thành và nuôi dưỡng con, là điểm tựa vững
chắc cho con suốt năm tháng qua.
Xin chân thành cảm ơn phụ huynh và các em học sinh THPT trường
Nguyễn Thượng Hiền đã giúp em trong quá trình điều tra thu thập số liệu thực
tiễn.
Cảm ơn các bạn trong lớp đã giúp đỡ tôi trong thời gian học tập cũng
như chia sẻ tài liệu, đóng góp ý kiến giúp tôi làm tốt đề tài của mình.
Trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi sai sót, rất mong sự đóng
góp ý kiến của thầy cô và các bạn để những công trình nghiên cứu tiêp theo
được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn !
Đà Nẵng, ngày 22/5/2010
Sinh viên thực hiện
Dương Thị Như Mơ

1.2.3.2.1. Khái niệm về giới tính và các mối quan hệ 20
1.2.3.2.2. Những thay đổi về tâm sinh lý của lứa tuổi THPT 22
1.2.3.2.3. Khái niệm về tình yêu 24
1.2.3.2.4. Khái niệm về tình dục và sức khỏe sinh sản 25
1.2.3.3. Giáo dục giới tính trong trường phổ thông 29
1.2.4. Vai trò của giáo dục giới tính đối với học sinh THPT 30
1.2.5. Những tác hại và nguyên nhân khi học sinh thiếu kiến thức về giáo
dục giới tính 33
1.2.6. Những vấn đề lý luận về “Thái độ của phụ huynh học sinh trung
học phổ thông trường THPT Nguyễn Thượng Hiền đối với giáo dục giới
tính” 35
1.2.6.1. Khái niệm phụ huynh học sinh 35
1.2.6.2. Khái niệm thái độ của phụ huynh học sinh THPT Nguyễn
Thượng Hiền đối với giáo dục giới tính 35
1.2.6.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của phụ huynh học sinh
THPT Nguyễn Thượng Hiền về giáo dục giới tính 36
Chương 2. TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU.
2.1. Vài nét về khách thể nghiên cứu 39
2.2. Quy trình thực hiện phương pháp nghiên cứu 39
2.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 39
2.2.2. Phương pháp phỏng vấn 45
2.2.3. Phương pháp thống kê toán học 46
Trang 4
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.
3.1. Thái độ của phụ huynh học sinh THPT trường Nguyễn Thượng Hiền đối
với giáo dục giới tính được thể hiện ở mặt nhận thức. 48
3.1.1. Nhận thức của phụ huynh học sinh THPT trường Nguyễn Thượng
Hiền về biểu hiện khái niệm giáo dục giới tính cho học sinh 48
3.1.2. Nhận thức của phụ huynh về một vài nội dung của giới tính 51

Bảng
2
Nhận thức của phụ huynh về một số nội dung của giáo dục
giới tính.
50
Bảng
3
Nhận thức của phụ huynh về lĩnh vực tình dục trong giáo
dục giới tính.
52
Bảng
4
Nhận thức của phụ huynh về lĩnh vực tình yêu trong giáo
dục giới tính.
53
Bảng
5.
Nhận thức của phụ huynh đối với giáo dục giới tính ở trong
gia đình.
54
Bảng
6
Nhận thức của phụ huynh về vai trò của giáo dục giới tính
đối với các em học sinh THPT.
55
Bảng
7
Nhận thức của phụ huynh về việc đưa chương trình giáo
dục giới tính vào trong nhà trường.
57

Bảng
14.
Tổng hợp mặt xúc cảm chung của phụ huynh học sinh
THPT trường Nguyễn Thượng Hiền đối với giáo dục giới
67
Trang 7
tính xét theo giới tính.
Bảng
15
Ứng xử của phụ huynh khi biết con mình có bạn trai(bạn
gái).
68
Bảng
16
Tìm hiểu cách thức giáo dục giáo dục giới tính cho học sinh
THPT của phụ huynh.
70
Bảng
17
Tìm hiểu thời điểm mà phụ huynh học sinh đã giáo dục giới
tính cho con em từ khi nào.
71
Bảng
18
Hành vi ứng xử của phụ huynh khi con cái chủ động hỏi về
vấn đề giới tính.
72
Bảng
19
Hành vi mà phụ huynh giáo dục giới tính cho con 73

Trang 8
Bảng
25
Tổng hợp mặt hành vi xét theo giới tính. 77
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, xã hội càng phát triển thì đời sống con người ngày càng
được cải thiện hơn với mục tiêu hình thành nên những thế hệ sau có sự phát
triển về thể chất và tinh thần một cách toàn diện, nhằm đào tạo nhân tài cho
đất nước, cho sự phát triển bền vững của xã hội.
Một trong những mục tiêu phát triển toàn diện con người hướng vào
thế hệ trẻ là giáo dục giới tính cho học sinh THPT nhằm nâng cao hiểu biết
cho học sinh về giới tính, định hướng các em trong mối quan hệ với bạn khác
Trang 9
giới, với hôn nhân và gia đình. Giới tính, tình dục, tình yêu là vấn đề muôn
thuở của xã hội loài người như cơm ăn nước uống, một vấn đề tự nhiên cho sự
phát triển của con người cho mọi quá trình sống khác như giao tiếp, lao động,
nghỉ ngơi……Do vậy giáo dục giới tính có ý nghĩa xã hội quan trọng trên cả
hai phương diện nâng cao chất lượng giống nòi và chất lượng cuộc sống.
Học sinh THPT là lứa tuổi đang trong quá trình phát triển mạnh mẽ về
tâm sinh lý. Nhờ sự phát triển mạnh mẽ này làm các em có dáng vẻ người lớn,
ghi dấu cho sự trưởng thành mà đặc điểm nổi bậc nhất là sự triển khai của quá
trình phát dục. Gắn liền với hiện tượng này là sự xuất hiện những nhu cầu
mới về tình bạn khác giới, tình dục và tình yêu.
Trước sự phát triển về tâm lý thể chất của học sinh và sự phát triển
mạnh của các phương tiện thông tin đại chúng có những vấn đề về giới, giới
tính, tình dục tình yêu, nên không thể để các em tự mò mẫm trong việc thỏa
mãn những nhu cầu mới nảy sinh của mình khi mà sự hiểu biết và kinh
nghiệm còn quá ít ỏi, không thể để trẻ em tự phát thu nhận những vấn đề nhạy
cảm trên những phương tiện thông tin không phải lúc nào cũng đúng đắn và

phổ thông.
3. Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu, đối tượng khảo sát.
Đối tượng nghiên cứu: Thái độ của phụ huynh học sinh trường THPT
Nguyễn Thượng Hiền đối với giáo dục giới tính
Khách thể nghiên cứu : Phụ huynh học sinh trường THPT Nguyễn
Thượng Hiền
Đối tượng khảo sát: Khảo sát trên 100 phụ huynh học sinh của trường
THPT Nguyễn Thượng Hiền
4. Giả thuyết khoa học
Trang 11
Phụ huynh học sinh trường Trung Học Phổ Thông Nguyễn Thượng
Hiền có thái độ tích cực đối với giáo dục giới tính cho học sinh THPT. Tuy
nhiên còn một số ít phụ huynh còn ngại ngùng và chưa có ứng xử hợp lý
trong giáo dục giới tính cho con em.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu các vấn đề lý luận chung về giáo dục giới tính và thái độ
của phụ huynh học sinh đối với giáo dục giới tính.
Tìm hiểu thực trạng thái độ của phụ huynh học sinh THPT trường
Nguyễn Thượng Hiền đối với giáo dục giới tính.
Trên cơ sở đó đề xuất một biện pháp giúp cho phụ huynh học sinh
trường THPT Nguyễn Thượng Hiền có thái độ tích cực đối với giáo dục giới
tính.
6. Phạm vi nghiên cứu.
Do điều kiện hạn chế, trong phạm vi của đề tài chúng tôi chỉ nghiên
cứu thái độ cha mẹ của học sinh THPT trường Nguyễn Thượng Hiền đối với
giáo dục giới tính.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận.
Để xây dựng hệ thống khái niệm làm cơ sở lý luận cho đề tài, chúng
tôi sử dụng nhóm phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát về lý thuyết.

tình dục. Như trên đảo Ponape, trẻ em từ 4 đến 5 tuổi được người lớn giáo
dục tình dục một cách kỹ lưỡng và khuyến khích thực hành với nhau. Trong
tộc người Chewa ở Châu Phi bố mẹ cho rằng thực hành tình dục sẽ làm cho
cá nhân hoàn hảo, với sự đồng ý của bố mẹ trẻ trai và trẻ gái làm lều chơi trò
vợ chồng với nhau [3].
Hoặc theo như các hiện vật đời xưa để lại cho thấy ở Trung Quốc các
cô gái khi về nhà chồng thường được mẹ đặt trong rương quần áo, hay hộp
của hồi môn những món quà quý giá nhất. Đó là những quyển sách dạy làm
tình, có mô tả hoặc thường là hình vẽ dạy các tư thế làm tình sao cho cả hai
vợ chồng đều đạt đến khoái cảm cao nhất (loại hình giáo dục giới tính cổ đại).
Ngược lại có một số nền văn hóa coi tình dục là vấn đề nghiêm cấm và
nghiêm khắc đề nén những biểu hiện của tình dục, như trẻ em người Kwoma
ở New Guinea bị trừng phạt nếu như chơi trò chơi giới tính, và cấm chạm vào
người nhau[3].
Ngày nay giáo dục giới tính đã trở nên cần thiết cho con người nên
một số quốc gia như Tiệp Khắc, HungGaRi, Ba Lan đã đưa chương trình giáo
dục giới tính vào trong nhà trường bằng những chương trình bắt buộc. Còn
các nước phương Tây như Anh, Đan Mạch, Thụy Điển đã tiến hành giáo dục
học sinh khá sớm (1966). Ở Pháp chương trình giáo dục nội dung này thực
hiện từ năm 1973. Đặc biệt một số nước ở Châu Á, Phi Mỹ Latinh cũng đưa
chương trình giới tính vào trường phổ thông và đạt nhiều kết quả tốt. Trung
quốc tiến hành giáo dục giới tính cho học sinh từ năm 1974 và hiện nay là
một trong những nước có công trình nghiên cứu cũng như có sự phát triển cao
Trang 14
về khoa học về giới tính, nhằm cung cấp cho các em những kiến thức và kỹ
năng liên quan đến sự phát triển về tâm sinh lý của bản thân.
Con người ngày càng hiểu rõ vai trò và tầm quan trọng của giáo dục
giới tính nên đã có nhiều dự án, chương trình giáo dục về giới cho các em học
sinh. Tùy vào điều kiện phát triển của từng vùng miền vào khả năng thực
hiện nên có những chương trình riêng như việc nghiên cứu sức khỏe sinh sản

42% các em gái nói rằng các em không hề được bố mẹ nói về các biện pháp
tránh thai hiệu quả và 40% thừa nhận rằng họ không hề trò chuyện với bố mẹ
về vấn đề làm thế nào để từ chối quan hệ trước khi họ bắt đầu động chạm các
vùng nhạy cảm.
Tiến sĩ Karen Soren, giám đốc khoa thanh thiếu niên, Bệnh viện trẻ
em Morgan Stanley ở New York cho biết: "Nhiều bậc cha mẹ cứ đinh ninh
rằng họ đã trò chuyện với con, nhưng lũ trẻ lại không hề nhớ điều đó. Cha mẹ
đôi khi chỉ nói bóng gió, qua loa vì họ không thấy thoải mái và họ nghĩ rằng
như thế là con họ đã hiểu những thực tế bọn trẻ lại chẳng hiểu gì”.
Ủy ban dân số và kế hoạch hóa gia đình, Trung tâm tư vấn về kế
hoạch hóa gia đình và Trung tâm sức khỏe sinh sản của tỉnh Tô Châu, Trung
Quốc đã điều tra vấn đề “Thái độ của thanh niên và phụ huynh học sinh đối
với vấn đề giới tính”, mang lại kết quả sau: Có đến 19.37% phụ huynh cho
rằng không nên giáo dục giới tính cho con cái và 25% cho rằng nên. Cuộc
điều tra cho thấy các bậc phụ huynh đang có sự lúng túng trong giáo dục giới
tính với con cái, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thiếu hiểu
biết của thanh niên về giới tính.
1.1.2. Ở Việt Nam:
Do ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến, quan niệm của người Việt vẫn
xem tình yêu, nhất là tình dục là những điều cấm kị đối với con trẻ, tuyệt đối
không được để cho tâm hồn trẻ em vẩn đục bởi những thứ ái tình lục dục,
Trang 16
thường thì lớn lên tự chúng sẽ biết theo cách nghĩ của người xưa. Điều này
được thể hiện trong tục ngữ như “Nam nữ thụ thụ bất thân”. Những lời nói, cử
chỉ của con gái và con trai phải ý tứ, không được tùy tiện, nếu như có sự thắc
mắc hay quan tâm đến vấn đề về giới thì không được cha mẹ hưởng ứng, trái
lại còn bị xem là hư hỏng, không đoan chính.
Từ năm 1985 có rất nhiều công trình nghiên cứu về giới tính, tình yêu,
hôn nhân gia đình đã được công bố. Các tác giả Đặng Xuân Hoài, Trần Trọng
Thủy, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Thị Đoan……đã nghiên cứu nhiều vấn đề

Việt NamExpress những thông tin như làm thế nào để đạt cực khoái, những
điểm nàng thích … Ở dịch vụ nhắn tin GPRS nhan nhản khắp nơi, là một nỗi
lo chính đáng của các bậc cha mẹ. Dù đã có thái độ tích cực hơn so với các
thế hệ trước nhưng các bậc phụ huynh vẫn còn lúng túng và không biết cách
truyền thụ cho con cái những vấn đề rất đỗi bình thường như cơm ăn nước
uống hằng ngày[23]. Đó chính là giáo dục giới tính.
Theo công trình nghiên cứu tình dục của viện nghiên cứu phát triển xã
hội Việt Nam cho thấy xã hội còn nhiều định kiến về giới tính và sex. Công
trình nghiên cứu được thực hiện ở Hà Nội, Cần Thơ và Hà Tây cũ, có 245
người thuộc bốn thế hệ thuộc vào độ tuổi từ 15 đến 65 tuổi với mục đích tìm
hiểu về thái độ của người Việt về tình dục trong vòng nửa thế kỷ qua từ năm
2004 – 2007. Đồng thời việc nghiên cứu này còn xuất bản cuốn sách nói về:
Tình dục trong xã hội Việt nam hiện đại đang đối mặt với nhiều thử thách
nhằm thích ứng với môi trường kinh tế xã hội đang biến chuyển nhanh chóng.
Một trong những thử thách đó là tình dục và sức khỏe sinh sản.
Còn theo một nghiên cứu của Bộ Y tế, 66,7% nam giới hiện nay chấp
nhận quan hệ tình dục trước hôn nhân, nhưng lại có tới 69,7% bố mẹ cho rằng
Trang 18
việc giáo dục giới tính không được nhắc đến trong gia đình vì lý do con còn
nhỏ.
Quan điểm tình dục chỉ nên nói ở chốn riêng tư, không nên luận bàn ở
nơi công cộng vẫn tồn tại. Điều đáng nói là, chúng ta không thể hiện một cách
nghiêm túc trong giáo dục, nhưng thực tế thực hành tình dục lại được phơi
bày ở chốn công cộng.
1.2. Những khái niệm cơ bản sử dụng trong đề tài.
1.2.1. Cơ sở lý luận chung về thái độ
1.2.1.1. Khái niệm thái độ
Thái độ là một hiện tượng tâm lý được nghiên cứu nhiều trong tâm lý
học xã hội, ngay từ năm 1935 trong “sổ tay tâm lý học xã hội” Allport đã cho
rằng “ Thái độ có lẽ là khái niệm phân biệt nhất và quan trọng nhất trong tâm

là: “Thiên hướng hành động, nhận thức, tư duy, cảm nhận của anh ta với
khách thể liên quan”. Đó là sự sẵn sàng phản ứng, những gì mà chúng ta tin
là đúng và có một thái độ nhất định về một khách thể nào đó hay một nhóm
nào đó sẽ đóng vai trò hiển nhiên trong sự quy định sẵn sàng phản ứng theo
một cách thức nhất định của chúng ta. Tuy nhiên định nghĩa này chưa bao
hàm một thực tế rằng trong nhiều trường hợp, quá trình này diễn ra phức tạp
hơn nhiều.
Tác giả Philipkotkie thì cho rằng: Thái độ là sự đánh giá tốt hay xấu của
cá thể được hình thành trên tri thức hiện có và bền vững về một khách thể hay
một ý tưởng nào đó quy định phương hướng hành động. Định nghĩa này chỉ ra
sự đánh giá của cá nhân với một sự vật hiện tượng nào đó trong cuộc sống,
chính sự đánh giá là tốt hay là xấu này quy định thái độ của cá nhân đối với
sự vật hiện tượng đó.
Như vậy các định nghĩa trên của các nhà tâm lý học được diễn đạt bằng
nhiều hình thức khác nhau nhưng đều chung một quan điểm là nghiên cứu
Trang 20
thái độ theo quan điểm, chức năng thái độ định hướng hành vi ứng xử các vấn
đề xã hội.
Ở Việt Nam cũng có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm thái độ.
Theo từ điển tâm lý học của Nguyễn Khắc Viện thì trước một đối
tượng nhất định, nhiều người thường có phản ứng tức thì, tiếp nhận dễ dàng
hay khó khăn, đồng tình hay chống đối như đã có sẵn, có những cơ cấu tâm lý
tạo ra định hướng cho việc ứng phó. Từ những thái độ có sẵn, tri giác về đối
tượng cũng như tri thức bị chi phối về vấn đề thì thái độ gắn liền với tâm thế .
Trong từ điển tâm lý học (Vũ Dũng – chủ biên ) thì lại cho rằng; Thái
độ là những phản ứng tức thì, tiếp nhận dễ dàng hay khó khăn, đồng tình hay
chống đối như có sẵn những cơ cấu tâm lý ra định hướng cho việc ứng phó.
Trong tâm lý học xã hội thái độ là sự sẵn sàng ổn định của cá nhân để
phản ứng với lại tình huống gắn liền với một cá nhân đó. Và đối với một số
nhà tâm lý học Việt Nam thái độ thường biểu hiện bởi tính cách. Thái độ

hiện có thể là không giống nhau.
Như vậy trong những tình huống, hoàn cảnh, điều kiện cụ thể thì thái độ
tồn tại như một trạng thái, một tâm thế chủ quan, chi phối sự định hướng,
quyết định hành vi phản ứng của cá nhân được biểu hiện ở hành vi, cử chỉ,
ngôn ngữ ở bên ngoài hay những cảm xúc bên trong cá nhân. Vì vậy chúng ta
vừa có cái nhìn khoa học, vừa linh hoạt khi nghiên cứu và đánh giá về thái độ
của con người.
1.2.1.3. Cấu trúc thái độ
Với những quan điểm và định nghĩa khác nhau về thái độ thì có những
quan điểm khác nhau về cấu trúc của thái độ.
Tuy nhiên phần lớn các nhà tâm lý học đều nhất trí với ba cấu trúc ba
thành phần của thái độ do Smith (1942) đưa ra. Theo ông thái độ bao gồm
nhận thức, tình cảm và hành vi của cá nhân với đối tượng.[8, tr. 324 – 325]
Trang 22
+ Yếu tố nhận thức:
Nhận thức là kiến thức của cá nhân về đối tượng của thái độ, cho dù kiến
thức của cá nhân có tương ứng hay không tương ứng, tức là có đúng hay
không.
Nhận thức là yếu tố tiền đề, đầu tiên của thái độ, là khi đứng trước một
đối tượng nào đó người ta sẽ không có thái độ nếu như không biết gì về đối
tượng đó. Con người có thể đạt đến những mức độ nhận thức khác nhau. Mức
độ thấp là nhận thức cảm tính bao gồm cảm giác, tri giác, ở mức độ cao là
nhận thức lý tính bao gồm tư duy, tưởng tượng. Hai mức độ này có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau, bổ xung cho nhau, chi phối lẫn nhau cùng hoạt động
thống nhất của con người.
Nhận thức trong cấu trúc của thái độ thể hiện chủ yếu ở những quan
điểm, những đánh giá của chủ thể về đối tượng của thái độ. Đặc biệt một
trong những yếu tố quan trọng nhất là trong nhận thức của thái độ là quan
điểm và đánh giá về mối quan hệ mà đối tượng của thái độ có được đối với
mục đích quan trọng nào đó.

cảm được thường chứa đựng yếu tố ý thức và hành vi có các khía cạnh của
yếu tố tình cảm. Có nghĩa là một người nào đó thích đối tượng của thái độ
(yếu tố tình cảm) thì tin rằng đối tượng sẽ dẫn đến một điều gì đó tốt đẹp,
(yếu tố ý thức) và có xu hướng hành động một cách tích cực với đối tượng, có
những hành vi mang tính tích cực nhiều (yếu tố hành vi). Tùy theo tình huống
mà một thành phần nào đó chiếm vị trí chủ đạo chi phối hành vi cá nhân. Cấu
trúc ba thành phần là cơ sở cho việc xây dựng các thang đo thái độ khi nghiên
cứu.
1.2.1.4. Chức năng thái độ
Trang 24
Tổng kết những ý kiến của các nhà nghiên cứu chúng ta có một số
chức năng chủ yếu sau:
- Chức năng thích nghi: Tùy vào những trường hợp cụ thể mà con người
thay đổi do tác động của môi trường xung quanh nhằm đạt được mục đích đề
ra.
- Chức năng nhận thức: Nhờ thái độ mà chủ thể biết cách ứng xử như thế
nào trong các tình huống khác nhau một cách đơn giản, tiết kiệm thời gian,
sức lực, năng lực thần kinh.
- Chức năng biểu hiện: Thái độ là phương tiện giúp con người biểu lộ
cảm xúc, đánh giá, hoạt động và thể hiện nhân cách của mình.
- Chức năng tự bảo vệ: Giúp con người tìm cách tự bào chữa, tìm lý do
giải thích, hợp lý hóa hành vi của mình, giảm bớt xung đột nội tâm.
1.2.1.7. Phân loại thái độ
Từ các quan điểm khoa học khác nhau, các nhà tâm lý học đã có sự
phân loại thái độ theo các cách khác nhau. Chẳng hạn: dựa vào tính chất của
thái độ, V.N.Miasixev đã chia thái độ thành các loại là thái độ tích cực, thái
độ trung tính, phân cực. Biểu hiện của nó có thể là phản ứng hoặc đánh giá
thích hay không thích, đồng ý hay không đồng ý.
B.Ph.Lomov lại dựa vào tính chi phối của thái độ để chia thái độ thành
hai loại là thái độ chủ đạo hay thứ yếu. Các loại thái độ chủ đạo(hay chi phối)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status