Lêi më ®Çu
Sự đổi mới sâu sắc cơ chế quản lý kinh tế, đòi hỏi nền kinh tế quốc gia phải
được tiếp tục đổi mới một cách toàn diện, nhằm tạo ra sự ổn định của môi trường
kinh tế, hệ thống pháp luật tài chính, lành mạnh hoá các quan hệ và các hoạt động
tài chính. Sự đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta chuyển nền kinh tế kế hoạch
hoá tập trung sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế
thị trường có sự điều tiết của nhà nước theo định hướng XHCN.
Trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh diễn ra hết sức gay gắt, sự sống
còn của Doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào sức cạnh tranh. Đối với mỗi đơn vị
sản xuất kinh Doanh, là đơn vị trực tiếp tạo ra của cải vật chất, cung cấp sản phẩm
dịch vụ cho nhu cầu sản xuất tiêu dùng của toàn xã hội. Do đó muốn tồn tại và phát
triển, doanh nghiệp cần chiếm lĩnh thị trường. Mà để đạt dược diều này, các doanh
nghiệp phải có sự kết hợp tối ưu giữa các yếu tố sản xuất nhằm tạo ra những sản
phẩm có chất lượng, giá cả hợp lý và được thị trường chấp nhận.
Ngay cả khi sự cạnh tranh không chỉ đơn thuần là sự cạnh tranh về chất
lượng, mà còn là sự cạnh tranh về giá cả, thì vấn đề giảm chi phí, hạ giá thành sản
phẩm luôn được dặt lên mục tiêu hàng đầu của mỗi doanh nghiệp. Nếu như trong
mô hình quản lý kinh tế cũ, doanh nghiệp sản xuất theo chỉ tiêu pháp lệnh do nhà
nước giao trách nhiệm về mọi mặt: giá mua, giá bán sản phẩm. Ngày nay, doanh
nghiệp quản lý chặt chẽ mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mình nhằm giảm
chi phí, hạ giá thành sản phẩm. Khi giá cả hợp lý, doanh nghiệp và sản phẩm của
mình sẽ được thị trường chấp nhận, tiêu thụ nhanh, nhiều giúp doanh nghiệp có
doanh thu cao, có tiền để bù đắp các chi phí bỏ ra, hoàn thành nghĩa vụ đối với nhà
nước và các tổ chức cá nhân có quan hệ với các doanh nghiệp. Để doanh nghiệp
thu được lợi nhuận tối đa, bí quyết thành công của nhiều doanh nghiệp cho thấy: để
giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm phải có một hệ thống thông tin đầy đủ kịp thời
và chính xác ở các hoạt động kinh doanh phục vụ quá trình ra quyết định của các
nhà quản lý.
1
Nhằm thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường và củng cố kiến thức đã
học một cách toàn diện có hệ thống, sau khi hoàn thành chương trình học tập ở
Giá thành sản phẩm xây lắp là chỉ tiêu đánh giá kết quả của HĐSXKD trong
doanh nghiệp. Việc tăng năng suất lao động, tiết kiệm vật tư hoàn thiện kỹ thuật thi
công, rút ngắn thời gian thi công, sử dụng hợp lý vốn sản xuất cùng các giải pháp
kinh tế kỹ thuật áp dụng trong toàn DN sẽ giúp doanh nghiệp quản lý, sử dụng hợp
lý, hạ giá thành tới mức tối đa. Đây là điều kiện quan trọng để DN tăng khả năng
trúng thầu, tạo thu nhập cho CBCNV.
1.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất tính giá thành sản phẩm xây lắp
Giá thành sản phẩm xây lắp và chi phí có liên quan chặt chẽ với nhau trong
quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm . Việc tính đúng, tính đủ CPSX quyết định đến
tính chính xác của giá thành sản phẩm.Tuy nhiên, do bộ phận CPSX giữa các kỳ
không đều nhau nên giá thành và chi phí khác nhau về lượng. Điều đó được thể
hiện qua sơ đồ :
CP SX DD ĐK CP SX PS TK
Tổng giá thành SPXL CP SX DD CK
Qua sơ đồ ta thấy :
3
Giá thành
sản phẩm
=
Giá trị sản phẩm
dở dang ĐK
+
Chi phí sản xuất
trong kỳ
-
Giá trị sản phẩm
dở dang CK
Cũng trên góc độ mặt lượng, nếu CPSX là tổng hợp những chi phí phát sinh
trong một thời kỳ nhất định thì giá thành sản phẩm lại là tổng hợp những chi phí
chi ra gắn liền với việc sản xuất và hoàn thành công việc xây lắp nhất định được
lý CPSX theo định mức…
2.2.3. Phân loại chi phí theo mối quan hệ với khối lượng hoạt động
- Chi phí thay đổi - Chi phí cố định
- Chi phí hỗn hợp
Phân loại theo cách này có tác dụng quan trọng trong công tác quản trị doanh
nghiệp, để phân tích điểm hoà vốn…
2.2.4. Phân loại chi phí theo mối quan hệ với quy trình công nghệ sản xuất
- Chi phí cơ bản - Chi phí chung
Cách phân loại này có tác dụng giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp xác định
đúng phương hướng và biện pháp sử dụng tiết kiệm chi phí đối với từng loại.
2.2.5. Phân loại chi phí theo phương pháp tập hợp chi phí vào các đối tượng chi phí
- Chi phí trực tiếp - Chi phí gián tiếp
Cách phân loại này có tác dụng trong việc xác định phương pháp tập hợp chi phí
vào các đối tượng phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm, lao vụ…
2.3. Phương pháp kế toán chi phí sản xuất
2.3.1. Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (CP NVL TT)
2.3.1.1. Nội dung chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí NVL TT là biểu hiện bằng tiền của giá trị nguyên vật liệu sử dụng
trực tiếp để sản xuất sản phẩm xây lắp, sản xuất công nghiệp, dịch vụ trong doanh
nghiệp xây lắp. Chi phí NVL TT được căn cứ vào các chứng từ xuất kho để tính
giá trị thực tế vật liệu trực tiếp xuất dùng.
2.3.1.2. Tài khoản sử dụng
Để phản ánh chi phí NVL TT và tình hình kết chuyển hoặc phân bổ các chi
phí này theo từng đối tượng chi phí, kế toán sử dụng tài khoản 621 – Chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp.
Kết cấu tài khoản 621 (Phụ lục 01)
2.3.1.3. Trình tự kế toán chi phí NVL TT
Sơ đồ hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (Phụ lục 02)
2.3.2. Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
5
- TK 6233 – Chi phí dụng cụ sản xuất - TK 6238 – Chi phí bằng tiền khác
6
2.3.3.3. Trình tự kế toán chi phí sử dụng MTC
* Trường hợp doanh nghiệp tổ chức đội MTC riêng biệt, chuyên thực hiện các
khối lượng thi công bằng máy hoặc giao máy thi công cho các đội hay các xí
nghiệp xây lắp có tổ chức kế toán riêng thì các chi phí liên quan đến sử dụng MTC
sẽ phản ánh ở TK 621,622,627.
*Trường hợp doanh nghiệp xây lắp không tổ chức đội MTC riêng biệt hoặc
có tổ chức đội MTC riêng nhưng không tổ chức kế toán riêng
Sơ đồ hạch toán chi phí sử dụng MTC (Phụ lục 06)
2.3.4. Kế toán chi phí sản xuất chung
2.3.4.1. Nội dung chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung (CPSXC) là những chi phí liên quan đến quá trình
quản lý ở các tổ đội như tiền lương, các khoản trích theo lương của CNV quản lý
tổ, đội nhân viên sử dụng MTC, nhân viên quản lý đội thuộc biên chế doanh
nghiệp; khấu hao TSCĐ dùng chung cho hoạt động của đội và các chi phí khác
lliên quan đến hoạt động của đội.
2.3.4.2. Tài khoản sử dụng
Để tập hợp, phân bổ và kết chuyển CPSXC vào các đối tượng chịu chi phí,
kế toán sử dụng tài khoản 627 – Chi phí sản xuất chung
Tài khoản này có 6 tài khoản cấp 2 như sau:
- TK 6271 – Chi phí nhân viên phân xưởng - TK 6274 – Chi phí khấu hao TSCĐ
- TK 6272 – Chi phí vật liệu - TK 6277 - Chi phí dịch vụ mua ngoài
- TK 6273 – Chi phí dụng cụ sản xuất - TK 6278 – Chi phí bằng tiền khác
Kết cấu của TK 627 – Chi phí SXC (Phụ lục 07)
2.3.4.3. Trình tự kế toán chi phí sản xuất chung
Sơ đồ hạch toán chi phí sản xuất chung (Phụ lục 08)
7
2.4. Tổng hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp
2.4.1. Nội dung tập hợp chi phí sản xuất
phẩm xây lắp. Giá thành dự toán được xác định trên cơ sở các định mức của nhà
nước và khung giá quy định áp dụng vào từng vùng lãnh thổ, và từng vùng địa
phương .
Giá thành dự toán =
Giá trị dự toán xây lắp
sau thuế
- Thuế GTGT -
Thu nhập chịu
thuế khác
Giá thành kế hoạch : Là giá được xuất từ những điều kiện cụ thể của DN trên cơ
sở biện pháp thi công, các định mức về đơn giá áp dụng trong DN.
Giá thành kế hoạch = Giá thành dự toán -
Mức hạ giá thành
toàn bộ
+
Các khoản bù
chênh lệch
Giá thành thực tế : Là mức giá phản ánh toàn bộ các chi phí thực tế phát sinh để
hoàn thành bàn giao khối lượng xây lắp và được xác định theo số liệu kế toán.
Nếu thực hiện so sánh 3 mức giá thành trên cùng một đối tượng tính giá thành
thì chúng thường có mối quan hệ chặt chẽ với nhau về mặt lượng như sau:
Giá thành dự toán > Giá thành kế hoạch > Giá thành thực tế
3.1.2.2. Phân loại theo phạm vi tính toán và nội dung chi phí cấu thành trong giá thành
Giá thành sản xuất: gồm 3 khoản mục chi phí: NVLTT, NCTT, SXC và được chia
thành:
- Giá thành sản xuất theo biến phí
- Giá thành sản xuất có phân bổ chi phí cố định
Giá thành toàn bộ: là giá thành sản xuất cộng với chi phí bán hàng, chi phí quản lý
doanh nghiệp.
3.2. Phương pháp xác định giá trị sản phẩm dở dang
Giá trị SPDD
cuối kỳ từng KM =
Chi phí SPDD đầu kỳ + Chi phí PS trong kỳ
Số lượng SP hoàn thành + Số lượng SPDD cuối kỳ
Đối với các khoản mục chi phí bỏ dần:
3.2.3. Phương pháp đánh giá SPDD theo CPSX định mức
Đối với các doanh nghiệp đã xây dựng được hệ thống định mức và dự toán
chi phí cho từng loại sản phẩm thì doanh nghiệp có thể áp dụng phương pháp đánh
giá SPDD theo CPSX định mức.
Theo phương pháp này kế toán căn cứ vào khối lượng SPDD, mức độ hoàn
thành của SPDD ở từng công đoạn sản xuất và định mức từng khoản mục chi phí ở
từng công đoạn sản xuất để tính ra giá trị SPDD theo chi phí định mức.
Giá trị SPDD
cuối kỳ từng KM
= Chi phí SPDD đầu kỳ + Chi phí PS trong kỳ
Số lượng SP hoàn thành + Số lượng SP hoàn thành TĐ
10
3.3. Phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp
Việc xác định phương pháp tính giá thành có ý nghĩa quan trọng trong hạch toán
chi phí theo đối tượng tính giá thành. Cùng với việc xác định phương pháp tính giá
thành thì ta phải xác định được kỳ tính giá thành phù hợp, phụ thuộc vào vào đặc
điểm tổ chức sản xuất chu kỳ sản phẩm, hình thức nghiệm thu, bàn giao khối lượng
hoàn thành.
Đối với những DN có chu kỳ SXKD ngắn như sản xuất vật liệu xây dựng cấu
kiện bê tông thì chu kỳ tính là hàng tháng .
Đối với DN mà sản phẩm là những công trình vật liệu kiến trúc thì kỳ tính giá
thành là thời gian mà sản phẩm xây lắp được coi là hoàn thành, được nghiệm thu
và bàn giao.
Đối với các công trình nhỏ, thời gian thi công ngắn thì công trình hoàn thành
toàn bộ mới tính giá thành thực tế của công trình đó.
Tổng CP thực tế của cả công trình
Tổng giá trị dự toán của tất cả các HMCT
11
3.3.2.Phương pháp cộng chi phí
Phương pháp này được áp dụng với việc xây lắp các công trình lớn, phức tạp,
phải trải qua nhiều giai đoạn thi công, quá trình xây lắp có thể chia ra cho các đối
tượng sản xuất khác nhau. Đối tượng tập hợp chi phí là từng đội sản xuất, từng giai
đoạn, đối tượng tính giá thành là sản phẩm cuối cùng.
Công thức tính như sau :
Z = DĐK + ( C1 + C2 +…+ Cn) – DCK
Trong đó:
Z : Giá thành sản phẩm xây lắp
D ĐK : Giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ
C1,….,Cn : CPSX ở từng đội SX, từng giai đoạn công việc, từng HMCT
3.3.3.Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng
Phương pháp này áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp nhận thầu xây lắp
theo đơn đặt hàng (ĐĐH). Hàng tháng, chi phí phát sinh được tập hợp theo từng
ĐĐH và khi công trình, HMCT hoàn thành thì CPSX tập hợp được cũng chính là
giá thành thực tế của ĐĐH.
Giá thành ĐĐH = Chi phí thực tế dở dang ĐK + Chi phí thực tế phát sinh trong kỳ
Ngoài ba phương pháp trên, các doanh nghiệp xây lắp còn sử dụng phương pháp
tính giá thành theo hệ số, phương pháp loại trừ chi phí sản xuất sản phẩm phụ…
12
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN KINH DOANH PHÁT
TRIỂN NHÀ VÀ ĐÔ THỊ HÀ NỘI VÀ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN
TẬP HỢP CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY
1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CP KINH DOANH PHÁT TRIỂN NHÀ VÀ ĐÔ THỊ
HÀ NỘI TRỰC THUỘC TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN NHÀ HÀ NỘI
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
1.1.1. Lịch sử hình thành
100.000đ/CP. Cổ phẩn được phát hành dưới hình thức cổ phiếu với giá trị mỗi cổ
phiếu là 100.000 đ.
1.1.2. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh
Công Ty CP Kinh Doanh Phát Triển Nhà Và Đô Thị Hà Nội là một doanh
nghiệp Nhà nước thuộc Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển Nhà Hà Nội. Trong
suốt quá trình hình thành và phát triển, Công ty không ngừng nâng cao chất lượng
sản phẩm, mở rộng ngành nghề sản xuất kinh doanh, cũng như thị trường đầu tư.
Ngay sau khi sát nhập vào Tổng công ty Đầu tư và phát triển nhà Hà Nội.
nhận thấy xu hướng phát triển của thị trường nhà đất và cùng với những thành
công bước đầu trong lĩnh vực kinh doanh nhà tại dự án Đại Kim Định Công, Công
ty đã xác định rõ: Để phát triển sản xuất kinh doanh một cách vững chắc và toàn
diện trong những năm tới thì mục tiêu mũi nhọn là phải đầu tư kinh doanh dự án.
Bám sát mục tiêu đó, từ năm 2000 đến nay Công ty không ngừng nghiên
cứu thị trường, nghiên cứu chủ trương phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước nhằm
đẩy mạnh và mở rộng các dự án kinh doanh nhà, xây lắp các công trình nhằm đáp
ứng mọi thị hiếu của khách hàng. Cho đến nay Công ty đã và đang triển khai được
nhiều dự án trên địa bàn thành phố và các tỉnh. Ngoài ra Công ty cũng luôn mở
rộng thị trường xây lắp đào tạo và nâng cao trình độ quản lý, trình độ cán bộ kỹ
thuật cũng như đầu tư mua sắm trang thiết bị thi công hiện đại. Chính vì vậy Công
ty đã công ty đã trúng thầu và được giao thầu nhiều công trình với quy mô lớn và
trình độ kỹ thuật cao, phức tạp như: Nhà chung cư A5-15 tầng, trung tâm thương
mại Thanh Trì …
*Lĩnh vực hoạt động:
-Xây lắp các công trình dân dụng công nghiệp
-Xây dựng lắp đặt các công trình kỹ thuật đô thị, các công trình phục vụ nông
nghiệp
14
-Tổ chức kinh doanh vật liệu xây dựng: Dịch vụ xây dựng, sửa chữa nhà, trang
trí nội ngoại thất.
-Thi công về các công trình cấp thoát nước, chiếu sáng
hợp đồng
Chuẩn bị
đầu tư
Mua vật
liệu
Kiểm soát
quá trình
đầu tư thi
công xây
dựng
Chờ
nghiệm thu
bàn giao
Nghiệm
thu bàn
giao
Khách
hàng
2004. Bởi lợi nhuận gộp về BH và CCDV và doanh thu hoạt động tài chính của
năm 2006 đều lớn hơn của năm 2005, nhưng chi phí bán hàng và chi phí quản lý
doanh nghiệp của năm 2006 lớn hơn của năm 2005 rất nhiều (chênh lệch 3.722.000
đ và 64.918.000 đ so với 2005). Điều đó đã ảnh hưởng tới lợi nhuận sau thuế
TNDN của năm 2005, tăng 39,78%, lớn hơn mức tăng của năm 2006 so với năm
2005 là 7,46%.
Năm 2005 đánh dấu một bước phát triển vượt bậc của Công ty, là năm công
ty hoạt động với mô hình mới, mô hình cổ phần. Bảng hoạt động sản xuất kinh
doanh trong 3 năm qua cho thấy Công ty đang đi đúng hướng và đang dần có chỗ
đứng nhất định trong ngành xây lắp.
1.2. Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý
1.2.1. Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của Công ty (Phụ lục 12)
bộ, và quản lý lao động và tiền lương.
1.3. Tổ chức bộ máy kế toán và hình thức kế toán áp dụng
1.3.1. Tổ chức bộ máy kế toán (Phụ lục 13)
- Phòng tài chính kế toán được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của của giám đốc
công ty, các nhân viên kế toán chịu sự điều hành trực tiếp của kế toán trưởng
- Nhiệm vụ của phòng là hướng dẫn, đôn đốc kiểm tra và thu thập đầy đủ tất cả
các chứng từ của công ty, tổ chức và ghi chép ban đầu chính xác trung thực, hợp lý
*Trong đó:
Kế toán trưởng là người đứng đầu chỉ đạo tất cả các nhân viên kế toán.
Là người chịu trách nhiệm trước giám đốc và nhà nước về mặt quản lý tài chính và
báo cáo tài chính, kiểm tra giám sát mọi hoạt động của phòng kế toán, thông tin
kinh tế và phân tích hoạt động kinh tế theo đúng điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước
quy định và quy chế quản lý của công ty .
Kế toán tổng hợp: Căn cứ vào chứng từ liên quan đến khoản chi phí do các
phần hành kế toán khác chuyển đến, kế toán tổng hợp vào sổ nhật ký chung, sổ cái
và sổ chi tiết các tài khoản có liên quan
Kế toán ngân hàng : Có nhiệm vụ theo dõi các giao dịch với ngân hàng như tài
khoản tiền gửi ngân hàng , vay…và giữ chìa khoá két của công ty.
Kế toán thanh toán: Có trách nhiệm theo dõi các sổ chi tiết, thực hiện kế toán
vốn bằng tiền, các khoản thanh toán với cán bộ công nhân viên.
17
Kế toán công nợ : Theo dõi các khoản công nợ, việc thu hồi trong nội bộ cũng
như ngoài công ty .
Kế toán Tài Sản Cố Định: Nhiệm vụ theo dõi tình hình tăng giảm của TSCĐ
trên 3 mặt: nguyên giá, giá trị hao mòn và giá trị còn lại của tài sản, đồng thời kiêm
luân cả việc theo dõi tình hình biến động của vốn kinh doanh.
1.3.2. Chế độ kế toán áp dụng
- Hệ thống kế toán áp dụng theo quyết định 1141/QĐ-BTC
- Niên độ kế toán bắt đầu từ 01/01đến 31/12 hàng năm.
- Đơn vị sử dụng tiền tệ :VNĐ
- Các chi phí gián tiếp nếu phát sinh ở công trình nào thì hạch toán vào công trình
đó. Còn đối với chi phí gián tiếp có tính chất chung cho toàn công trình hoặc
HMCT thì phân bổ theo tiêu thức thích hợp.
- Chi phí sản xuất được tập hợp theo 4 khoản mục:
• Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (NVLTT),
• Chi phí nhân công trực tiếp (NCTT),
• Chi phí sử dụng máy thi công (SDMTC),
• Chi phí sản xuất chung (CPSXC).
2.1.2. Đối tượng tính giá thành sản phẩm
- Đối tượng tính giá thành sản phẩm là các loại sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất
hoặc chế tạo cần phải tính giá thành.
Công ty Cổ Phần Kinh Doanh Phát triển Nhà và Đô Thị Hà Nội hoạt động trong
lĩnh vực xây dựng, xây lắp, nhận thầu….vì vậy đối tượng kế toán tập hợp chi phí
sản xuất đồng thời cũng là đối tượng tính giá thành sản phẩm. Đó là các công trình
hay HMCT
- Kỳ tính giá thành là khi công trình hay HMCT hoàn thành bàn giao theo các giai
đoạn qui ước giữa chủ đầu tư và đơn vị thi công. Kỳ tính giá thành có thể là cuối
tháng, mỗi quý hoặc khi đã hoàn thành đơn đặt hàng hay HMCT.
- Công ty áp dụng phương pháp tính giá thành giản đơn:
Giá thành
sản phẩm
=
Giá trị sản phẩm
dở dang ĐK
+
Chi phí sản xuất
trong kỳ
-
Giá trị sản phẩm
dở dang CK
(nếucó)
Căn cứ phiếu nhập kho ngày 12/09/2006 (Phụ lục 16), ta tính được giá thực tế
nhập kho của mặt hàng:
Gạch Ceramic 30*30 = 242viên x 76.000đ/viên + 0 + 0 = 18.392.000đ
• Tính giá vật tư, CCDC xuất kho theo phương pháp giá thực tế đích danh: khi
xuất kho vật liệu, CCDC thuộc lô hàng nào thì căn cứ vào số lượng xuất kho và
đơn giá nhập kho thực tế của lô hàng đó để tính ra giá thực tế xuất kho. Ta có
phiếu xuất kho ngày 13/09/2006 (Phụ lục 17)
Cuối tháng 9/06, căn cứ vào số liệu trên Bảng xuất vật tư, công cụ dụng cụ (Phụ
lục 18), kế toán công ty nạp số liệu vào máy theo định khoản:
Nợ TK 621 -NHCMNVN 116.746.833đ
Có TK 152(1) 116.746.833đ
Cuối mỗi tháng, công tác kế toán được thực hiện tương tự như trên
Cuối kỳ, kế toán kết chuyển toàn bộ CPNVLTT sang TK 154:
20
Nợ TK 154- NHCMNVN 236.655.593 đ
Có TK 621 236.655.593 đ
Sổ cái TK 621 (Phụ lục 19)
2.2.1.2. Kế toán tập hợp và phân bổ chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp là khoản chi phí trực tiếp ở công ty và gắn liền với lợi
ích của nguời lao động. Do vậy việc hạch toán đúng, đủ chi phí nhân công có ý
nghĩa quan trọng trong việc tính lương, trả lương cho người lao động.
Việc thanh toán lương cho CNV được tiến hành một lần trong tháng theo quy trình
(Phụ lục 20)
*Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm :
- Tiền lương công nhân trong danh sách: tính lương phương pháp trực tiếp
Tổng lương = Số công x Ngày lương + Phụ cấp ăn trưa
(Theo đặc thù của ngành xây lắp, ngày lương của công nhân TTSX đã bao gồm các khoản trích
theo lương bao gồm 19% BHXH+ BHYT+ KPCĐ, và các khoản khấu trừ lương gồm 6%
BHXH+BHYT, vì vậy, ở bảng phân bổ tiền lương và BH sẽ thôi không trích nữa).
hành tập hợp vào TK 623- chi tiết cho từng công trình.
Công thức phân bổ khấu hao TSCĐ cho các công trình như sau:
Ví dụ: Tổng số khấu hao MTC phải trích trong tháng 9/2006 là 11.200.000đ, dựa
vào CPTT, ta tính được số khấu hao MTC phân bổ cho CT NHCMN VN là:
11.200.000
3.109.896.897
Theo đó, kế toán định khoản:
Nợ TK 623(4)-NHCMNVN 1.048.152đ
Có TK 214 1.048.152đ
Bảng khấu hao phân bổ máy thi công (Phụ lục 25)
• Tiền lương của công nhân sử dụng máy thi công được tính theo phương
pháp trực tiếp như đối với nhân công trực tiếp.
• Công nhân sử dụng MTC được theo dõi chung trong bảng chấm công của
các đội mà các công nhân đó trực thuộc. Mỗi đội thi công có 2 công nhân điều
khiển máy với bậc lương là 5/7.
Số khấu hao TSCĐ =
Tổng số khấu hao TSCĐ phục vụ thi công
x Số CPTT ở
Tổng số CPTT ở các công trình
22
CT Nhà hát ca múa nhạc Việt Nam chỉ sử dụng MTC trong tháng 9/06 với 13 ca.
Ví dụ: Anh Bùi Hảo Long- công nhân điều khiển MTC, trong tháng 9/2006 anh
làm 13 công, ta tính được:
Tiền lương của Bùi Hảo Long = 13công*64.252 + 13*14.000/công = 1.017.276đ
Kế toán định khoản: Nợ TK 623(1) – BHL 1.017.276đ
Có TK 334(2) 1.017.276đ
• Các chi phí SDMTC mua ngoài bằng tiền khác, kế toán căn cứ vào các
chứng từ cụ thể như: phiếu chi tiền mặt, giấy báo nợ của ngân hàng, hoá đơn
thuế GTGT.
Ví dụ: Trong tháng 9/2006, dựa vào phiếu chi tiền điện phục vụ MTC, kế toán
Nợ TK 627(1)- NHCMNVN 710.834đ
Có TK338 710.834đ
(SCT TK 338(2) 74.825đ
TK 338(3) 561.184đ
TK338(4) 74.825đ )
2.2.1.4.2. Chi phí vật liệu và công cụ dụng cụ dùng cho sản xuất thuộc phạm vi tổ đội
Trong tháng 09/2006, CT NHCMNVN xuất gỗ để phục vụ thi công với giá vốn
thực tế xuất kho là :37.653.020đ. Số lần luân chuyển của gỗ là 7 lần, tính ra giá trị
phân bổ trong tháng là: 37.653.020 : 7 = 5.379.002đ (Căn cứ Phụ lục 18)
Khi xuất kho, kế toán định khoản:
Nợ TK 142 37.653.020 đ
Có TK 152 37.653.020 đ
Phản ánh giá trị phân bổ T9/2006:
Nợ TK 627(2) 5.379.020 đ
Có TK 142 5.379.020 đ
Đối với công cụ sản xuất, trong tháng công trình xuất dụng cụ sản xuất phục vụ thi
công với giá vốn thực tế xuất kho là 3.720.680đ, thời gian phân bổ là 4 năm, giá trị
phân bổ trong tháng là: 3.720.680: 48 tháng = 77.514đ (Căn cứ Phụ lục 18)
Khi xuất kho, kế toán định khoản:
Nợ TK 142(1) 3.720.680 đ
Có TK 153 3.720.680 đ
Phản ánh giá trị phân bổ T9/2006:
Nợ TK 627(3) 77.514 đ
Có TK 142 77.514 đ
24
2.2.1.4.3. Kế toán chi phí khác bằng tiền
Để hạch toán chi phí khác bằng tiền, Công Ty CP Kinh Doanh Phát Triển
Nhà Và Đô Thị Hà Nội sử dụng TK 6278. Chi phí này bao gồm toàn bộ chi phí mà
không thuộc những chi phí đã nêu ở trên. Các chi phí này cuối tháng kết chuyển
toàn bộ vào TK 154 (chi tiết từng công trình) để xác định chi phí tính giá thành