CÁC CHẤT DẪN TRUYỀN THẦN KINH
(Kỳ 2)
II. CÁC AMINE SINH HỌC
Có 6 chất Amine - sinh học là:
1. Dopamin
2. Epinephrine
3. Norepinephrrine
(3 chất này cũng được tổng hợp bởi 1 tiền chất là tyrosine và được gọi là
nhóm catecholamine).
4. Serotonine
5. Acetylcholine
6. Histamine.
Các enzyme cần thiết cho sự tổng hợp các amine sinh học lại được tổng
hợp ở thân tế bào thần kinh sau đó đưa xuống các sợi trục. Như vậy thực chất việc
tạo ra các chất dẫn truyền thần kinh này là ở tại nơi sẽ giải phóng ra chúng và trữ
lượng các amine sinh học luôn được đền bù nhanh chóng (các peptide thần kinh lại
được tổng hợp ở thân tế bào sau đó mới được vận chuyển xuống các mạt đoạt sợi
trục).
1. Dopamine:
a. Các hệ thống dopaminergic của hệ thần kinh trung ương:
Có 3 hệ thống dopaminergic quan trọng nhất trong các hoạt động tâm
thần là: Hệ thống nhân đen thể vân, hệ thống trung não hồi viền và hệ thống u
phễu.
- Hệ thống nhân đen thể vân (Nigrostriatal trart) phóng chiếu từ các tế bào
ở nhân đen (substantial nigra) để tới thể vân (coppus striatum). Khi các receptor
dopamine ở các mạt đoạn của hệ thống này bị khoá bởi các thuốc chống loạn thần
cổ điển sẽ gây ra tác dụng phụ giống parkinson. Trong bệnh parkinson hệ nhân
đen thể vân bị thoái hoá gây ra các triệu chứng về vận động. Người ta thấy có 1
mối liên quan rõ rệt giữa bệnh parkinson và trầm cảm. Hệ thống nhân đen thể vân
có thể còn liên quan đến việc kiểm soát cảm xúc.
- Hệ thống trung não hồi viền, trung với vỏ não: Phóng chiếu từ các thân tế
5
, có tác dụng kích thích việc tạo ra AMP vòng. Receptor D
5
có ái lực với Dopamine mạnh hơn receptor D
1
. Nhóm 2 gồm các receptor D
2
, D
3
và D
4
. D
2
có tác động ức chế tạo ra AMP vòng (D
3
và D
4
cũng có tác dụng tương
tự). D
2
được phân bố tập trung ở nucleus accumbens và một số vùng khác nữa.
Receptor D
4
được thấy tập trung ở vùng vỏ não thuỳ trán. Trước kia người ta cho
rằng tác dụng của thuốc chống loạn thần liên quan chủ yếu với ái lực gắn kết của
các receptor D
2.
trở lại vào neuron trước synapse và chuyển hoá bởi MAO và COMT. MAOA
chuyển hoá ưu thế với Norepinephrine và Epinephrine (cũng như với serotonine).
c. Các receptor hệ noradrenergic và adrenergic:
Có 2 nhóm receptor là a- adrenergic và b- adrenergic receptor. Các tiến
bộ của sinh học phân tử đã phân ra các nhóm nhỏ hơn: 3 loại a1- receptor, (a1a,
a1b, a1c), 3 loại a2- receptor (a2a, a2b, a2c), và 3 loại b- receptor (b1, b2, b3). Các
a1- receptor dường như có liên quan đến hệ thống đảo ngược phosphoinositol, a2-
receptor có lẽ ức chế việc tạo ra AMP vòng. b- receptor hoạt hoá việc tạo AMP
vòng.
d. Norepinephrine và các thuốc:
- Các thuốc chống trầm cảm cổ điển có liên quan nhất với Norepinephrine
(các thuốc chống trầm cảm 3 vòng và chất ức chế men MAO). Các thuốc chống
trầm cảm 3 vòng ngăn chặn sự tái hấp thu Norepinephrine và (serotonin). Như vậy
tác động tức thời của thuốc chống trầm cảm 3 vòng và MAOIs là làm tăng nồng
độ Norepinephrine và (serotonin) tại khe synapse. Các thuốc chống trầm cảm
thường cần 2 đến 4 tuần mới đạt được hiệu quả điều trị, có nghĩa là do tác động
tức thời của thuốc. Tuy nhiên các tác động tức thời đó có lẽ đã dẫn đến thay đổi số
lượng receptor b- adrenergic sau synapse từ đó làm cải thiện triệu chứng lâm sàng.
- Hệ thống a- adrenergic còn liên quan đến việc gây ra các tác dụng phụ
trong điều trị. Việc phong toả các receptor a- adrenergic thường gây ra buồn ngủ
và hạ huyết áp tư thế. Các receptor a2- adrenergic thường được phân bố ở neuron
tiền synapse và sự hoạt hoá các receptor này sẽ làm giảm sản xuất và giải phóng
Norepinephrine.
- Các chất đối vận b- adrenergic như propranolon cũng thường được sử
dụng trong tâm thần. Các receptor b- adrenergic được phân bố ở neuron sau
synapse. Việc ức chế hoạt tính của các receptor này sẽ làm giảm AMP vòng ở
neuron sau synapse. Các đối vận b- adrenergic sẽ được sử dụng để điều trị các ám
ảnh sợ xã hội, trạng thái bồn chồn bất an và run do litlums.