CÁC CHẤT DẪN TRUYỀN THẦN KINH
(Kỳ 3)
3. Serotonin:
a. Hệ thống Serotonergic trung ương: Vị trí chủ yếu của các tế bào
Serotonergic là ở phía trên cầu não và não giữa, đặc biệt là nhân Raphe, vùng
postrema, vùng interpeduncular. Các neuron này phóng chiếu đến các hạch đáy
não, hệ thống viền và vỏ não.
b. Synapse hệ serotonergic: Giống như các catecholamin, serotonine được
tổng hợp ở mạt đoạn các sợi trục thần kinh từ acid amine tiền chất là tryptophan.
Men cơ bản tham gia chuyển hoá serotonine là MAO, đặc biệt là MAOA. Sản
phẩm chuyển hoá đầu tiên là 5 - hydroxy - indoleacetic acid (5 - HIAA)
c. Các receptor hệ serotonergic: Có 4 loại receptor serotonergic đã được
nhận biết là 5- HT1, 5- HT2, 5- HT3, 5- HT4. Riêng 5- HT1 lại có 4 loại nhỏ (5-
HT1a, 5- HT1b, 5- HT1c và 5- HT1d).
d. Serotamin và các thuốc:
- Mối liên quan cổ điển giữa Serotonin và các thuốc hướng thần là với các
thuốc chống trầm cảm 3 vòng và MAOI. Các thuốc chống trầm cảm 3 vòng Và
MAOI đã phong toả sự tái hấp thu và chuyển hoá serotonin do vậy làm tăng nồng
độ serotonin ở các khe synapse.
- Proxetime là thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonine đầu tiên và có
hiệu quả trong điều trị trầm cảm. Các thuốc khác thuộc loại này là Proxetime và
Sertraline. Tất cả các thuốc này đều rất ít tác dụng phụ so với thuốc chống trầm
cảm 3 vòng và MAOI.
- Serotonine còn liên quan đến cơ chế của ít nhất là 2 chất gây nghiện mạnh
là lysergic acid diethylamide (LSD) và 3, 4 methylenedioxymeth - amphetamine
(MDMA) còn gọi là chất ecstacy. Hệ thống Serotonine có vai trò chính trong tác
dụng của LSD xong cơ chế tác động thì vẫn chưa được biết rõ. MDMA có tác
động như một chất phong toả tái hấp thu Serotonine và làm tăng giải phóng
serotonin tại các neuron serotonergic.
4. Acetylcholine:
a. Hệ thống cholinergic trung ương: Gồm một số nhóm các neuron từ các
6. Các acide amine:
- Acid amine có tác dụng hoạt hoá chính là glutamate (ngoài ra aspartate và
homocyteate cúng có thể tác dụng tương tự) là các acid amine dicarboxylic.
- Acid amine có tác dụng ức chế chính là GABA (ngoài ra glycine cũng là
chất đang được quan tâm nghiên cứu) là các acid amine monocarboxylic.
1. Glutamate:
* Glutamate được tổng hợp từ một số tiền chất trong các mạt đoạn trong
neuron tiền synapse. Khi được giải phóng vào khe synapse, glutamate lại được tái
hấp thu trở lại vào neuron tiền synapse và vào các tế bào thần kinh liền. Glutamate
là chất trung gian thần kinh cơ bản với vỏ não, đồi thị, các tế bào tháp, và phóng
chiếm thể vân vỏ não. Glutamate còn là chất dẫn truyền thần kinh chính tại hải mã.
Có 5 loại receptor glutamate đã được biết đến là:
- N - methy - D - aspratate (NMDA - receptor).
- a - amino - d - hydroxy - 5 methyl - 4 - isoxazole pzomic acid (AMPA.
Receptor).
- Kainate receptor.
- 1 - 2 amino - 4 - phosphonobuty rate (AP4 receptor).
- Tran - 1 - aminocyclopentane - 1 - 3 dicadooxylic acid (ACPD - receptor)
các trạng thái kích thích do nhiễm độc (excitotoxicity) được cho là do sự kích
thích quá mức các receptor glutamate. Điều đó dẫn đến sự tập trung quá mức và
kéo dài iron canxi trong các tế bào thần kinh và làm hoạt hoá các enzyme, đặc biệt
là men proteases làm phá huỷ neuron.
* Các nghiên cứu cơ bản cho thấy rằng dopamine và glutamate có tác dụng
đối ngược nhau. Glutamate có thể liên quan tới bệnh sinh của bệnh parkinson.
Glutamate ở vùng hải mã cho cơ chế hoá thần kinh của sự hoạt động và trí nhớ.
2. GABA (d - aminobutiric acid):
- GABA được tổng hợp từ glutamate bởi men glutamine acide -
decarboxylase (GAD) và sự tham gia của pyvidoxine (vitamin B
6
). Khi được giải