TÌM HIỂU VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM - Pdf 16

TÌM HIỂU VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Lê Đình Huy[1]
Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam ra đời chậm so với các nước
trong cùng khu vực và thế giới, song nó đang thể hiện đầy đủ đúng bản chất
của một thị trường, là nơi mà các chủ thể kinh doanh huy động vốn nhanh nhất
và hiệu quả nhất, nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh kịp thời, thông qua việc
phát hành các loại chứng khoán. Ngoài ra, TTCK còn thể hiện là nơi hội tụ đầy
đủ các chỉ tiêu để đánh giá sự phát triển của nền kinh tế của một quốc gia thông
qua các chỉ số chứng khoán. Bài viết này nhằm tìm hiểu sự hình thành và phát
triển của TTCK Việt Nam.

1. Thị trường chứng khoán
TTCK là một bộ phận của thị trường tài chính, là nơi diễn ra quá trình phát
hành, mua bán các chứng khoán, là nơi cung ứng các nguồn vốn
đầu tư cho hoạt động của nền kinh tế.
Có thể nói, TTCK là thị trường mang tính tự do nhất trong các loại thị
trường, ở đó không có sự độc đoán can thiệp của Chính phủ, giá cả thì do cung
cầu quyết định.
2. Khái quát sự hình thành TTCK Việt Nam
Ngày 11/7/1998 Chính phủ đã ký nghị định số số 42/CP ban hành về chứng
khoán và thị trường chứng khoán chính thức Việt Nam ra đời thị trường chứng
khoán Việt Nam được hình thành và phát triển với việc thành lập Ủy ban chứng
khoán Nhà nước với 2 Trung tâm giao dịch chứng khoán (nay là sở giao dịch
chứng khoán):
- Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh
(TTGDCKTPHCM- HOSE) được thành lập theo Quyết định số 127/1998/QD-
TTg ngày 11/7/ 1998 khai trương ngày 20/7/2000 với phiên giao dịch đầu tiên
ngày 27/7/2000.
- Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội (HASTC) Thành lập ngày
11/7/1998 phiên đấu giá đầu tiên ngày 8/3/2005 phiên giao dịch thứ cấp đầu tiên


- Năm 2006: Năm 2006 được coi là cột mốc đánh dấu một diện mạo hoàn toàn
mới của TTCKVN, hoạt động giao dịch sôi động tại cả 3 “sàn”: HOSE, HASTC
và thị trường OTC với mức tăng trưởng đạt tới 60% từ đầu đến giữa năm 2006
TTCK Việt Nam trở thành "điểm" có tốc độ tăng trưởng nhanh thứ 2 thế giới,
chỉ sau Dim-ba-buê, sự bừng dậy của thị trường non trẻ này đang ngày càng
"hút hồn" các nhà đầu tư trong và ngoài nước, số lượng các nhà đầu tư mới tham
gia thị trường ngày càng đông, tính đến cuối tháng 12- 2006, có trên 120.000 tài
khoản giao dịch chứng khoán được mở, trong đó gần 2.000 tài khoản của nhà
đầu tư nước ngoài.
Năm 2006 TTCK Việt Nam có sự phát triển vượt bậc, chỉ số Vn-Index tại sàn
giao dịch TP. Hồ Chí Minh (HOSE) tăng 144%, tại sàn giao dịch Hà Nội
(HASTC) tăng 152,4% chỉ số VN-Index cuối năm tăng 2,5 lần so đầu năm.
Tổng giá trị vốn hóa đạt 13,8 tỉ USD cuối năm 2006 (chiếm 22,7% GDP) giá trị
cổ phiếu do các nhà đầu tư nước ngoài đang nắm giữ đạt khoảng 4 tỉ USD,
chiếm khoảng 16,4% mức vốn hóa của toàn thị trường, hàng ngày có khoảng
80-100 công ty có cổ phiếu giao dịch. Trên thị trường phi tập trung (OTC), tổng
khối lượng giao dịch gấp khoảng 6 lần so với khối lượng giao dịch trên HASTC.
Số công ty niêm yết tăng gần 5 lần, từ 41 công ty năm 2005 đã lên tới 193 công
ty, số tài khoản giao dịch đạt hơn 10.000 gấp 3 lần năm 2005 và 30 lần so với 6
năm trước. Trong vòng một năm, chỉ số Vn-Index tăng hơn 500 điểm, từ hơn
300 điểm cuối 2005 lên 800 điểm cuối 2006.
Năm 2006, kỷ lục mới của VN-Index được xác lập ở mốc 809,86 điểm với
HASTC-Index chạm mốc 260 điểm. Tính đến phiên 29/12/2006, TTGDCK
TP.HCM đã có sự góp mặt của 106 cổ phiếu, 2 chứng chỉ quỹ và 367 trái phiếu
với tổng giá trị niêm yết theo mệnh giá là trên 72 nghìn tỷ đồng. Còn tại
TTGDCK Hà Nội số lượng chứng khoán tham gia đã lên đến 87 cổ phiếu và 91
trái phiếu với tổng mức đăng ký giao dịch theo mệnh giá đạt 29 nghìn tỷ đồng.
- Năm 2007: Năm TTCK Việt Nam bùng nổ.
Ngày 01/01/2007 Luật Chứng khoán mới đi vào hoạt động chính thức đã góp

trường xác lập mức đáy 883,9 điểm của Vn-Index (6/8/2007) và 247,37 điểm
của HASTC-Index (23/08/2007 Giá trị giao dịch bình quân của khối NĐTNN
chỉ đạt 170 tỷ đồng/phiên, giảm tới 52% so với giai đoạn đầu năm.

- Năm 2008: TTCK Việt Nam khép lại năm 2008 với sự sụt giảm mạnh.
Năm 2008, lượng cung tiếp tục được bổ sung đáng kể thông qua việc Chính
phủ đẩy mạnh cổ phần hoá DNNN, đặc biệt là các DN quy mô lớn và việc bán
bớt CP Nhà nước trong các DN đã CPH, chưa kể hàng loạt ngân hàng, Công ty
chứng khoán, Doanh nghiệp phát hành trái phiếu, cổ phiếu để tăng vốn điều
lệ, dẫn đến tình trạng thị trường CK có nguy cơ thừa "hàng". Khởi động đầu
năm tại mức điểm 921,07, Vn-Index đã mất đi gần 60% giá trị và trở thành một
trong những thị trường giảm điểm mạnh nhất trên thế giới trong nửa đầu năm
2008. Sự gia tăng lạm phát, chính sách thắt chặt tiền tệ của NHNN, sự leo dốc
của giá xăng dầu và sức ép giải chấp từ phía ngân hàng đối với các khoản đầu tư
vào TTCK đã làm cho nguồn vốn đầu tư vào TTCK giảm mạnh. Nhằm mục
đích ngăn chặn đà suy giảm của thị trường, các cơ quan điều hành bắt đầu đưa
ra những chủ trương và biện pháp hỗ trợ:
- UBCKNN thu hẹp biên độ giao dịch
- SCIC tham gia mua vào cổ phiếu
- NHTM được vận động ngừng giải chấp.
- Tổ chức niêm yết được khuyến khích mua vào cổ phiếu quỹ.
Tuy nhiên, phần lớn các biện pháp này chỉ phát huy hiệu quả trong ngắn hạn,
và thị trường tiếp tục sụt giảm, cơn bão giải chấp cổ phiếu không ngừng tác
động tới tâm lý các nhà đầu tư. Trong 103 phiên giao dịch của giai đoạn này, có
tới 71 phiên giao dịch Vn-Index giảm điểm. Đỉnh điểm là chuỗi 34 phiên giao
dịch Vn-Index giảm điểm liên tiếp từ giữa tháng 04 đến đầu tháng 06/2008. Sau
103 phiên giao dịch,Vn-Index giảm mất 550,52 điểm- tương đương 59,77%.
Bình quân trong mỗi phiên, toàn thị trường có 8,02 triệu CP&CCQ được chuyển
nhượng, tương đương khoảng 482 tỷ đồng, nhóm cổ phiếu chịu nhiều tác động
nhiều nhất là nhóm cổ phiếu tài chính ngân hàng, công nghệ và công nghiệp

những kỹ lục được thiết lậpveef giá trị và khối lượng giao dịch trên 100 triệu
đơn vị tương ứng mỗi phiên đạt 5000- 6000 tỷ đồng.
+ Giai đoạn phát triển thận trọng .
Chính sách kích thích phát huy được tác dụng nhưng cũng đã tạo ra các tác
động lớn trong nền kinh tế tiềm ẩn một số nguy cơ tác dụng đế sự tăng trưởng
tín dụng của 10 tháng đầu năm 2009 trên 33% tăng trưởng quá mức cần thiết chỉ
số ICOR năm 2009 bằng 8 đây củng là mứa cao nhất từ trước tới nay. Có nghĩa
là mức đầu tư thấp tiềm ẩn nguy cơ cho nềnf kính tế nguy cơ tái lạm phát cho
năm 2010 khuyến khích các Doanh nghiệp nhập khẩu sang vay tiền đồng để đầu
tư ngoại tệ điều này s‚ gây sốt tiền đồng và thị trường vàng. Chính sách tài khóa
đã khiến ngân sách Nhà nước lâm vào tình trạng thâm hụt có thể lên tới 6.5%
GDP của năm, cụ thể Ngân sách nhà nước đã bất ngờ nâng lải suất cơ bản lên
7%- 8% trong năm 2009, hay tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các ngân thương mại đều
tăng lên tới 10 % đỉnh cao là 11%. Những yếu tố này cũng đã ảnh hưởng lớn
đến luồng tiền đầu tư vào TTCK và yếu tố tâm lý của nhà đầu tư đã làm cho chỉ
số chứng khoán giảm tính từ đỉnh cao Vn-Index đã mất khoảng 31% về số
điểm.
- TTCK năm 2010: TTCK đầu năm 2010 đang diễn biến tốt Chứng khoán đầu
năm đang khởi động bằng những tiến hiệu tích cực tâm lý của các nhà đầu tư lạc
quan hơn, dòng tiền chảy vào TTCK đầu năm củng cởi mở hơn năm 2009. tổng
các phiên giao dịch gần đây đạt xắp sĩ 4000 tỷ đồng tăng gấp đôi so với các
phiên cuối năm 2009, nổ lực bình ổn tỷ giá của ngân hàng Nhà nước đầu năm s‚
là nhân tố thu hút nhà đầu tư mới dòng tiền mới trong và ngoài nước đổ vào thị
trường.
Trong quý I/2010 các chính sách tài khóa của nhà nước vẫn đang tiếp
tục ảnh hưởng tới TTCK trong nước, Chỉ số Vn- Index đang có xu hướng tăng
đạt 512,6 điểm kết thúc phiên giao dịch ngày 12/1, chỉ số HNX Index kết thúc
phiên giao dịch cùng ngày đạt 177,03 điểm, UCOR 51,8 điểm kết thúc tuần giao
dịch từ 08/03/2010 đến 12/03/2010, trên sàn HOSE có 3 phiên tăng và 2 phiên
giảm. Nếu so với phiên cuối tuần trước, chỉ số VN-Index tăng 18,12 điểm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status