LOGOMÔN: CÔNG TÁC XÃ HỘI TRƯỜNG HỌC
MÔN: CÔNG TÁC XÃ HỘI TRƯỜNG HỌC
NỘI DUNG:
NỘI DUNG:
Phân tích những thay đổi trong cơ cấu hệ
Phân tích những thay đổi trong cơ cấu hệ
thống giáo dục Việt Nam từ năm 1945 tới nay, ý nghĩa
thống giáo dục Việt Nam từ năm 1945 tới nay, ý nghĩa
xã hội của những thay đổi này
xã hội của những thay đổi này NHÓM 2
NHÓM 2
1. Nguyễn Hữu Tâm
1. Nguyễn Hữu Tâm
2. Ngô Thu Hương
2. Ngô Thu Hương
3. Bùi Thị Bích Ngọc
3. Bùi Thị Bích Ngọc
4. Nguyễn Thị Thu Nguyệt
4. Nguyễn Thị Thu Nguyệt
5. Lê Hà Thu Nguyệt
5. Lê Hà Thu Nguyệt
6. Hoàng Quý Ly
6. Hoàng Quý Ly
Nội dung chính:
1. Giai đoạn 1945 – 1956
giáo dục mới, chính phủ đã ban hành sắc lệnh:
- Sắc lệnh số 146/SL ngày 10 tháng 8 năm 1946 khẳng định
ba nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục mới: đại chúng hóa, dân
tộc hóa và khoa học hóa và theo tôn chỉ phụng sự lý tưởng quốc
gia và dân chủ. Nền giáo dục mới theo quy định của sắc lệnh
gồm 3 bậc học:
+ Bậc cơ bản gồm 4 năm và bắt đầu từ năm 1950 sẽ là học
cưỡng bách
+ Bậc học tổng quát và chuyên nghiệp
+ Bậc Đại học
Thực hiện bậc học cơ bản: không phải trả tiền, các môn học
dạy bằng tiếng Việt, kể từ năm 1950 trở đi tất cả trẻ em từ 7 đến
13 tuổi đều có thể vào các trường học.
Nhà trường trong chế độ mới bắt đầu chuyển từ nền sự
phạm ủy quyền sang nền sư phạm dân chủ.
Nhà giáo được chế độ mới đặc biệt quan tâm. Đảng và nhà
nước rất chú trọng bồi dưỡng giáo viên mới.
* Cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất(1950)
- Hệ thống giáo dục phổ thông gồm 3 cấp học
Cấp I: 4 năm (lớp 1, 2, 3 và 4) thay thế cho bậc học tiểu học
cũ
Cấp II: 3 năm (lớp 5, 6 và 7) thay thế cho bậc trung học phổ
thông cũ 4 năm
Cấp III; 2 năm (lớp 8 và 9) thay thế cho bậc Trung học
chuyên khoa cũ 3 năm
Các kỳ thi tiều học, trung học phổ thông đều bãi bỏ. Cuối
năm lớp 9 học sinh qua 1 kỳ thi tốt nghiệp có tính chất như 1 kỳ
tổng kiểm tra nhằm mục đích đánh giá kết quả học tập và rèn
luyện của học sinh sau 3 năm học.
Hệ thống bình dân học vụ phục vụ người lớn gồm có:
đồng đều có quyền thảo luận, biểu quyết như nhau.
Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai (1956)
Nội dung giáo dục mang tính chất toàn diện bao gồm 4 mặt
là đức, trí, thể, mỹ
Phương châm giáo dục là “Liên hệ lý luận với thực tiễn,
gắn nhà trường với đời sống xã hội”.
Phương hướng chính trị của giáo dục là “Toàn bộ công tác
giáo dục phải phục tùng đường lối chính trị của Chính phủ dân
chủ cộng hòa và Đảng lao động Việt Nam”.
Hệ thống giáo dục phổ thông được xác định 10 năm học bao
gồm 3 cấp học:
- Cấp I: 4 năm
- Cấp II: 3 năm
- Cấp III: 3 năm
Cuối cấp I, II học sinh thi hết cấp và cuối cấp III thi tốt
nghiệp phổ thông.
Trước khi vào cấp I, học sinh phải học qua lớp vỡ lòng để
biết đọc, biết viết, biết đếm đến số 10, về hạn tuổi vào lớp 1 ít
nhất học sinh phải 7 tuổi tròn.
Năm học được quy định với 9 tháng học bắt đầu từ mùng 1
– tháng 9 và kết thúc vào 31/5. Các tháng 6,7,8 là kỳ nghỉ hè. Số
tuần thực học từ 33 đến 35 tuần. Số tiết học ở cấp II, cấp II, mỗi
tuần là 29 – 30 tiết.
* Ý nghĩa:
Nhà trường “cải cách” đã tạo ra những cơ sở thực tế để
phối hợp giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình, giáo dục xã
hội, phối hợp công tác nhà trường và công tác của địa phương,
tạo ra những nhân tố mới để thực hiện sự lãnh đạo của Đảng đối
với trường học, Đào tạo, bồi dưỡng thế hệ thanh niên và thiếu
niên trở thành những người phát triển về mọi mặt, những công
miền Bắc quy mô và chất lượng của hệ thống giáo dục tăng
lên vì lúc này Đảng và Chính phủ đã giữ vai trò lãnh đạo
chủ chốt, hòa bình và đất nước đang xây dựng chủ nghĩa
xã hội. Cơ cấu hệ thống giáo dục mang tính Mac xit rõ rệt,
về định hình phương hướng giáo dục.
3. Giáo dục Việt Nam từ 1975 đến 1986
Tháng 4 - 1975, cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập và
thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam giành thắng lợi
hoàn toàn. Sau ngày chiến thắng, đối với lĩnh vực giáo dục ở
các tỉnh miền Nam, Chính phủ tập trung vào hai nhiệm vụ:
+ Xoá bỏ tàn dư của nền giáo dục cũ
+ Thực hiện xoá mù chữ cho nhân dân trong độ tuổi 12-
50.
Bộ Giáo dục đã khẩn trương xây dựng và ban hành
hành chương trình 12 năm mới, biên soạn và in 20 triệu bản
sách giáo khoa theo chương trình đó để thay thế sách giáo
khoa cũ ở miền Nam.
Chính phủ chủ trương nhanh chóng xoá nạn mù chữ và
đẩy mạnh bổ túc văn hoá, xem đó là nhiệm vụ cấp bách số
một.
+ Chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ từ tuổi ấu thơ cho đến
lúc trưởng thành nhằm tạo cơ sở ban đầu cho con người phát
triển toàn diện; thực hiện phổ cập giáo dục toàn dân nhằm
tạo điều kiện thực hiện 3 cuộc cách mạng (về quan hệ sản
xuất, về khoa học - kỹ thuật và về văn hoá - tư tưởng)
+ Về nội dung giáo dục, hướng vào việc “Nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện [đức, trí, thể, mỹ], tạo ra những lớp
người lao động mới làm chủ tập thể, đủ sức gánh vác sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân …”
+ Về nguyên lý giáo dục, yêu cầu học đi đôi với hành, giáo
+ Hoàn thành chương trình phát triển giáo dục 3 năm
1987-1990.
+ Nâng cao tỉ lệ học sinh đến trường cao hơn so với
các giai đoạn trước Số lượng học sinh đạt chuẩn ở từng địa
phương được nâng lên từ 30-40 đến 50-60%
– Nhược điểm:
+ Còn non trẻ, chưa có kinh nghiệm, Còn thiếu giáo viên, cơ sở
vật chất
* Giai Đoạn 1996 – 2003
- Ưu điểm:
+ số lượng học sinh ở bậc trung học tiếp tục tăng, Số lượng
trường phổ thông tăng mạnh ở tất cả các cấp, Khối lượng kiến
thức cơ bản của học sinh phổ thông lớn hơn và rộng hơn so với
trước đây
-Nhược điểm:
+ Chất lượng giáo dục đại trà, đặc biệt ở bậc đại học còn
thấp; phương pháp giáo dục còn lạc hậu và chậm đổi mới, Kiến
thức cơ bản về xã hội, kỹ năng thực hành và khả năng tự học
của số đông học sinh phổ thông còn kém
+ Các điều kiện bảo đảm phát triển giáo dục còn nhiều bất
cập
* Giai đoạn 2004 -2010.
- Mục tiêu giáo dục:
Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển
toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề
nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực
của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc.
+ Hệ thống giáo dục quốc dân gồm: giáo dục chính quy và
học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và
ý chí vươn lên.
Những thành tựu và bất cập và yếu kém giáo dục Việt Nam
từ năm 2004 đến năm 2010.
* Thành tựu
Quy mô giáo dục và mạng lưới cơ sở giáo dục phát triển,
đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của nhân dân.
Trong giai đoạn 2001 - 2010, tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đi
học tăng nhanh: trong đó mẫu giáo 5 tuổi tăng từ 72% lên 98%;
tiểu học từ 94% lên 97%; trung học cơ sở từ 70% lên 83%;
trung học phổ thông từ 33% lên 50%; quy mô đào tạo nghề tăng
3,08 lần, trung cấp chuyên nghiệp tăng 2,69 lần; quy mô giáo
dục đại học tăng 2,35 lần.
Chất lượng giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo có tiến bộ.
Phát triển giáo dục và đào tạo đã chuyển theo hướng đáp
ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, khoa
học và công nghệ; đã mở thêm nhiều ngành nghề đào tạo mới,
bước đầu đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động.