1
TỔNG QUAN VỀ TÁI CƠ CẤU HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
TS. Nguyễn Thị Kim Thanh
Theo phân tổ của IFM hệ thống tài chính bao gồm khu vực tài chính ( bao gồm
NHTƯ và các định chế tài chính) và các thị trương tài chính. Trong phạm vi bài
viết này hệ thống tài chính tiền tệ được hiểu là khu vực tài chính (bao gồm Ngân
hàng Nhà nước và các TCTD). Ngoài phần mở đầu và kết luận bài nghiên cứu sẽ
gồm 5 nội dung chính:(i) sự cần thiết phải tái cấu trúc hệ thống tài chính tiền tệ;(ii)
tổng quan hệ thống tài chính tiền tệ Việt Nam;(iii) những vấn đề nổi lên cần xử lý
trong quá trình tái cơ cấu hệ thống tài chính; (iv) nội dung của tài cơ cấu hệ thống
ngân hàng. Bài viết này là quan điểm riêng của người viết, không đại diện cho quan
điểm của bất kỳ cơ quan quản lý tiền tệ nào.
Mở đầu
Trước khi đi vào nội dung chính của chủ đề nghiên cứu, chúng ta cần làm rõ,
tại sao phải tái cơ cấu hệ thống tài chính tiền tệ? và xu hướng chung của quá trình
tái cơ cấu trên thế giới diễn ra như thế nào?
Qua kinh nghiệm phát triển của hệ thống ngân hàng các nước có thể thấy khi
nào và ở đâu nhu cầu phát triển của nền kinh tế cũng là động lực phát triển chính
của hệ thống ngân hàng. Sự phát triển của hệ thống ngân hàng bất cứ quốc gia nào
cũng không tránh khỏi những giai đoạn khó khăn, khủng hoảng. Đó chính là dấu
hiệu cho thấy sự phát triển của hệ thống ngân hàng và các thể chế chính sách đi
kèm đã không còn phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế; và đã đến thời điểm nó
cần phải trải qua những cải tiến đổi mới. Và Cuộc khủng khoảng tài chính toàn cầu
năm 2008 là dấu hiệu cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của các hoạt động kinh tế - tài
chính trong xu thế toàn cầu hóa đã vượt ra ngoài khuôn khổ của hệ thống tài chính
hiện nay, đòi hỏi phải có sự cải tổ hoạt động ngân hàng trong phạm vi toàn cầu.
Phân tích nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và
kinh nghiệm tái cơ cấu hệ thống ngân hàng ở các nước trên thế giới cho thấy vấn đề
cải cách hệ thống ngân hàng phải tiến hành một cách nhanh chóng, quyết liệt để
giúp thị trường tài chính phục hồi chức năng trung gian một cách nhanh nhất, nếu
cập trong mô hình tăng trưởng kinh tế, cũng như những mất cân đối lớn về kinh tế
vĩ mô đã đe dọa sự phát triển bền vững của nền kinh tế , đồng thời cũng gây ra
những rủi ro đối với hệ thống ngân hàng. Vì vậy, Việc tái cấu trúc nền kinh tế, cùng
với những bất cập hiện nay của hệ thống ngân hàng cũng đòi hỏi phải tái cơ cấu lại
hệ thống ngân hàng. Thực tế, Chính phủ đã chỉ đạo việc tái cơ cấu hệ thống tài
3
chính, mà trọng tâm là các ngân hàng thương mại là một trong ba nội dung cơ bản
của tái cấu trúc kinh tế.
Như vậy có thể thấy cơ cấu lại hệ thống tài chính tiền tệ xuất phát từ đòi hỏi
thực tiễn phát triển của nền kinh tế trong giai đoạn mới và yêu cầu khắc phục những
khó khăn, yếu kém của các định chế tài chính. Theo đánh giá của Nguyên Phó Thủ
tướng Vũ Khoan “trong khi ta đang tìm cách để thoát khỏi tình trạng công nghiệp
gia công là chính để chuyển sang phát triển công nghiệp chế biến và chế tạo là
trọng tâm thì các nước phát triển đã bước vào thời kỳ phát triển các ngành hoàn
toàn mới. Bối cảnh đó làm cho sự tụt hậu về kinh tế của nước ta vốn đã xa sẽ càng
xa. Điều đó yêu cầu quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta cần được
đặt trong sự chuyển dịch cơ cấu mới .Đồng hành với quá trình tái cơ cấu công
nghệ là quá trình tái cấu trúc tài chính tiền tệ”
1
.
Tổng quan về hệ thống tài chính Việt Nam
Từ một hệ thống ngân hàng một cấp thực hiện cả chức năng NHTM và
chức năng NHTW, đến cuối những năm 80 của thế kỷ trước hệ thống ngân hàng hai
cấp đã được hình thành với sự tách bạch chức năng ngân hàng trung ương với chức
năng ngân hàng thương mại. Số lượng các TCTD tăng lên nhanh chóng từ chỗ ban
đầu chỉ có 4 ngân hàng thương mại quốc doanh với quy mô tài chính và dịch vụ nhỏ
bé. Đến nay, hệ thống các TCTD đã phát triển rất nhanh về số lượng, bao gồm: 1
ngân hàng phát triển, 1 ngân hàng chính sách xã hổi, 5 NHTM Nhà nước sở hữu
100% vốn hoặc cổ phần chi phối (sau đây gọi là NHTMNN), 37 ngân hàng thương
mại cổ phần (NHTMCP), 54 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 5 ngân hàng 100%
động ngân hàng trên thế giới. Điều này giúp cho các ngân hàng trong nước đã
nhanh chóng tận dụng được các hội từ bên ngoài khi nền kinh tế mở cửa và hội
nhập, từ đó gia tăng tốc độ phát triển của hệ thống ngân hàng trong nước và rút
ngắn khoảng cách giữa hệ thống ngân hàng trong nước với hệ thống ngân hàng thế
giới.
- Hệ thống ngân hàng Việt Nam có tính đồng thuận và tính định hướng cao,
do đó gia tăng hiệu quả hoạt động của hệ thống, đặc biệt là trong việc thực thi
những định hướng chính sách của Chính phủ, nâng cao khả năng hỗ trợ của hệ
thống ngân hàng đối với nền kinh tế.
Những vấn đề nổi lên cần xử lý của hệ thống tài chính hiện nay
1-Khả năng điều tiết và làm chủ thị trường tiền tệ của cơ quan quản lý tiền tệ
còn nhiều bất cập: Những biến động không bình thướng về lãi suất, tỷ giá, giá vàng,
giá chứng khoán, cùng với các giao dịch vốn trên thị trường tài chính kém thông
suốt trong thời gian qua phản ánh rõ nét thực trạng này.
2- Năng lực thanh tra giám sát của cơ quan quản lý vẫn còn nhiều điểm hạn
chế, tác động không nhỏ tới tính lành mạnh của hệ thống tài chính. Nội dung thanh
tra giám sát của NHNN được thể hiện thông qua các quyết định ban hành về hoạt
động thanh tra giám sát vẫn chưa đầy đủ; hoạt động giám sát chưa chú trọng vào
hoạt động cảnh báo sớm cho các NHTM, các định chế tài chính, vẫn chỉ mang tính
theo dõi, giám sát một cách riêng lẻ đối với từng định chế tài chính; hoạt động giám
sát nói chung và giám sát từ xa nói riêng của cơ quan quản lý còn hạn chế về năng
lực cán bộ cũng như phương pháp giám sát; mô hình tổ chức về thanh tra giám sát
hệ thống tài chính còn chưa hoàn thiện.
3- Sự phát triển của hệ thống tài chính kể từ khi đổi mới đến nay, mặc dù có
nhiều thành tựu, nhưng đã có sự phát triẻn sai lệch về mặt cấu trúc.Cơ cấu về quy
5
mô chưa thực sự hợp lý, hình thành quá nhiều các công ty chứng khoán, các qui đầu
tư so với qui mô thị trường chứng khoán, các định chế tài chính là ngân hàng thiếu
những định chế tài chính có quy mô lớn, hoạt động xuyên quốc gia, đồng thời cũng
thiếu các định chế tài chính có quy mô phù hợp để phát triển kinh tế nông nghiệp,
4
,
năm 2011 là 14, 2% và chênh lệch thu nhập, chi phí so với tài sản có (ROA) chỉ ở
mức 0.9%
5
, năm 2011 khoảng 1% . Nếu thực hiện phân loại nợ và trích lập dự
phòng rủi ro theo thông lệ quốc tế và hạch toán theo chuẩn mực kế toán quốc tế thì
hiệu quả kinh doanh của các định chế tài chính Việt Nam còn thấp hơn nữa; cơ chế
công bố thông tin và hệ thống kế toán còn nhiều bất cập so với thực tế và các thông
lệ, chuẩn mực về quốc tế. Nhà đầu tư và người gửi tiền thiếu thông tin cho việc
đánh giá, phân biệt về mức độ an toàn, hiệu quả giữa các định chế tài chính Hiện
nay, tính đại chúng của các định chế tài chính còn hạn chế, số lượng cổ đông ít và
nhiều NHTMCP chưa niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán;
(iii)- Cạnh tranh giữa các định chế tài chính chưa lành mạnh, thiếu sự hợp
tác dẫn đến kỷ cương, kỷ luật, chính sách, pháp luật trong hoạt động ngân hàng
không được tôn trọng nghiêm. Mục tiêu chạy theo lợi nhuận đã lấn át yêu cầu bảo
đảm an toàn kinh doanh và vi phạm quy định pháp luật về hoạt động tièn tệ, tín
dụng ngân hàng là không ít. Phương thức cạnh tranh chủ yếu là bằng giá/lãi suất,
thiếu lành mạnh chưa coi trọng chất lượng dịch vụ. Cùng với năng lực quản trị yếu
kém, đạo đức kinh doanh ngân hàng chưa cao làm gia tăng mức độ rủi ro hoạt động
và vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tài chinh ngân hàng;
5- Mức độ an toàn của hệ thống tài chính chưa cao, trong đó một bộ phận
các định chế tài chính hoạt động kém hiệu quả, mức độ an toàn thấp, Do các định
chế tài chính mở rộng phạm vi hoạt động vượt khả năng tài chính và quản lý của
mình( hình thành các công ty con, các qũy đầu tư ) ; các định chế tài chính là ngân
hàng mở rộng tín dụng nhanh, quá mức so với khả năng huy động vốn trên thị
trường 1, phải sử dụng nguồn vốn của thị trường 2, của công ty mẹ : Cơ cấu
nguồn vốn không ổn định; Mất cân đối nghiêm trọng về kỳ hạn giữa nguồn vốn và
sử dụng vốn do lấy vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn, đặc biệt là một số TCTD
đã đầu tư lớn vào bất động sản dẫn đến mất khả năng thanh khoản, buộc phải tăng
quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng chịu tác động đa chiều của kinh tế thề
giới. Thực tế cho thấy, kinh tế thế giới và hệ thống tài chính quốc tế hiện đang tiềm
ẩn nhiều yếu tố bất định, vì vậy, hệ thống tài chính Việt Nam, mà trọng tâm là các
NHTM cần phải được không ngừng nâng cao khả năng ứng phó với những tác
động bất lợi của kinh tế, tài chính khu vực và toàn cầu.
Do vậy, mục tiêu đặt ra đối với tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, mà trọng tâm
là ngân hàng thương mại là phải củng cố, chấn chỉnh, thúc đẩy hoạt động của hệ
thống ngân hàng với quy mô lớn hơn, an toàn và có hiệu quả hơn nhằm huy động,
đầu tư có hiệu quả vốn cho nền kinh tế, đồng thời đáp ứng tốt hơn như cầu dịch vụ
ngân hàng ngày càng tăng của xã hội và có khả năng ứng phó với những tác động
bất lợi của kinh tế, tài chính khu vực và toàn cầu.
Xuất phát từ thực trạng của hệ thống ngân hàng hiện nay và mục tiêu phát
triển hệ thống ngân hàng như đề cập trên, thì quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân
hàng có 3 vấn đề lớn cần phải được tập trung xử lý đồng thời, đó là:
1- Nâng cao vai trò điều tiết thị trường tiền tệ của NHNN, chuyển từ thế bị
động sang thế chủ động, để NHNN thực sự trở thành người điều phối thị trường,
8
trên cơ sở hình thành luật chơi bình đẳng và phù hợp với xu thế phát triển. Điều này
có ý nghĩa rất quan trọng để đạt được mục tiêu tài cơ cấu lần này, bởi :(i)sự ổn định
kinh tế vĩ mô, ổn định lạm phát, lãi suất và tỷ giá có ý nghĩa quan trọng đối với phát
sự phát triển của các định chế Việt Nam- thực tế vừa qua là một minh chứng rõ nét
cho nhận định này; (ii) sự sai lệch về cấu trúc hệ thống tài chính như nêu trên, có
thể thấy về căn nguyên của nó là do thiều chính sách điều chỉnh hợp lý.
2- Củng cố và nâng cao hiệu lực và hiệu quả của thanh tra giám sát của cơ
quan quản lý. Đây là công cụ rất quan trọng của cơ quan quản lý tiền tệ, cuộc khủng
hoảng tài chính tiền tệ toàn cầu vừa qua, khẳng định sự yếu kém của cơ quan quản
lý tiền tệ trong quản lý hoạt động của các định chế tài chính. Chính vì vậy, một
trong những điểm cải tổ hệ thống ngân hàng của các quốc gia trên thế giới là nâng
cao vai trò giám sát của cơ quan quản lý tiền tệ của các quốc gia, sửa đỏi các qui
định về an toàn hoạt động của các định chế tài chính Đối với Việt Nam vấn đề
trên thị trường liên ngân hàng được thông suốt. Trên thực tế trong năm 2011
NHNN đã thực hiện quyết liệt các giải pháp nhắm thực hiện mục tiêu ổn định trên,
như hạ lãi suất tiền gửi ngoại tệ, thực hiện kiên quyết trần lãi suất tiền gửi ngoại tệ
và hạn mức tín dụng, thực hiện quyết liệt kỷ luật thị trường ( Chính phủ ban hành
nghị định mức xử phạt rất cao đối với các hành vi vi phạm pháp lệnh ngoại hối)
Các giải pháp trên đến nay bước đầu đã tạo sự ổn định về lãi suất, tỷ giá. Trong năm
2012 NHNN đã áp dụng trần tín dụng khác nhau đối với các TCTD, hạn mức này
được phân bổ căn cứ vào qui mô tín dụng và năng lực quản trị của các TCTD. Giải
pháp này nhằm mục đích nâng cao chất lượng tín dụng, định hướng đầu tư, góp
phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đồng thời cũng khuyến khích các định chế tài
chính đa dạng hóa các hoạt động dịch vụ và nâng cao năng lực quản trị ngân hàng
- Tập trung, củng cố phát triển tiền tệ, nhất là thị trường liên ngân hàng, đây
là cửa sổ quan trọng để NHNN năm bắt kịp thời diễn biến cung , cầu trên thị trường
tiền tệ nhằm can thiệp, điều tiết diễn biến thị trường theo mục tiêu. Yếu kém hiện
nay là NHNN chưa năm bắt được chính xác, kịp thời các giao dich giữa các định
chế tài chính trên thị trường ( khối lượng và lãi suất ). Vì vậy, trong năm 2011-2012
NHNN đã và đang tập trung xây dựng sàn giao dịch điện tử liên ngân hàng, qua sàn
này NHNN có thể nắm bắt được kịp thời các giao dịch của thị trường.
- Thiết lập việc quản lý ngoại hối một cách chặt chẽ, đảm bảo không để xẩy
ra có các cú sốc về lãi suất, tỷ giá và giá vàng; hoàn thành cơ chế kiểm soát dòng
chu chuyển ngoại tệ trong nền kinh tế.
- Tập trung các giải pháp hạn chế, tiến tới xóa bỏ căn bản tình trạng đôla hóa.
Thực trạng đô la hóa của Việt Nam thời gian qua cho thấy, đã có những tác động rất
bất lợi đến hiệu quả điều hành CSTT, đến ổn định tiền tệ. Vì vậy để nâng cao khả
10
năng điều tiết tiền tệ của NHNN cần tập trung giải quyết vấn đề đola hóa. Thực tế
hiện nay, NHNN đã và đang xây dựng đề án chống đôla hóa, đồng thời đã thực hiện
một số các giải pháp hạn chế tình trạng này, như giảm cho vay bằng ngoại tệ, thông
qua giải pháp hạ lãi suất trần huy động ngoại tệ. Giải pháp này đã có tác động tích
cực trong việc điều chỉnh hành vi giảm cho vay bằng ngoại tệ của các NHTM
cơ chế giám sát hoạt động của thị trương fliên ngân hàng; Hoàn thành các văn bản
qui định về quản lý ngoại hối; hoàn thành khung pháp lý cho việc thành lập tổ chức
xếp hạng tín nhiệm đối với các TCTD; hoàn thành các văn bản điều chỉnh các loại
hình dịch vụ mới của ngân hàng ( Internetbanking, mobilephonebanking ); hoàn
thành các văn bản qui định về việc thành lập và vận hành trung tâm thanh toán bù
trừ .
- Phát triển vai trò giám sát của NHNN đối với các hệ thống thanh toán. Thiết
lập các nguyên tắc và chuẩn mực giám sát dựa trên các nguyên tắc cốt lõi theo
thông lệ quốc tế đối với các hệ thống thanh toán có tầm quan trọng hệ thống.
- Tập trung đào tạo đội ngũ thanh tra viên về kiến thức giám sát trên cơ sở rủi
ro, sự hiểu biết hơn nữa của đội ngũ này về các mặt hoạt động của các định chế tài
chính, khả năng phân tích báo cáo tài chính, khả năng cảnh báo, phát hiện sớm
những rủi ro có thể xẩy ra.
- Tập trung củng cố bộ máy tổ chức về thanh tra giám sát đối với NHNN nói
riêng và cả hệ thống tài chính nói chung; hình thành hệ thống cảnh báo sớm theo
thông lệ quốc tế; ban hành các chuẩn mực về an toàn hoạt động ngân hàng theo
Basel II; thiết lập các nguyên tắc và chuẩn mực giám sát hệ thốgn thanh toán trên
các nguyên tắc cơ bản của thông lệ quốc tế.
-Tăng cường hợp tác quốc tế song phương, đa phương về thanh tra ngân hàng,
tài chính. Tận dụng hỗ trợ kỹ thuật của cộng đồng quốc tế nhằm đạt các chuẩn mực
quốc tế về thanh tra giám sát ngân hàng.
Đến năm 2015, năng lực và hiệu lực thanh tra giám sát được nâng lên một
bước: Hoàn thiện đầy đủ các qui định an toàn hoạt động của các định chế tài chính
sát với chuẩn mực quốc tế (tuân thủ theo Basel II )và phù hợp với thực tế Việt nam;
chuyển cơ bản sang giám sát rủi ro.
(iii) Đối với vấn đề 3- Lành mạnh các định chế tài chính.
Hiện nay, NHNN đã được Chính phủ phê duyệt đề án Cơ cấu lại hệ thống các
tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015
6
. Theo đề án này, mục tiêu cơ cấu lại hệ
Nam); triển khai sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng; tăng vốn điều lệ và
xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng; Cơ cấu lại hoạt động và hệ thống quản trị.
Sau 2 năm dự kiến khả năng chi trả của toàn hệ thống các tổ chức tín dụng về cơ
bản được bảo đảm, đồng thời xác định, kiểm soát được tình hình của tổ chức tín dụng
yếu kém để làm cơ sở cho việc áp dụng các biện pháp cơ cấu lại ở giai đoạn sau.
(ii) Năm 2013, sẽ hoàn thành sửa đổi, bổ sung các quy định an toàn hoạt
động ngân hàng; tiếp tục triển khai lành mạnh hóa tài chính của các tổ chức tín
dụng, bao gồm xử lý nợ xấu và tăng vốn điều lệ;triển khai cơ cấu lại hoạt động và
quản trị; hoàn thành căn bản cơ cấu lại sở hữu, pháp nhân của ngân hàng thương
mại cổ phần yếu kém;hoàn thành cơ cấu lại các công ty tài chính và công ty cho
thuê tài chính.
13
Sau 2013, nguy cơ đổ vỡ hệ thống các tổ chức tín dụng được loại bỏ, các tổ
chức tín dụng yếu kém được xử lý về cơ bản. Kỷ cương, kỷ luật trong lĩnh vực ngân
hàng được lập lại và củng cố.
(iii)Năm 2014 sẽ hoàn thành căn bản cơ cấu lại tài chính của tổ chức tín
dụng; Các tổ chức tín dụng đáp ứng đầy đủ mức vốn điều lệ thực và các chuẩn mực,
giới hạn an toàn hoạt động ngân hàng theo quy định pháp luật;tếp tục triển khai cơ
cấu lại hoạt động và quản trị; tiếp tục sáp nhập, hợp nhất, mua lại theo nguyên tắc
tự nguyện.
Đến hết năm 2015, sẽ hoàn thành cơ cấu lại hoạt động và quản trị; tài chính
và hoạt động kinh doanh được củng cố, chấn chỉnh và lành mạnh hóa; Hệ thống
quản trị được cải thiện một bước quan trọng. Các tổ chức tín dụng đáp ứng đầy đủ
các yêu cầu về vốn và tiêu chuẩn an toàn hoạt động ngân hàng.
Đề án cũng khẳng định, tái cơ cấu hệ thống ngân hàng sẽ được triển khai quyết
liệt, đồng bộ các giải pháp củng cố, chấn chỉnh và cơ cấu lại các định chế tài chính,
đến năm 2015 hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam được lành mạnh hóa một
bước quan trọng về tài chính và hoạt động, giảm bớt số lượng tổ chức tín dụng nhỏ,
yếu kém và hình thành một số ngân hàng thương mại có quy mô lớn hơn, có khả
năng cạnh tranh mạnh hơn, đặc biệt tăng cường được quy mô và vị trí chi phối của
mức độ sai số không làm ảnh hưởng đến mục tiêu điều hành; mô hình hoá được tác
động của CSTT qua các kênh dến lạm phát và tăng trưởng kinh tế ( độ trễ thời gian,
mức độ tác động).
- Xử lý căn bản tình trạng đô la hóa vào năm 2020; hạn chế và tiến tới chấm
dứt cho vay bằng ngoại tệ đến năm 2020, các nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu và
các nhu cầu ngoại tệ khác thực hiện theo cơ chế mua bán; tin học hóa việc kiểm
soát dòng di chuyển vốn ngoại tệ trong nền kinh tế; tự hoa hóa giao dịch vốn ở mức
cao, tăng mức đầu tư gián tiếp đổi với các nhà đàu tư nước ngoài hơn mức hiện tại;
thực hiên chính sách tỷ giá linh hoạt với biên độ giao động rộng hơn.
-Triển khai giám sát đồng bộ và thống nhất toàn bộ khối ngân hàng (bao
gồm các ngân hàng thương mại, các công ty trực thuộc, các công ty con tài chính và
phi tài chính); Thực hiện thanh tra giám sát trên cơ sở rủi ro là chủ yếu; tiến hành
đánh giá , xếp hạng các TCTD theo chuẩn mực quốc tế; Về cơ bản áp dụng đầy đủ
25 nguyên tắc của Basel, áp dụng các chuẩn mực và thông lệ quốc tế về an toàn
hoạt động ngân hàng theo Basel II trước năm 2018 và thực hiện Basel III vào năm
2020 Các chuẩn mực an toàn được áp dụng phù hợp với qui mô và phạm vi hoạt
động của các định chế tài chính.
- Hoàn thành cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin đối thoại chính sách giữa
NHNN và các cơ quan thanh tra thuộc khu vực tài chính trong nước, cơ quan giám
sát tài chính, ngân hàng nước ngoài, bảo đảm giám sát toàn diện, nhất quán các hoạt
động ngân hàng tại Việt Nam.
15
- Hoạt động phòng, chống rửa tiền từng bước tiến tới đáp ứng đầy đủ các
chuẩn mực quốc tế được nêu trong 40+9 khuyến nghị của Lực lượng đặc nhiệm tài
chính về chống rửa tiền.
- Thúc đẩy mạnh mẽ việc mở rộng các dịch vụ ngân hàng cho các các thành
phần trong nền kinh tế và mở rộng các dịch vụ ngân hàng ra ngoài khu vực truyền
thống, tăng cường cạnh tranh quốc tế và mở rộng mạng lưới ra ngoài phạm vi quốc
gia; Xây dựng cơ chế bảo vệ người tiêu dùng trong quan hệ giữa khách hàng với
ngân hàng trong khuôn khổ pháp luật
Tài Liệu tham khảo
- Tài liệu toạ đàm khuôn khổ đề tài nghiên cứu khoa học “ những vấn đề cơ
bản về phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2011-2020, Mã số
KNHTD 2010-2011.
- Đề án Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015 ban hành
kèm theo Quyết định 254/QĐ-TTg ngày 1/3/2012 của Thủ Tướng chính phủ phê
duyệt Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015.
- Trang thông tin điện tử của Ngân hàng Nhà nước .