LỜI NÓI ĐẦU
Ngân hàng thương mại (NHTM) là tổ chức tài chính trung gian với chức năng chính
là huy động vốn để cho vay; trong những năm qua, hệ thống các NHTM ở nước ta đã có
bước phát triển đáng kể, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của
đất nước, cũng như góp phần xóa đói, giảm nghèo, ổn định trật tự xã hội. Những mặt đạt
được của hệ thống ngân hàng đã được Đảng, Nhà nước và xã hội ghi nhận, song bên
cạnh những kết quả đạt được thì hệ thống NHTM vẫn còn nhiều mặt tồn tại như: nợ xấu
tăng cao, thanh khoản của hệ thống chưa thực sự ổn định, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu chưa
thực sự vững chắc…Do đó, để hệ thống NHTM hoạt động có hiệu quả, an toàn hơn thì việc
tái cơ cấu lại hệ thống các NHTM là một việc cần thiết phải làm trong giai đoạn hiện nay.
I. TỔNG QUAN VỀ TÁI CẤU TRÚC NGÂN HÀNG
1.1. Tái cấu trúc nền kinh tế
Hiểu một cách tổng quát, thì tái cấu trúc nền kinh tế là việc bố trí, sắp xếp lại các
doanh nghiệp (DN), các tổ chức kinh tế nhằm tạo ra một cơ cấu hợp lý giữa các ngành,
các thành phần kinh tế, từ đó thúc đẩy được nền kinh tế phát triển đồng bộ, toàn diện và có
hiệu quả trên phạm vi từng địa phương cũng như trên phạm vị cả nước.
Tái cấu trúc nền kinh tế cũng là một yêu cầu cấp bách đối với một nền kinh tế ở
một quốc gia. Đặc biệt đối với nền kinh tế các nước kém phát triển như nền kinh tế ở nước
ta thì tái cấu trúc nền kinh tế sẽ đưa đến những kết quả thay đổi về cơ bản nhìn từ góc độ
các DN và toàn bộ nền kinh tế.
Nền kinh tế được bố trí, sắp xếp lại theo hướng cân đối về sự phát triển giữa các
ngành kinh tế, vùng kinh tế từ địa phương đến trung ương, từ đó tạo ra khả năng liên kết
ngành, vùng và địa phương trong việc tổ chức sản xuất ra các sản phẩm chủ lực cho xuất
khẩu, cho yêu cầu tiêu dùng trong nước.
Tạo ra sự sắp xếp, sàng lọc lực lượng lao động có chuyên môn, có kỹ thuật, từ đó
thúc đẩy được cải tiến kỹ thuật và tăng năng suất lao động trong từng DN và trong toàn bộ
nền kinh tế.
Tái cấu trúc nền kinh tế, để xác định các DN chủ lực, đơn vị then chốt của nền kinh
tế quốc dân, những DN này phải có tiềm lực vốn lớn, đủ sức cạnh tranh và hội nhập với
kinh tế các nước trong khu vực và các nước trên toàn thế giới.
Tái cấu trúc nền kinh tế nhằm tạo ra khả năng cạnh tranh lành mạnh giữa các
này bao gồm:
- Khủng hoảng tài chính kinh tế – các vấn đề của khu vực kinh tế thực.
- Nợ xấu gia tăng (căng thẳng của khu vực thực và rủi ro quá mức đối với lĩnh vực
bất động sản, ngoại hối, các doanh nghiệp thua lỗ (kể cả doanh nghiệp nhà nước), cho vay
bên quen biết…).
- Mức vốn yếu so với rủi ro-lo sợ mất khả năng trả nợ.
- Trung gian không hiệu quả-luồng tín dụng không đủ, theo đuổi rủi ro quá mức của
các ngân hàng (nhanh, tăng trưởng tín dụng không được kiểm tra), lãi suất bị bóp méo,
tiền nóng ).
- Khuôn khổ giám sát và quản lý yếu.
- Thiếu niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
1.2.3. Mục tiêu của quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng
Theo World Bank (Sameer Goyal-2011), việc tái cấu trúc nhằm hướng đến các mục
tiêu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, nhằm giải quyết các yêu cầu về một hệ thống ngân
hàng “khỏe mạnh”, đáp ứng đầy đủ các điều kiện để thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
- Các mục tiêu ngắn và trung hạn:
+ Thứ nhất, duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng, đảm bảo khả năng thanh
khoản,chi trả và hoạt động của các trung gian tài chính không bị đình trệ. Đây là mục tiêu
cơ bản nhất của việc tái cấu trúc nhằm bảo đảm tính ổn định trong hoạt động của hệ thống
ngân hàng và của cả nền kinh tế.
+ Thứ hai, giải quyết các vấn đề một cách kịp thời nhằm ngăn ngừa sự lây lan
hoặc các vấn đề mang tính hệ thống.
+ Thứ ba, khôi phục lại niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng. Khi
hệ thống ngân hàng đựợc cơ cấu lại, tính thanh khoản của cả hệ thống ổn định, mức độ tín
nhiệm của ngân hàng được nâng cao sẽ tạo lòng tin của các thành phần kinh tế đối với hệ
thống ngân hàng.
+ Thứ tư, tối thiểu hóa chi phí tái cấu trúc đối với Ngân hành trung ương
(NHTW), bảo hiểm tiền gửi hay Chính phủ. Song song với những mục tiêu củng cố sức
mạnh cho hệ thống ngân hàng thì việc tái cơ cấu cũng nhằm mục đích giảm thiểu tới mức
nhỏ nhất các chi phí liên quan đến NHTW, bảo hiểm tiền gửi hay Chính phủ, để mang lại
- Chẩn đoán/ Đánh giá:
+ Đánh giá sức khỏe tài chính của các tổ chức (trạng thái vốn, nợ xấu, thanh
khoản, khả năng thu lợi nhuận )
Hệ thống ngân hàng yếu kém thường được biểu hiện qua các hiện tượng như tăng
tưởng tín dụng nóng, tiêu chuẩn tín dụng không chặt chẽ, tỷ trọng cho vay cao so với huy
động, nợ xấu cao…
Xác định chính xác nguyên nhân gây nên yếu kém của hệ thống ngân hàng có một
vai trò rất quan trọng vì chỉ khi hiểu rõ nguyên nhân mới có thể đưa ra giải pháp hợp lý.
Nguyên nhân gây nên tình trạng khó khăn của hệ thống ngân hàng thường tập trung ở
những vấn đề như không đánh giá đúng mức rủi ro tín dụng, không đa dạng hóa hoạt
động, rủi ro sai lệch tiền tệ, gia tăng chi phí hoạt động. Ngoài ra, còn có nguyên nhân khác
như tỷ giá hối đoái biến động, giảm giá tài sản, các biến động có tính chất chu kỳ của nền
kinh tế.
Sau khi đã tìm ra những nguyên nhân của nợ xấu, các quốc gia đều phải tiến hành
ước tính về nợ xấu và phân loại các khoản nợ xấu. Việc ước tính và phân loại các khoản
nợ càng chính xác bao nhiêu thì càng giúp cho việc thiết lập các quỹ dự phòng rủi ro và
các hỗ trợ tài chính chính xác bấy nhiêu. Tuy nhiên, trên thực tế do những khác biệt về
quy định nợ xấu, quy định về đánh giá lại nợ theo giá thị trường, sự yếu kém của các thị
trường giao dịch tài chính… khiến cho tính toán dự phòng nợ xấu cho cả hệ thống ngân
hàng cũng như cho từng ngân hàng riêng là rất khó chính xác.
Kinh nghiệm giải quyết các cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới cho thấy việc
xác định kịp thời nợ xấu nợ dưới chuẩn, nhanh chóng xử lý các khoản nợ này và thực
hiện các biện pháp mạnh trong việc cơ cấu lại hệ thống ngân hàng là yếu tố thúc đẩy
nhanh kinh tế nhanh hồi phục và khôi phục lại năng lực cho vay của lĩnh vực ngân hàng.
Thời gian qua, các tổ chức xếp hạng hàng đầu trên thế giới đã liên tục hạ mức tín
3
dụng của hàng loạt ngân hàng lớn trên thế giới. Hầu hết các ngân hàng Châu Âu đang đối
mặt với nguy cơ thua lỗ khổng lồ do đang sở hữu quá nhiều trái phiếu Chính phủ của
các nước khu vực euro, một số ngân hàng lớn lo ngại sẽ bị phá sản do các Chính phủ
châu Âu đã suy kiệt và đang dốc sức để chống suy thoái kinh tế.
hơn, chẳng hạn như Thái Lan trong khủng hoảng những năm 1990 ), cổ
phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước
Nợ xấu tăng một cách
có hệ thống
Các yêu cầu về dự phòng và vốn cao hơn, Các công ty Quản lý Tài sản-
AMC (tập tung hóa hoặc ngân hàng cụ thể), Mô hình Ngân hàng xấu –
Ngân hàng tốt, tái cấu trúc doanh nghiệp
Ngân hàng khó khăn
trong việc huy động
vốn (tiền gửi) và hỗ
trợ cho vay
Tạm thời cung cấp cửa sổ thanh khoản (chức năng người cho vay cuối
cùng của NHTW); Tăng cường bảo vệ người gửi tiền để tái lập niềm tin
công chúng (ví dụ khủng hoảng năm 2009 đã thúc đẩy một số quốc gia
tăng hạn mức BHTG)
+ Một số giải pháp khác:
Sáp nhập, hợp nhất
Mua lại, sáp nhập, hợp nhất để hình thành những định chế hoặc những tổ hợp tài
chính lớn hơn, mạnh hơn thông qua việc tăng cường hiệu quả kinh tế nhờ quy mô, đồng
thời tạo lợi thế cạnh tranh nhờ việc gia tăng thị phần hoạt động là một xu thế phổ
biến và diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, và cũng là một trong những biện pháp hữu hiệu
trong quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng tại nhiều quốc gia.
Có thể kể đến một số thương vụ sáp nhập lớn nhất trong lịch sử ngành tài chính
4
ngân hàng. Đầu tiên là vụ sáp nhập lớn chưa từng thấy trong lịch sử ngành ngân hàng
Châu Âu nói riêng và trong ngành công nghiệp tài chính toàn cầu nói chung của 02 ngân
hàng ABN AMRO của Hà Lan và Barclays PLC của Anh, hình thành nên tập đoàn ngân
hàng hàng đầu thế giới tính theo số vốn thị trường. Kế tiếp là vụ sáp nhập của Bank of
America với Merrill Lynch, giúp Bank of America đạt tham vọng đứng đầu ngành ngân
hàng nội địa của Mỹ xét theo tiêu chí tiền gửi và lượng vốn hóa thị trường.
của Malaysia, một nước có điều kiện kinh tế xã hội tương đồng với Việt Nam đã thực hiện
thành công tái cơ cấu khu vực tài chính, là cần phải có lộ trình hợp lý và thực hiện theo kế
hoạch toàn diện, minh bạch, cập nhật trên các trang mạng của cơ quan tái cơ cấu nợ nhà
nước là Danaharta. Đặc biệt, hệ thống dữ liệu được công khai phải tạo niềm tin cho người
dân.
Ngoài ra, tại một số nước, Chính phủ có thể xem xét tăng mức bảo hiểm tiền gửi
lên để gia tăng lòng tin của công chúng. Anh đã gia tăng mức bảo hiểm tiền gửi tối đa từ
35.000 GBP (55.000 USD) lên 85.000 GBP (135.000 USD) sau khủng hoảng tài chính
năm 2008. Tại Philippines, mức bảo bảo hiểm tiền gửi là 500.000 peso (12.000 USD).
Hiện nay, trước yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới, Chính phủ
Việt Nam đã chỉ đạo việc xây dựng đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-
2015 nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, quản trị tốt hơn, đa dạng hóa sản phẩm và dịch
vụ, từng bước nâng cao tiềm lực tài chính và khả năng cạnh tranh; không còn TCTD yếu
5
kém kéo dài, ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế.
Giải pháp hay phản ứng mà một Chính phủ chọn phụ thuộc vào một số yếu tố- kinh
tế chính trị, phạm vi và mức độ nghiêm trọng của vấn đề, các điều kiện kinh tế hiện tại,
tình trạng tài chính của các ngân hàng và Chính phủ, các hạn chế của khuôn khổ quản lý và
pháp luật (kể cả luật phá sản và các luật liên quan khác), năng lực về tổ chức của các tổ
chức liên quan Các giải pháp này không nên được xem xét một cách biệt lập.
1.3. Kinh nghiệm quốc tế về tái cơ cấu hệ thống ngân hàng:
1.3.1. Tổng hợp các biện pháp tái cấu trúc của một số quốc gia.
1.3.1.1. Tái cấu trúc nợ của khu vực doanh nghiệp
Trong quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, bao giờ cũng phải giải quyết vấn đề
nợ xấu đối với khu vực doanh nghiệp (DN). Thông thường, tỷ lệ vay nợ của khu vực DN
bao giờ cũng chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng cho vay của hệ thống ngân hàng. Để giải
quyết vấn đề này có nhiều hướng tiếp cận khác nhau.
Nếu DN lâm vào tình trạng khó khăn tạm thời, không trả nợ và lãi đúng hạn do lãi
suất tăng cao và do những bất lợi khách quan khác nhưng về lâu dài DN vẫn có triển vọng
phát triển, thì ngân hàng có thể tạo điều kiện cho DN cơ cấu lại các khoản nợ để DN có
Indonesia x x x
Hàn Quốc x x x x
Malaysia x x x
Philippines x x x
Thái Lan x x x x
Argentina x x
6
Brazil x x
Chilê x x x
Colombia x x x x
Mexico x x x
Venezuela x x
Nguồn: Tổng quan thực tiễn tái cơ cấu ngân hàng” (NHTTQT, 08/1999)
Sự đa dạng trong các biện pháp tái cơ cấu ngân hàng đã buộc Chính phủ các nước
phải thành lập và/hoặc chỉ định một cơ quan đầu mối điều phối các chính sách, ví dụ
Chính phủ Thái Lan thành lập Ủy ban tư vấn tái cấu trúc tài chính (bao gồm cán bộ của
NHTW, Bộ Tài chính và những cơ quan khác); tại Malaysia, NHTW điều phối các hoạt
động liên quan đến quản lý nợ xấu và bơm vốn cho ngân hàng.
Tuy nhiên, khi Chính phủ tiến hành các chính sách hỗ trợ hệ thống ngân hàng luôn
xảy ra nguy cơ làm tăng rủi ro đạo đức. Chính sách hỗ trợ có thể khuyến khích những
hành động chấp nhận rủi ro quá mức của các ngân hàng vì nếu thất bại đã có Chính phủ hỗ
trợ. Do vậy, khi thiết kế chính sách hỗ trợ, Chính phủ các nước thường cố gắng đảm bảo
các hành vi rủi ro đạo đức phải ở mức thấp nhất.
Với trường hợp khi cả hệ thống ngân hàng gặp khó khăn chung, NHTW có thể áp
dụng nhiều chính sách khác nhau như cung cấp các khoản cho vay với các ngân hàng gặp
căng thẳng về thanh khoản, khi đó lượng vốn cho vay nên phù hợp với giá trị của tài sản
thế chấp của ngân hàng và nên chỉ tiến hành trong một khoảng thời gian cụ thể. Một biện
pháp mà NHTW có thể sử dụng là giảm dự trữ bắt buộc hoặc tăng lãi suất trả cho khoản
dự trữ bắt buộc, nhờ đó các ngân hàng thương mại có thể tăng thanh khoản, giúp hỗ trợ
quá trình tái cơ cấu. Ngoài ra, có thể sử dụng chính sách tiền tệ nới lỏng với mục tiêu giảm
Bán cho các ngân hàng tư
nhân
Indonesia
Nhà nước bơm vốn thông
qua Cơ quan tái cơ cấu
ngân hàng Indonesia và
theo kế hoạch tái cơ cấu
7
Hàn Quốc
Chính phủ và quỹ bảo hiểm
tiền gửi bơm vốn
Malaysia
Chính phủ và NHTW hỗ
trợ thông qua cơ quan
chuyên biệt
Thái Lan Bộ Tài chính bơm vốn
Chile NHTW bơm vốn
Chuyển đổi thành nợ sau
2-4 năm
Colombia
Quỹ bảo hiểm tiền gửi bơm
vốn
Tư nhân hóa các n
bằng hình thức đấu
RCC- Nhật Bản DN thuộc Tập đoàn Bảo hiểm tiền gửi (DICJ)
Kamco- Hàn Quốc DN thuộc Ngân hàng phát triển - KDB
4 AMC (Cinda, Great Wall, Orient,
Huarung) - Trung Quốc
DN nhà nước
(tổ chức tài chính phi ngân hàng của nhà nước)
RTC- Mỹ DN nhà nước
Cơ chế xử lý nợ xấu
FRF- Đài Loan (Trung Quốc) Quỹ thuộc Bộ Tài chính
IBRA- Indonesia Cơ quan thuộc Chính phủ
TAMC- Thái Lan Cơ quan thuộc Chính phủ
Chương trình PROER và PROES- Brazil Chương trình thuộc Chính phủ
FOBAPROA - Mexico Cơ quan thuộc Chính phủ
Nguồn: Viện Chiến lược và Chính sách Tài chính – Bộ Tài chính năm 2012
8
Để xử lý vấn đề nợ xấu một cách nhanh chóng, Hàn Quốc và Malaysia áp dụng
cách thức mua nợ xấu theo “lô lớn”, với các điều kiện mua bán sẽ được thỏa thuận sau hay
buộc chuyển giao nhanh các khoản nợ xấu. Cũng có trường hợp nợ xấu phải thỏa mãn
những điều kiện nhất định mới được chuyển giao như trong trường hợp của Thái Lan là nợ
xấu của tổ chức thuộc Chính phủ hoặc nợ xấu của khu vực tư nhân với điều kiện giá trị
khoản nợ xấu ít nhất là 5 triệu bath và phải có đảm bảo và đồng tài trợ thì mới được
chuyển giao. Định giá nợ xấu chủ yếu dựa theo 02 cách: giá trị thị trường và giá trị sổ
sách. Nguồn tài chính cho các AMC cũng như các cơ chế xử lý nợ xấu ở các nước chủ yếu
từ (1) ngân sách, (2) trái phiếu và các khoản vay khác, (3) ưu đãi khác trong quá trình hoạt
động.
1.3.1.4. Chuyển đổi sở hữu
Sáp nhập những ngân hàng trong nước có lẽ là cách thức tốn ít chi phí nhất trong
quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng. Thậm chí, ngay cả khi không có khủng hoảng xảy
ra nhưng nếu có quá nhiều các ngân hàng nhỏ thì sáp nhập cũng là cách thức tốt để tăng
tính hiệu quả. Tuy nhiên, tình huống khi nhiều ngân hàng xảy ra vấn đề thì rất khó tìm ra
Bên cạnh đó, Maylaysia thực hiện các chính sách như: thu hẹp loại hình hoạt động
ngân hàng đầu tư nhằm loại bỏ sự chồng chéo trong hoạt động và củng cố lợi thế cạnh
tranh bằng cách sáp nhập các tổ chức có hoạt động đầu tư, chứng khoán vào thành loại
hình ngân hàng đầu tư; công bố các chỉ số chuẩn mực để thúc đẩy các định chế tài chính
9
nội địa tập trung phát triển lành mạnh và giải quyết các yếu kém; thúc đẩy sự tham gia của
các đối tác chiến lược có năng lực vào đội ngũ cổ đông nhằm chuyển giao các kỹ năng và
kinh nghiệm chuyên môn, tiếp cận với công nghệ và sáng kiến thúc đẩy sự đổi mới sản
phẩm dịch vụ, thúc đẩy sự ra đời và đưa vào ứng dụng các chuẩn mực và thông lệ quản trị
rủi ro, cải thiện hiệu quả hoạt động của HĐQT và ban điều hành, tăng cường kỷ luật thị
trường, mở rộng cơ hội kinh doanh mới.
Kế hoạch tổng thể phát triển khu vực tài chính giai đoạn 2001-2010 được chia
thành 03 giai đoạn, với mục tiêu tạo lập được một hệ thống tài chính đa dạng, hiệu quả,
vững mạnh, ổn định, hoạt động năng động trên thị trường tài chính khu vực và thế giới với
năng lực cạnh tranh cao, phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế đất nước. Kế hoạch này
bao hàm 06 lĩnh vực thuộc hệ thống tài chính là: (1) các phương thức và mô hình cung
ứng tài chính cho nền kinh tế; (2) hoạt động ngân hàng; (3) hoạt động bảo hiểm; (4) hoạt
động ngân hàng và bảo hiểm Hồi giáo; (5) hoạt động của các định chế tài chính phát triển;
(6) thanh tra giám sát Labuan (một cơ quan chịu trách nhiệm quản lý giám sát tài chính ở
đặc khu kinh tế). Kế hoạch tổng thể tập trung vào các yếu tố: hiệu quả, hiệu lực, ổn định,
quản lý an toàn và xây dựng cơ sở hạ tầng của khu vực tài chính Malaysia.
Sau quá trình thực hiện kế hoạch phát triển tổng thể, từ cuối năm 2001 đến đầu năm
2010, hệ số an toàn vốn của hệ thống ngân hàng Malaysia đã tăng từ 13% lên 15% trên tài
sản chịu rủi ro, lợi nhuận tính bằng thu nhập trên vốn tự có ROE tăng từ 13,3% lên 16,5%,
thu nhập trên tổng tài sản tăng từ 1% lên 1,5%, chất lượng tài sản được cải thiện với tỷ lệ
nợ xấu giảm từ 11,5% xuống còn 1,9%, năng suất lao động (tính bằng lợi nhuận bình
quân/nhân viên) tăng từ 63.500 RM lên 172.500 RM. Hệ thống ngân hàng vẫn tiếp tục
chiếm giữ vị trí trung gian tài chính chủ đạo cho nền kinh tế, với trên 50% tổng tài sản của
hệ thống tài chính.
Quá trình sáp nhập giữa các ngân hàng bắt đầu từ năm 2000. Tại thời điểm đó, hệ
tiên được thực hiện trong giai đoạn 1998 – 1999. Đến khi tập đoàn Daewoo phá sản năm
1999, 08 trong tổng số 17 ngân hàng có tỷ lệ an toàn vốn dưới 8% vào nửa sau năm 2000
(5 trong số này đã mất khả năng thanh toán). Do vậy Chính phủ phải tiến hành bơm vốn
đợt 02.
Trong quá trình bơm vốn cho các ngân hàng, Chính phủ Hàn Quốc đã yêu cầu lãnh
đạo các ngân hàng yếu kém từ chức đồng thời giảm vốn. Chính phủ can thiệp vào việc
quản lý bằng đề ra các chỉ tiêu kinh doanh. Sau khi cấp vốn, việc thu hồi ngân sách được
thực hiện bằng cách bán cổ phần của các ngân hàng bị quốc hữu hóa cho nhà đầu tư.
Cách làm này đã giúp Chính phủ nâng cao giá trị các ngân hàng và giảm thiểu thiệt
hại cho ngân sách. Cùng lúc đó Seoul đưa ra các chuẩn khắt khe hơn đối với việc phân
loại nợ nhằm bơm đủ vốn và khôi phục niềm tin của nhà đầu tư vào các ngân hàng khó
khăn. Để giải quyết lượng nợ xấu của các ngân hàng lên tới 92 tỷ USD, tương đương 20%
GDP, Hàn Quốc thành lập một công ty xử lý nợ (KAMCO) trực thuộc Chính phủ để mua
lại nợ theo giá thị trường. Chi phí mà Chính phủ bỏ ra để mua lại số nợ này chỉ là 33 tỷ
USD với tỷ lệ chiết khấu bình quân 64%.
Sau đó số nợ xấu này được xử lý bằng cách phát hành các chứng khoán được đảm
bảo bằng các tài sản này cũng như bán trực tiếp. Chính nhờ sự xuất hiện của công ty xử lý
nợ tập trung đã tạo ra một thị trường giao dịch nợ xấu và khuyến khích các ngân hàng bán
bớt nợ xấu.
Các biện pháp này đã giúp cải thiện nhanh chóng tình hình tài chính cũng như quản
trị của các ngân hàng. Tỷ lệ nợ xấu tại các ngân hàng đã giảm mạnh từ mức đỉnh 13,6%
vào năm 1999 xuống chỉ còn 2,4% trong năm 2002. Tỷ lệ an toàn vốn tăng mạnh từ mức
đáy 7% năm 1997 lên 10,5% năm 2002.
Hầu hết các khoản nợ xấu bị cho là phải xóa nợ cũng dần được thu hồi. Mức xếp
hạng tín nhiệm các ngân hàng hồi phục và đến đầu năm 2001 Chính phủ Hàn Quốc không
còn phải bảo đảm tiền gửi cho người dân. Sau 05 năm thua lỗ, các ngân hàng bắt đầu có
lời từ năm 2001 và tăng trưởng nhanh từ 2002 và phát triển ổn định cho đến nay.
1.3.2.3. Kinh nghiệm tái cấu trúc Ngân hàng Trung Quốc
Chính phủ Trung Quốc trong tiến trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng là tiến hành
tổ chức lại Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa (PBC) nhằm tăng cường khả năng giám sát và
dưới chuẩn mới phát sinh, PBC kiên quyết yêu cầu các ngân hàng cải thiện chất lượng
công tác quản trị doanh nghiệp, vì đó là bước đầu tiên trong việc quản trị rủi ro ngân hàng.
Từng ngân hàng được yêu cầu lập kế hoạch với những chỉ tiêu cụ thể về chuyển đổi mô
hình kinh doanh, giới thiệu dịch vụ khác biệt, kế hoạch quản trị rủi ro tổng thể, ứng dụng
công nghệ thông tin, phát triển nguồn nhân lực…Ngành tài chính Trung Quốc không bị
ảnh hưởng nhiều bởi cuộc khủng hoảng đang hoành hành hiện nay trên thế giới là nhờ tiến
trình tái cấu trúc ngành ngân hàng mà Chính phủ nước này thực hiện kịp thời cuối thập kỷ
trước. Trung Quốc đã vạch ra được kế hoạch tổng thể và đồng bộ, gắn việc tái cấu trúc hệ
thống ngân hàng với tiến trình tái cấu trúc hệ thống các DNNN, tái cơ cấu các khoản nợ
của những doanh nghiệp này, chuyển đổi mô hình kinh doanh ngân hàng, tăng cường chất
lượng quản trị, giám sát tổng thể thị trường tài chính, tiếp thu áp dụng kinh nghiệm của
nước khác một cách có chọn lọc…
05 yếu tố thành công then chốt trong công cuộc cải cách hệ thống ngân hàng ở
Trung Quốc bao gồm: (1) giải quyết triệt để các khoản nợ xấu, nợ dưới chuẩn trong đó có
tỷ lệ lớn là nợ ở khối DNNN; (2) tăng cường năng lực quản trị ngân hàng bao gồm cả về
tổ chức, nhân sự; (3) thu hút các nhà đầu tư chiến lược; (4) đưa ngân hàng niêm yết ở
trong nước và nước ngoài, một mặt giúp các ngân hàng tăng vốn, mặt khác buộc các ngân
hàng tự đẩy mạnh tái cấu trúc để tuân thủ các chuẩn mực quốc tế theo yêu cầu của thị
trường; (5) sử dụng vốn huy động mới để tăng cường đầu tư vào hệ thống công nghệ, quản
trị rủi ro để nâng cao hiệu quả hoạt động cho các ngân hàng.
Trên thực tế, công cuộc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng ở mỗi một quốc gia là đặc
thù, xét đến điều kiện kinh tế, văn hóa - xã hội ở mỗi nước là khác nhau. Hệ thống ngân
hàng Việt Nam cũng không giống với bất kỳ một quốc gia nào khác, song có những nét
tương đồng với các nước châu Á như Malaysia hay Hàn Quốc, trên phương diện hệ thống
ngân hàng Việt Nam có nhiều ngân hàng nhỏ, phân tán, thiếu những ngân hàng đủ lớn làm
trụ cột; tương đồng với Trung Quốc về văn hóa, mối quan hệ của hệ thống ngân hàng và
khối DNNN. Ngoài ra, điều kiện ở Trung Quốc có khác biệt bởi nước này đã có sẵn những
ngân hàng trụ cột và rất lớn về mặt quy mô, song hoạt động không khỏe mạnh, cần được
cải tổ và tái cấu trúc.
1.3.2.4. Kinh nghiệm từ Thụy Điển
- Nguồn lực cho cho công cuộc tái cấu trúc phải đủ mạnh: Nguồn lực ở đây không
chỉ dừng ở nguồn tài chính để tái cấp vốn và bảo đảm toàn bộ mà còn là cơ chế và thẩm
quyển của những cá nhân và đơn vị trực tiếp tham gia vào quá trình giải cứu.
- Thực thi một gói chính sách mang tầm vĩ mô đúng đắn và nhất quán: Chính sách tài
khóa đúng đắn giúp cho Thụy Điển không lún quá sâu vào suy thoái, giảm gánh nặng đối
với thất nghiệp, lạm phát và tăng trưởng.
1.3.2.5. Côte d’Ivoire: Thành công thông qua tính chất toàn diện
Côte d'Ivoire's thành công tái cơ cấu, bắt đầu vào năm 1991, cho thấy tầm quan
trọng của một phương pháp tiếp cận toàn diện. Đầu năm 1986, suy giảm giá cả thị trường
thế giới ca cao và cà phê bắt đầu làm suy giảm phần lớn hệ thống ngân hàng yếu ớt của
quốc gia, và trong 02 năm tới, thanh khoản đã được bắt đầu ở bốn trong số năm ngân hàng
phát triển nhà nước. Đến năm 1990, 14 ngân hàng thương mại bị giảm mạnh tiền gửi và
các khoản tín dụng từ các ngân hàng nước ngoài.
Năm 1991, Chính phủ bắt đầu một kế hoạch tái cơ cấu toàn diện với sự hỗ trợ của
Ngân hàng Thế giới. Các ngân hàng nhà nước cuối cùng đã nhanh chóng được đặt trong
thanh khoản, pháp luật mới đã được ban hành về vấn đề tịch thu tài sản để thế nợ và quản
lý các khoản nợ xấu, và các ngân hàng thương mại tái cấu trúc vốn thông qua việc giải
quyết nợ Chính phủ và vốn mới từ các chủ tư nhân. Trong một tín hiệu quan trọng của
mức độ nghiêm trọng của Chính phủ, chủ sở hữu mất khả năng thanh toán của các ngân
hàng thương mại được lựa chọn đóng cửa và thanh lý, hoặc bơm vốn mới mà không được
coi là quá lớn để sụp đổ. Tái cấu trúc vốn là được hỗ trợ bởi các NHTW địa phương, điển
hình như NHTW của quốc gia Tây Phi (BCEAO), đã phục hồi thanh khoản, và các ngân
hàng thương mại có thể tiếp tục cho vay quy mô nhỏ vào năm 1992.
Một gói cải cách hoạt động củng cố thành công việc phục hồi thanh khoản. Những
13
hoạt động này bao gồm quản lý và cắt giảm nhân viên, các chi nhánh của các ngân hàng
thương mại. Chính phủ tăng cường khuôn khổ pháp lý, kế toán, tài chính, chính sách pháp
luật, chính sách tiền tệ. Ví dụ, cải cách pháp luật trao quyền cho các ngân hàng để thu
nhận tài sản thế chấp và xiết nợ quá hạn của người đi vay. Và vào giữa năm 1991, các cơ
quan có thẩm quyền giới thiệu các quy định bảo đảm an toàn mới, bao gồm các yêu cầu an
tái cơ cấu. Ngân hàng phát triển bị đóng cửa và thanh lý tài sản, bốn ngân hàng thương
mại đã được tái cấu trúc vốn và tư nhân đầy đủ, và quyền hạn giám sát của NHTW đã
được củng cố. Chính phủ thành lập một cơ quan thu hồi nợ và đạt được mục tiêu của năm
1995. Nhìn chung, chi phí cho Chính phủ trong nỗ lực tái cấu trúc lần thứ hai là khoảng
7,6% GDP, với hơn một nửa được sử dụng để thanh khoản ngân hàng phát triển.Ngân
hàng Mô-ri-ta-ni cho thấy có dấu hiệu gia tăng lợi nhuận năm 1995, và kinh nghiệm tổng
thể của nó chỉ rõ rằng các vấn đề ngân hàng chắc chắn sẽ tái diễn nếu tái cấu trúc tài chính
không đi kèm với các cuộc cải cách hoạt động.
1.3.2.7. Chile và Tây Ban Nha: Vai trò của NHTW
Đầu thập niên 80 của thế kỷ 20, cả Tây Ban Nha và Chile đều gặp phải các vấn đề
trong hệ thống ngân hàng. Vấn đề của Tây Ban Nha bắt đầu đầu tiên bởi các hậu quả của
sự gia tăng giá dầu của những năm 1970. Tại Chile, suy thoái trầm trọng đã trở nên tồi tệ
hơn bởi sự gia tăng của tỷ lệ lãi suất của Mỹ trở lại mức cũ. Giá đồng copper giảm mạnh,
vốn đã rút khỏi khỏi quốc gia, đồng peso đã giảm 90% so với đồng đô la Mỹ, và các
14
khoản nợ bị khất được hình thành nhanh chóng trên các khoản vay liên kết trao đổi nước
ngoài cho khách hàng vay trong nước.
Trong những năm xảy ra những vấn đề này, các hệ thống ngân hàng ở cả 02 quốc
gia tự do hóa, mở rộng, và rủi ro ngày càng tăng với đầy đủ hệ thống quy phạm pháp
luật,quy định, và kế toán quản lý rủi ro thích hợp. Cả 02 nước bắt tay vào việc tái cơ cấu
ngân hàng toàn diện, Tây Ban Nha vào năm 1980 và Chile năm 1983. Cả 02 ngân hàng tru
ng ương đã dẫn đầu trong việc đưa ra, thực hiện và tài trợ cho chiến lược. Tại Chile,
NHTW đã tăng hơn 14 trong tổng số 26 ngân hàng thương mại và 08 của 17 công ty tài
chính tư nhân trong nước. Cuối cùng nó thanh lý 08 trong số các ngân hàng và tất cả các
công ty tài chính, trực tiếp tham gia vào các hoạt động cho vay của các ngân hàng.
Cả 02 quốc gia cùng khôi phục sự lành mạnh trong ngân hàng và tăng cường giám
sát ngân hàng, nhưng Tây Ban Nha đạt được thành công nhanh chóng hơn với chi phí thấp
hơn. Nhờ đó, sự lành mạnh trong ngân hàng đã phần lớn được phục hồi vào giữa những
năm 80 với chi phí tích luỹ khoảng 15% sản lượng. Chi phí ở Chile cuối cùng lên đến 1/3
sản lượng năm nay và bốn năm vào chuyển dịch cơ cấu của nó, tỷ lệ vốn ngân hàng vẫn
nghiệp gặp khó khăn vay vốn, cơ quan giám sát miễn thi hành các tiêu chuẩn ngân hàng
để cung cấp cho các ngân hàng gặp khó khăn một cơ hội để vượt qua những khó khăn tài
chính. Vào cuối năm 1985, 02 ngân hàng nhà nước lớn nhất với khoảng một nửa số tài sản
hệ thống ngân hàng- NHTW Philippine và ngân hàng phát triển Philippine đã mất khả
15
năng thanh toán. Một chương trình phục hồi chức năng toàn diện bắt đầu với việc loại các
khoản nợ xấu khỏi bảng cân đối kế toán của 02 ngân hàng và bù đắp bằng nợ Chính phủ
đã được thanh toán trong vòng 03 năm. Một công ty mới, công ty tín thác tài sản tư nhân
đã được thành lập để tiến hành việc điều chỉnh nợ và các hoạt động phục hồi.
Sự thành công của Philippine bao gồm việc chẩn đoán đúng vấn đề, hoạt động cải
cách để dựng lại cơ cấu tài chính và sự điều chỉnh mạnh mẽ, đảm bảo tiêu chuẩn an toàn.
Các biện pháp để phục hồi ngân hàng quốc doanh (các biện pháp giải thích cho phần lớn
các vấn đề) là tập trung chuyển đổi cơ cấu một cách đáng kể, bao gồm cả sự quản lí mới
và giảm thiểu phần lớn chi phí. Tất cả các khoản ưu đãi về thuế đã được rút từ ngân hàng
và các khoản tiền gửi công đã bị giới hạn để cân đối làm việc, các ngân hàng đã phải lệ
thuộc vào kiểm toán bên ngoài và Chính phủ đã rút lại tất cả khoản bảo lãnh. Với lợi ích
từ việc phục hồi các ngân hàng, đã mở đường cho thành công tư nhân. Thành công trong
sự cải tổ ngân hàng ở Philippine đã làm tăng khả năng chống chọi của quốc gia này với
cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á nổ ra vào năm 1997.
1.3.2.9. Kinh nghiệm từ Đài Loan:
Hệ thống ngân hàng Đài Loan được hình thành từ năm 1945 trên cơ sở tiếp quản
các ngân hàng vốn đã được hình thành từ thời kỳ là thuộc địa của Nhật Bản. Từ năm 1960,
các ngân hàng hoạt động tại Trung Quốc đại lục được Chính phủ Đài Loan cho phép mở
cửa trở lại, đồng thời thành lập một số ngân hàng và công ty tín thác đầu tư, ngăn cấm mở
thêm các ngân hàng tư nhân, từng bước tự do hóa tỉ giá hối đoái và nâng dần giá trị của
đài tệ, hoàn thành hạ tầng tài chính cơ bản.
Trong giai đoạn 1991-2001, Đài Loan tiếp tục đẩy mạnh chính sách tự do hóa tài
chính theo hướng hội nhập quốc tế, cho phép thành lập các ngân hàng tư nhân. Năm 2001,
tại Đài Loan có trên 447 tổ chức tài chính với 5.841 chi nhánh. Trong đó, có 53 ngân hàng
trong nước với 3.005 chi nhánh, 39 hợp tác xã tín dụng với 373 chi nhánh, 38 chi nhánh
tội phạm tài chính, thiết lập hệ thống tài trợ nông nghiệp.
Liên quan đến việc tăng cường hình phạt vi phạm tài chính, Đài Loan đã chỉnh sửa
lại luật ngân hàng, luật công ty tài chính cổ phần; phê chuẩn và ban hành các dự luật về
công ty tín thác, hợp tác xã tín dụng, thị trường chứng khoán, bảo hiểm. Đối với các tội
phạm tài chính, mức phạt tiền lên tới 500 đài tệ (1,5 triệu USD) và phạt tù tới 10 năm.
Để vô hiệu hóa các khoản chuyển giao tài sản phi pháp, Đài Loan tiếp tục có những
điều chỉnh nhằm tạo điều kiện để tòa án vô hiệu hóa các khoản chuyển giao tài sản của các
chủ tịch HĐQT và cán bộ quản lý cao cấp, thiết lập qui trình thúc đẩy xét xử và quyết định
của các cơ quan tòa án.
Kể từ cuối năm 2001, đã có 14 công ty tài chính cổ phần được thiết lập với tổng số
89 tổ chức tài chính thành viên (bao gồm việc sáp nhập 15 ngân hàng, 14 công ty chức
khoán, 8 công ty bảo hiểm và 6 công ty tài chính hối phiếu).
Kết thúc giai đoạn này, tỉ lệ nợ xấu giảm dần từ 7,8% vào năm 2001 xuống 4,33%
vào năm 2003 và 2,74% vào tháng 3/2005. Tỉ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản và tỉ lệ lợi
nhận trên vốn chủ sở hữu cải thiện từ -0,48% vào năm 2002 lên 0,63% vào năm 2004 và
từ -6,93% vào năm 2002 lên 10,3% vào năm 2004. Riêng tỉ lệ vốn tự có được cải thiện
chậm hơn, từ 10,63% vào năm 2002 lên 10,69% vào năm 2004. So với năm 2002, qui mô
thị trường tài chính năm 2004 được mở rộng với tổng tài sản tăng 22,7-38,6%. Lòng tin
của nhà đầu tư nước ngoài tăng mạnh, dòng vốn vào tăng từ 2,6 tỉ USD vào năm 1993 lên
31,4 tỉ USD năm 2000 và 80,1 tỉ vào USD năm 2004.
Giai đoạn 2: Ngày 17/12/2004, đề án thúc đẩy trung tâm dịch vụ tài chính khu vực
được phê duyệt, mở đầu giai đoạn 2 của công cuộc cải cách tài chính. Trong giai đoạn
này, đã thực thi 5 chiến lược lớn nhằm kiện toàn tổng thể môi trường tài chính, thúc đẩy
trung tâm tài chính khu vực, thúc đẩy nghiệp vụ quản lý tài chính, đa dạng hóa các dịch vụ
tài chính, tăng cường thể chế thị trường tài chính.
Mục tiêu trước mắt là củng cố hệ thống tài chính, đảm bảo đến cuối năm 2005, tăng
qui mô của 03 ngân hàng lớn nhất với thị phần của mỗi ngân hàng là 10%, giảm một nửa
số lượng ngân hàng thương mại nhà nước xuống còn 06 ngân hàng; đến cuối năm 2006,
giảm một nửa số lượng các công ty tài chính cổ phần xuống còn 07 công ty, tối thiểu có 01
ngân hàng thuộc quyền sở hữu của nước ngoài hoặc được niêm yết trên thị trường chứng
dần vị thế của ngành tài chính Đài Loan trong khu vực và trên thế giới, tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh ở trong nước và ngoài nước.
Những kết quả cải cách tài chính của Đài Loan
Từ Quý 02/2002, kinh tế Đài Loan có dấu hiệu phục hồi, tình hình tài chính của các
doanh nghiệp được cải thiện. Theo báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2012-2013,
năng lực cạnh tranh của thị trường tài chính Đài Loan xếp thứ 19 trong tổng số 144 nền
kinh tế được khảo sát, tiến 05 bậc so năm trước.
Năm 2011, chỉ số ngân hàng lành mạnh của Đài Loan đã vươn lên vị trí 51, cao hơn
nhiều so với Nhật Bản (xếp thức 63), CHLB Đức (75), Mỹ (97) và Hàn Quốc (98), tỉ lệ an
toàn vốn là 11,97% (vào tháng 06/2012). Tỉ lệ nợ xấu giảm từ 11,76% vào tháng 4/2002
xuống 1,84% vào cuối năm 2006 và 0,51% vào tháng 9/2012.
Trong quá trình tái cơ cấu nợ, tỉ lệ nợ xấu giảm mạnh, đồng thời dư nợ đối với các
doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng từ 2.366.600 tỉ đài tệ vào thángy7/2005 lên 4.323.100 tỉ đài
tệ vào tháng 09/2012, chiếm 52,8% tổng dư nợ đối với khu vực kinh tế tư nhân.
Trong 10 năm qua, dư nợ cho vay các hộ gia đình tại Đài Loan chiếm khoảng
120% GDP, cao hơn tỉ lệ 94,61% tại Nhật Bản, tỉ lệ 95,97% tại Singapore và 71,98% tại
Hàn Quốc. Điều này cho thấy, tỉ lệ tiết kiệm tại Đài Loan khá cao.
1.3.2.10. Bài học kinh nghiệm:
Việc phục hồi lại hoạt động cho vay của ngân hàng và thu về được lợi nhuận đòi
hỏi hành động khắc phục một cách nhanh chóng và một phương pháp tiếp cận toàn diện.
Hoạch định chính sách phải giải quyết ngay lập tức các vấn đề về các ngân hàng yếu kém,
mất khả năng thanh toán, những thiếu sót trong công việc kế toán, pháp lý, khuôn khổ
pháp lý và sự lỏng lẻo trong việc giám sát và tuân thủ qui định. Trong quá trình cơ cấu lại,
NHTW cũng phải sẵn sàng cung cấp hỗ trợ thanh khoản để các ngân hàng có thể tồn tại.
Tuy nhiên, NHTW không nên cung cấp tài chính dài hạn cho các ngân hàng hay tham gia
vào các hoạt động thương mại của ngân hàng, vì điều này dẫn đến chi phí tài chính tăng
đáng kể và làm nảy sinh sự mâu thuẫn với mục tiêu của chính sách tiền tệ.
Việc không quản lí các tài sản không tạo ra lợi tức ở các ngân hàng, cũng như các
tài sản còn lại của những ngân hàng không thành công, làm tăng tổng chi phí cho việc cải
tổ ngân hàng. Nó cũng tạo ra sự không công bằng trong phân phối các khoản lỗ, bằng việc
hiện quá trình này trước, trong và sau khi tái cấu trúc:
Thứ nhất, khó khăn do những mâu thuẫn về lợi ích phát sinh trong quá trinh tái
cấu trúc. Đó là những mâu thuẫn có liên quan đến lợi ích của người gửi tiền, lợi ích của
người vay,của các nhóm cổ đông khác nhau, của các nhóm ngân hàng khác nhau, sự phân
chia lợi ích giữa nhà nước với thị trường và giữa các nhóm lợi ích.
Thứ hai, khó khăn do những chi phí phát sinh trong quá trình tái cấu trúc và khả
năng chịu đựng của nền kinh tế. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, chi phí do quá trình tái
cấu trúc có thể lên đến từ 20% đến hơn 50% GDP nếu việc tái cấu trúc diễn ra sau khủng
hoảng (20% GDP ở Hàn Quốc, hơn 30% GDP ở Thái Lan và hơn 50% GDP ở
Indonesia), nếu việc tái cấu trúc chậm trễ hoặc tái cấu trúc không hiệu quả, gây kéo dài sẽ
càng làm cho chi phí tái cấu trúc càng cao hơn. Tái cấu trúc là một quá trình tốn kém đối
với không chỉ các TCTD mà còn gây ra tổn thất lớn trong ngân sách chính phủ và nguồn
lực xã hội. Ngoài chi phí trực tiếp thì chi phí cơ hội của việc tái cấu trúc cũng rất lớn.
Thứ ba, khó khăn trong việc giải quyết các vấn đề sau khi tái cấu trúc như về vấn
đề nhân sự, vấn đề về quản trị…
Thứ tư, rủi ro kéo dài, không dứt điểm do thiếu cơ sở luật pháp, khoa học (cơ sở
dữ liệu…) và năng lực thể chế cho việc tái cấu trúc hệ thống (ví dụ, cơ chế xử lý tài sản).
Thứ năm, rủi ro lệ thuộc vào ngân hàng nước ngoài, do tỷ lệ các ngân hàng ở trong
tình trạng thiếu thanh khoản và có tài sản xấu chiểm tỷ trọng lớn; số lượng Ngân hàng
hoạt động hiệu quả để có khả năng mua lại, thâu tóm ít hơn nhiều so với số lượng các
ngân hàng yếu kém. Điều này cũng ảnh hưởng lớn đến vấn đề an ninh tài chính– tiền tệ
quốc gia.
Thứ sáu, rủi ro mất niềm tin đối với hệ thống ngân hàng, do những ngân hàng
19
thuộc sở hữu nhà nước có thể có cơ chế bảo lãnh ngầm đối với người gửi tiền.
Trong khi đó, các ngân hàng tư nhân không được đảm bảo có thể khiến luồng tiền
ồ ạt rút khỏi những ngân hàng này, hoặc việc Chính phủ đóng cửa một số ngân hàng có
thể tạo ra nghi ngờ về sự lành mạnh của những ngân hàng khác trong hệ thống.
1.5. Vai trò của NHTW đối với quá trình tái cấu trúc hệ thống
ngân hàng
cần, môi trường vĩ mô ổn định là điều kiện đủ đểquá trình tái cấu trúc có thể diễn ra thuận
lợi. Ngân hàng trung ương có trách nhiệm ổn định tiền tệ để ngân hàng và doanh nghiệp
xây dựng những kế hoạch, chiến lược phát triển trong tương lai một cách chính xác, các
mối quan hệ kinh tế trên thị trường không bị méo mó.
- Cải thiện lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài Khi nguồn lực trong nước là
không đủ để tài trợ cho quá trình tái cấu trúc, các nhà đầu tư nước ngoài là mục tiêu được
chính phủ các nước hướng đến để bù đắp cho các nguồn vốn thiếu hụt. Mặt khác, tái cấu
trúc ngân hàng chắc chắn không tránh khỏi những xáo trộn trong nước từ đó dẫn đến
những quan ngại của các nhà đầu tư nước ngoài vềtriển vọng ổn định, phát triển của quốc
gia đó. Do vậy, việc cải thiện lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài để họ có thể yên tâm
đầu tư vào các ngân hàng thương mại trong nước là điều vô cùng quan trọng, đặc biệt là
đối với các quốc gia có nguồn ngân quỹ hạn hẹp.
Một trong những nhân tố quyết định sự thành công của tiến trình tái cấu trúc là
20
việc xác định rõ vai trò của ngân hàng trung ương. Tuy nhiên, bên cạnh những quan điểm
cho rằng NHTW có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân
hàng như đã chỉ ra ở trên thì cũng có những quan điểm cho rằng ngân hàng trung ương
chỉ nên đóng vai trò hỗ trợ mà không nên lãnh đạo trực tiếp công cuộc tái cấu trúc. Bởi
vì, khi ngân hàng trung ương là cơ quan chủ quản, sẽ dễ bị lôi kéo vào việc tài trợ cho các
biện pháp tái cấu trúc, vượt quá các nguồn lực của mình, và có những hành động mâu
thuẫn với nhiệm vụ cơ bản của ngân hàng trung ương là quản lý tiền tệ. Vì vậy chính phủ
ở nhiều nước đã thành lập một cơ quan chủ quản riêng biệt để thực hiện và giám sát quá
trình tái cấu trúc.
II. THỰC TRẠNG TÁI CƠ CẤU NHTM TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Tình trạng cơ cấu hệ thống NHTM đến năm 2012:
2.1.1. Nhìn nhận sự phát triển của hệ thống NHTM:
Phát triển nhanh về số lượng và nguồn vốn sở hữu: sau khi đổi mới, nhất là từ khi
gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), hệ thống các NHTM VN đã có bước phát
triển nhanh về mặt số lượng. Tính đến tháng 10/2012, hệ thống các NHTM VN có 39
NHTM cổ phần, 01 NHTM nhà nước, 54 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 05 ngân hàng
vốn đáng kể góp phần cho việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nước, cũng như góp
phần xóa đói, giảm nghèo và ổn định trật tự xã hội.
21
Chính sách quản lý ngoại hối từng bước được tự do hóa: việc thực hiện chính sách
quản lý ngoại hối đã được tiến hành theo hướng đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền quản lý
nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của các địa phương, đồng thời
tạo điều kiện cho doanh nghiệp và người dân thực hiện các giao dịch ngoại hối, từ đó giúp
NHNN có điều kiện tập trung nghiên cứu cơ chế, chính sách theo mô hình NHTW hiện
đại. Bên cạnh đó, NHNN đã xóa bỏ nhiều loại giấy phép theo hướng phù hợp dần với yêu
cầu hội nhập quốc tế, từng bước đáp ứng được yêu cầu của cải cách hành chính, tạo ra sự
thông thoáng hơn cho hoạt động kinh tế đối ngoại.
Hệ thống công nghệ ngành ngân hàng đã có sự tiến bộ rõ rệt: Điều này được thể
hiện rất rõ là nếu như trước đây, trong khâu thanh toán phải mất thời gian từ 1 ngày đến
hàng tuần mới thực hiện hoàn chỉnh một giao dịch thanh toán, thì ngày nay nhờ có đổi
mới công nghệ, thời gian thanh toán đã được rút ngắn chỉ được tính bằng phút, thậm chí
bằng giây. Hơn thế nữa, nhờ có đổi mới công nghệ mà hệ thống ngân hàng thương mại đã
đưa ra được rất nhiều các sản phẩm dịch vụ giá trị gia tăng dựa trên nền tảng công nghệ
thông tin, chẳng hạn như: dịch vụ như ATM, POS, EDC, Internet Banking, Telephone
Banking, ngân hàng trực tuyến từ đó đã góp phần không nhỏ trong việc đáp ứng nhu cầu
của khách hàng, cũng như góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển.
2.1.2. Những rủi ro, yếu kém chủ yếu của hệ thống NHTM giai đoạn này:
Trong những năm qua, hệ thống các TCTD phát triển nhanh và góp phần quan
trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Tuy nhiên, hệ thống các TCTD đã
bộc lộ nhiều yếu kém, rủi ro gây mất an toàn hoạt động và đe dọa sự ổn định kinh tế vĩ
mô.
- Rủi ro trong hoạt động ngân hàng rất lớn, đặc biệt rủi ro tín dụng của các TCTD
Việt Nam: Tín dụng cho nền kinh tế tăng nhanh nhưng chất lượng tín dụng của các TCTD
thấp. Theo báo cáo của các TCTD, đến cuối tháng 09/2011 nợ xấu của toàn hệ thống là
82.700 tỷ đồng tương đương 3,31% tổng dư nợ cho nền kinh tế, trong đó: Nhóm TCTD Việt
Nam là 3,44% (NHTMNN: 3,62%, NHTMCP: 2,44%, Công ty tài chính: 3,11%, Công ty
dụng đối với bất động sản là 1.331.032 tỷ đồng tương đương 53,3% tổng dư nợ tín
dụng, trong đó dư nợ tín dụng được đảm bảo bằng bất động sản của các TCTD Việt
Nam là 1.298.633 tỷ đồng, tương đương 57,3% tổng dư nợ tín dụng của các TCTD Việt
Nam.
Dư nợ tín dụng đối với bất động sản lớn, song chất lượng tín dụng thấp và
đang có chiều hướng giảm do thị trường bất động sản suy giảm đang trở thành rủi ro rất
lớn đối với các TCTD. Giá trị bất động sản giảm tác động tiêu cực đến khả năng trả nợ
của khách hàng vay và gí trị tài sản đảm bảo bằng bất động sản. Theo số liệu của các
TCTD đến cuối tháng 09/2011, nợ xấu cho vay đầu tư, kinh doanh bất động sản là
8.445 tỷ đồng tương đương 4,15% dư nợ cho vay đầu tư, kinh doanh bất động sản.
Trong đó, các TCTD trong nước có nợ xấu cho vay đầu tư, kinh doanh bất động sản là
8.350 tỷ đồng tương đương 4.36% dư nợ cho vay đầu tư, kinh doanh bất động sản.
Ước tính tổn thất nợ xấu liên quan đến bất động sản: Trong tổng nợ xấu 143.013
tỉ đồn đến cuối tháng 6/2011 (theo Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng), ước tính có
76.226 tỷ đồng nợ xấu liên quan đến bất độn sản, trong đó có khả năng mất vốn là 30.000
tỷ đồng.
+ Mức độ tập trung tín dụng đối với một số khách hàng và nhóm khách hàng
liên quan rất lớn. Khi những khách hàng vay lớn gặp khó khăn về tài chính và kinh
doanh có khả năng gây tổn thất lớn cho TCTD. Đến cuối tháng 09/2011 dư nợ cho vay
doanh nghiệp nhà nước là 415.347 tỷ đồngtương đương 16,9% tổng dư nợ tín dụng,
trong đó dư nợ cho vay 12 tập đoàn kinh tế của nhà nước là 218.738 tỷ đồng (riêng Tập
đoàn Dầu khí Việt Nam 72.300 tỷ đồng, Tập đoàn Điện lực 62.800 tỷ đồng, Tập đoàn
Công nghiệp Than, Khoáng sản 20.500 tỷ đồng và Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy
19.600 tỷ đồng) tương đương 8,76% tổng dư nợ tín dụng toàn ngành và chiếm 52,66% dư
nợ cho vay doanh nghiệp nhà nước. Theo số liệu đến cuối tháng 06/2011 của Cơ quan
Thanh tra, giám sát ngân hàng, trong tổng số 1.002.962 khách hàng được chọn xem xét có
dư nợ tín dụng tạ 60 TCTD trong nước có 88 khách hàng và nhóm khách hàng liên quan
có dư nợ lớn (trên 1.000 tỷ đồng) với hơn 2.300 món vay. Tổng dư nợ cấp tín dụng
của 88 khách hàng và nhóm khách hàng liên quan này là 400.972 tỷ đồng và chiếm tới
16,3% tổng dư nợ tín dụng của 60 TCTD trong nước.
TCTD có các quy định chặt chẽ về giới hạn sở hữu cổ phần, góp phần, góp vốn, mua cổ
phần nhưng trên thực tế có trường hợp lách các quy định này thông qua ủy thác, giao vốn
cho bên thứ ba để vẫn có quyền kiểm soát, chi phối hoạt động của TCTD. Nhiều NHTM
thành lập các công ty con hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, cho thuê tài chính và
phi ngân hàng không có hiệu quả và tăng thêm rủi ro cho các NHTM, đồng thời gây khó
khăn hơn cho công tác quản lý, giám sát của các cơ quan quản lý.
+ Việc kiểm tra, thanh tra để phát hiện và xử lý vấn đề sở hữu chéo rất khó khăn
do thiếu bằng chứng pháp lý. Sự đan xem sở hữu vố TCTD này với TCTD khác dẫn đến
không chỉ vấn đề vốn điều lệ tăng không thực chất mà còn giảm hiệu quả quản trị ngân
hàng, gia tăng xung đột lợi ích, đồng thời làm cho rủi ro có tính hệ thống lớn hơn khi
TCTD hoặc cổ đông lơn của TCTD này gặp khó khăn thì sẽ ảnh hưởng tới không chỉ một
TCTD.
- Năng lực quản trị của các TCTD còn nhiều bất cập so với quy mô, tốc độ tăng
trưởng và mức độ rủi ro trong các hoạt động: Sự hạn chế về năng lực quản trị xuất phát
chủ yếu từ vấn đề cơ cấu sở hữu, năng lực của cổ đông và hội đồng quản trị, hội đồng
thành viên và các vị trí quản lý của TCTD. Nhiều cổ đông lớn và người đại diện cổ đông
lớn tham gia các vị trí quản lý, điều hành ngân hàng nhưng lại thiếu kiến thức chuyên
môn, nghiệp vụ và kinh nghiệm về ngân hàng. Hệ thống quản trị, nhất là hệ thống quả
trị rủi ro, hệ thống kiểm tra, kiểm soát và kiểm toán nội bộ của các TCTD hoạt động
chưa có hiệu quả và chưa phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế. Chuẩn mực, chính
sách; phương pháp, quy trình kinh doanh của các TCTD nhìn chung chưa có hiệu quả
cao dẫn đến chưa kiểm soát có hiệu quả những rủi ro trọng yếu trong hoạt động của
TCTD.
- Cạnh tranh giữa các TCTD thiếu lành mạnh, thiếu sự hợp tác giữa các TCTD
dẫn đến kỷ cương, kỷ luật, chính sách, pháp luật trong hoạt động ngân hàng không
tôn trọng: Phương thức, chiến lược kinh doanh và cạnh tranh của các TCTD trong
nước nhiều hạn chế. Mục tiêu chạy theo lợi nhuận đã lấn át yêu cầu bảo đảm an toàn
kinh doanh của các TCTD và dẫn tới vi phạm quy định pháp luạt về hoạt động ngân
hàng khá phổ biến. Phương pháp cạnh tranh chủ yếu của các TCTD Việt Nam là bằng
giá/lãi suất, chưa coi trọng chất lượng dịch vụ.
khóa tiếp tục chặt chẽ, tăng trưởng kinh tế chậm lại, sản xuất kinh doanh khó khăn, thực
hiện cơ cấu lại hệ thống doanh nghiệp, thị trường bất động sản còn tiếp tục điều chỉnh
giảm và khó phục hồi nhanh;
+ Các TCTD Việt Nam rất dễ bị mất khả năng chi trả trên diện rộng dẫn đến
khủng hoảng hệ thống do một số nguyên nhân sau đây:
(1) Tăng trưởng tín dụng qua nhanh và nhanh hơn huy động vốn trong một thời
gian kéo dài làm cho bộ phận TCTD phụ thuộc vào nguồn vốn từ NHNN và huy động
vốn từ thị trường liên ngân hàng để tài trợ thanh khoản thiếu hụt hoặc tạo nguồn mở
rộng tín dụng. Đến cuối tháng 9/2011, số dư NHNN cho vay TCTD qua các kênh tái cấp
vốn và thị trường mở chưa đến hạn là 121.112 tỷ đồng tương đương 6,33% tổng dư nợ tín
dụng bằng VNĐ của cả hệ thống; Số dư vốn huy động của các TCTD Việt Nam từ thị
trường liên ngân hàng là 702.527 tỷ đồng, tương đương 18,12% so với dư nợ tín dụng
của nền kinh tế. Quy mô thị trường liên ngân hàng đến cuối tháng 9/2010 là 831.066 tỷ
đồng tương đương 33,3% tổng dư nợ của toàn hệ thống cho thấy: Một khối lượng vốn
không nhỏ chảy lòng vòng trên thị trường liên ngân hàng tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau
giữa các TCTD; Rủi ro hệ thống rất lớn khi có thị trường biến động đột ngột; Thị
trường hình thành một nhóm ngân hàng chuyên đầu tư, cho vay TCTD khác để kiếm lời
và một bộ phận TCTD phụ thuộc vào nguồn vốn của thị trường liên ngân hàng.
(2) Cho vay quá mức dẫn đến hệ số sử dụng vốn của các TCTD Việt Nam rất cao
và vượt mức an toàn: Đến cuối tháng 09/2011, tỉ lệ tổng dư nợ tín dụng cho nền kinh tế
so với huy động vốn từ nên kinh tế là 100,4%; Nếu tính cả các khoản đầu tư khác
(đầu tư, góp vốn, mua trái phiếu doanh nghiệp, các khoản phải thu khác) thì tổng đầu
tư của toàn hệ thống cho nền kinh tế là 2.813.591 tỷ đồng bằng 113% huy động vốn từ
nền kinh tế. Việc cho vay quá mức dẫn đến dự trữ thanh khoản thấp, TCTD phải vay
NHNN hoặc vay nước ngoài để tài trợ tăng trưởng tín dụng.
(3) Cơ cấu nguồn vốn và sử dụng vốn không ổn định; Mất cân đối nghiêm trọng
25