Viêm loét niêm mạc miệng-lưỡi
(Kỳ 3)
II. LOÉT MIỆNG ĐƠN ĐỘC
1. Do chấn thương
Loét do thủ thuật nha khoa, bỏng do nhiệt do ăn thức ăn nóng hay bị ở vòm
miệng, răng gỉa không vừa, răng bị bể, các thủ thuật răng gây ra loét tái phát hoặc
dai dẳng, trẻ em do que kem, viết, hoặc vật sắc nhọn.
2. Thuốc
Hiếm, hầu hết được xem xét trong loét mãn tính, nhưng nên chú ý khi bị
loét gần đây mà không có nguyên nhân rõ ràng.Các thuốc thường gây loét miệng
gồm: thuốc kháng giáp, Hydroxyurea, Alendronate, thuốc ức chế kênh canxi,
Captopril, kháng viêm non-steroid (piroxicam, indomethacin, ibuprofen…), thuốc
độc tế bào(Methotrexate, Doxorubicin…)
Loét do thuốc có thể xảy ra do cơ chế miễn dịch hoặc không do miễn dịch.
Viêm loét miệng do alendronate.
- Trong cơ chế miễn dịch, thuốc khởi phát đáp ứng miễn dịch tạo ra phản
ứng nhằm vào bề mặt biểu mô. Khả năng phản ứng phụ thuộc vao khả năng sinh
miễn dịch của thuốc, tần suất, phản ứng của hệ miễn dịch. Đối với miễn dịch qua
trung gian tế bào, tế bào T bị kích hoạt bởi tế bào nhận diện kháng nguyên, làm
phóng thích cytokines và chất trung gian gây viêm khác , gây độc tại chỗ tạo nên
loét.
- Trong cơ chế không do miễn dịch, thuốc trực tiếp kích thích tế bào đơn
nhân và lympho phóng thích chất trung gian gây viêm, không phụ thuộc vào
kháng thể.
- Lóet do thuốc có khích thước lớn, đơn độc, thường ở cạnh bên lưỡi,có
quầng màu trắng và dai dẳng tiến triển đến loét mãn tính, có thể kéo dài hàng
tháng , hàng năm.
- Chẩn đoán dựa vào tiền sử dùng thuốc và giảm khi ngưng thuốc.
- Hội chứng Stevens- Johnson là dạng nặng của loét do thuốc. Có nhiều
thuốc gây nên nhưng thường nhất là sulfonamide, thuốc chống động kinh…
Tất cả 3 giai đoạn đều liên quan loét niêm mạc.
* Giang mai thời kỳ 1: loét gọi là săng, xảy ra ở vị trí vi trùng xâm nhập
vào niêm mạc. Vết loét không đau, cứng,bờ nhô lên, kéo dài vài tuần, không tiết
dịch, lành không để sẹo.
* Giang mai thời kỳ 2: tổn thương miệng gồm: viêm họng không chuyên
biệt, mảng lấp lánh, loét miệng.Đặc trưng nhất là mảng niêm mạc: lóet bất định,
nông, phủ giả mạc màu trắng xám, với hồng ban xung quanh, có khi đau. Mảng
niêm mạc dính nhau tạo thành vết loét như đường đi ốc sên.
* Giang mai thời kỳ 3: biểu hiện là gôm : viêm lưỡi với teo niêm mạc có
khuynh hướng chuyển sang ác tính.
Lóet do giang mai không phổ biến, nhưng tỉ lệ nhiễm HIV gia tăng nên
phải chú ý giang mai đối với loét miệng bất thường.
- Lậu: Loét miệng xảy ra khi tiếp xúc miệng sinh dục. Lậu ở miệng hiếm
gặp, biểu hiện là nhiều vết loét viêm đỏ tấy niêm mạc với giả mạc màu trắng, có
thể không có triệu chứng,hoặc đau họng nặng, có thể có hạch. Tổn thương ở
miệng của lậu không chuyên biệt, có thể nhầm lẫn với nhiễm Herpes, hồng ban đa
dạng, bệnh bóng nước miễn dịch.
- Xơ cứng mũi: Hiếm gặp,do Klebsiella, gây ra u hạt tăng sinh ở niêm mạc
miệng, đôi khi loét.
- Lao: Vi trùng lao trong nước bọt có thể xâm lấn niêm mạc gây loét cứng
không lành tạo ra
u hạt viêm liên quan với hoại tử giống phó mát, chẩn đoán dựa vào cấy mô.