A: Đặt vấn đề
I: lời nói đầu
Ngời xa thờng dùng thành ngữ: Văn hay chữ tốt để khen những học
sinh giỏi viết chữ đẹp. Bên cạnh đó cũng có câu văn dai nh chảo, chữ vuông
nh hòm để chê những học trò dốt, chữ viết xấu. rõ ràng từ xa cha ông ta đã
coi trọng chữ viết chẳng khác gì nội dung văn chơng.
Ngày nay với sự nghiệp giáo dục con ngời phát triển một cách toàn diện
thì vấn đề chữ viết lại càng đợc coi trong hơn. Chữ viết đẹp dễ gây đợc thiện
cảm cho ngời đọc. Chữ viết đẹp phản ánh ý thức rèn luyện, óc thẩm mỹ và tính
nết của ngời viết, nh bác Phạm Văn Đồng đã nói chữ viết cũng là một sự biểu
hiện của nết ngời, dạy học sinh viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp là góp phần
rèn luyện cho các em tính cẩn thận, tính nkỷ luật, lòng tự trọng đối với mình
cũng nh đối với thầy cô và bạn đọc bài viết của mình. Để đáp ứng yêu cầu
của sự nghiệp giáo dục từ năm 2001 - 2002, Bộ giáo dục và Đào tạo đã phát
động phong trào viết chữ đẹp trên toàn quốc ở bậc tiểu học, cuộc thi này đề ra
nhằm đạt đợc các mục đích sau:
- Góp phần thúc đẩy phong trào Vở sạch-Chữ đẹp của học sinh tiểu
học, nâng cao chất lợng dạy tập viết của giáo viên.
- Tạo cho học sinh thói quen trau rồi kĩ năng viết chữ và trình bày bài, từ
đó giúp trẻ em hình thành và phát triển phẩm chất tốt nh tính cẩn thận, lòng
kiên trì, khiếu thẩm mĩ về sáng tạo, lòng tự trọng biết quý trọng và giữ gìn
tiếng nói, chữ viết của dân tộc.
- Phát huy vai trò trách nhiệm của ngời giáo viên, động viên, khích lệ
các thầy cô giáo chăm lo rèn luyện viết chữ cho học sinh tiểu học.
- Huy động sự quan tâm, giúp đỡ của phụ huynhvà các tổ chức xã hội
đối với việc Luyện nét chữ , rèn nét ngời cho học sinh. Đồng thời giúp các
nhà ngôn ngữ, các nhà giáo có cơ sở đề xuất mẫu chữ viết Tiếng việt thích hợp
nhất dùng trong tiểu học.
- Nhận thấy đợc tầm quan trọng của chữ viết nên tôi đã đi sâu và tìm
hiểu nghiên cứu vấn đề Vở sạch-Chữ đẹp.
Lớp
Chất l-
ợng
Loại A Loại B Loại C
SL(Bộ) Tỉ lệ(%) SL(Bộ) Tỉ lệ(%) SL(Bộ) Tỉ lệ(%)
4 A Vở 4 20 10 50 6 30
Chữ 1 5 10 50 9 45
Tìm hiểu nguyên nhân
Để nâng cao chất lợng vở sạch chữ đẹp của lớp mình phụ trách, tôi đi
tìm hiểu nguyên nhân vì sao chất lợng lại đạt thấp nh vậy để từ đó có các biện
pháp phù hợp thúc đẩy phong trào phát triển. Qua một thời gian thờng xuyên
tiếp xúc trò chuyện với học sinh, thờng xuyên chấm bài vở của các em tôi đã
tìm ra đợc một số nguyên nhân sau:
1.Về chất lợng vở.
- Hầu hết những em đạt loại B, loại C là do các em không có cặp sách đi
học đúng quy định, cặp sách nhỏ. Trong khi đó các em phải đựng khá nhiều
đồ dùng học tập: Sách giáo khoa, vở ghi, bảng con, phấn, giẻ lau Khi bỏ đồ
dùng vào cặp các em cha cẩn thận vì thế mà nhản vở bong, bìa nhàu nát xộc
xệch, ruột vở quăn mép Nhiều em cha có ý thức giữ gìnvở sạch vì thế khi các
em viết sai liền dùng tay để cạo hoặc dùng bút xoá nguệch ngoặc trong vở làm
vở bẩn và có khi còn bị rách.
2. Về học sinh:
- Các em cha biết cách trìng bầy bài sao cho đẹp, cho hợp lí nên giữa
các bài cha cân đối.
Học sinh cha có thói quen dùng thớc để gạch, có dùng thớc gạch cũng
không thẳng, khi hết bài hay dới các đề mục. Một số em dùng cạnh bàn để làm
thớc nên các đờng kẻ thẳng ngoằn ngoèo, lệch xuôi có khi kẻ 2 đến 3 lần mà
vẫn không thẳng.
- Về chất lợng chữ, nhiều em cha nắm vững cấu tạo chữ nên viết cha
đúng mẫu chữ, chữ viết không đều, cha liền mạch. Các em còn viết sai nhiều
- Viết đủ số lợng bài.
- Không tẩy xoá, không dây mực , không vẽ tuỳ tiện.
- Khi viết các phân môn, các mục, hay viết hết bài phải dùng thớc gạch
ngay ngắn.
2. Chữ đẹp cần đạt các tiêu chuẩn sau:
- Chữ viết đúng mẫu chữ, cỡ chữ đã quy định.
- Chữ viết không sai các lỗi chính tả hoặc sai rất ít.
- Chữ viết phải đều đặn, đúng khoảng cách các nét, độ cao chữ.
- Viết phải liền mạch.
3. Đề ra các biện pháp rèn VS- CĐ
Để sách vở của học sinh đạt đợc theo các tiêu chuẩn đã đề ra nh trên đối với
lớp tôi là rất khó nếu nh chỉ có giáo viên và học sinh thực hiện. Vì vậy tôi đã
gặp gỡ trực tiếp hoặc trao đổi qua sổ liên lạc để phụ huynh học sinh cùng kết
hợp để kiểm tra đôn đốc các em thực hiện việc giữ gìn Vở sạch - Chữ đẹp ý
kiến này đã đợc phụ huynh tán thành.
a. Về vấn đề trình bày:
1/ Học sinh tiểu học rất hiếu động hay tò mò, bắt chớc và giáo viên đợc
các em xem nh một mẫu lý tởng về mọi mặt. Chính vì thế ngời giáo viên phải
là ngời thực hiện tốt, là ngời làm mẫu toàn bộ Vở sạch - Chữ đẹp. Bộ hồ sơ
giáo án, vở tập viết của tôi bao giờ cũng đợc bọc bìa, dán nhãn giữ gìn rất cẩn
thận. cách trình bầy từng tuần từng thứ từng tiếng rất rõ ràng đẹp mắt. Tôi th-
ờng xuyên chỉ cho học sinh quan sát về hình thức bên ngoài cũng nh cách trình
bầy của tôi nhất là bộ vở tập viếtvà các cuốn vở trình bày đẹpcảu học sinh năm
trớc.
- Bao giờ trớc buổi lên lớp tôi cũng nghiên cứu trớc ở nhà cách trình bày
bảng cho đẹp, cho khoa học. Chữ viết bảng đều phải là chữ mẫu: Rõ ràng, đẹp,
đúng mẫu chữ, cỡ chữ Ngay dòng đầu tiên của mỗi buổi học:
Thứ ngày tháng năm Đó là một tiêu đề mà hôm nào các em cũng viết, tôi
đã hớng dẫn các em trình bày làm sao cho đẹp, ngay ngắn. Viết tiêu đề lùi vào
so với đờng kẻ lề, chia vở thành ba phần bằng nhau viết một phần ba dòng kẻ
tỳ mạnh tay vào vở làm vở quăn mép, không tỳ ngực hay di chuyển vở đi lại
làm vở dễ quăn. Khi cất vở vào cặp cần phải cẩn thận, nhẹ nhàng và có quy
định từng ngăn: Ngăn đựng vở, ngăn đựng sách giáo khoa, ngăn đựng bảng và
các đồ dùng khác. Có quy định ra nh vậy vừa giữ gìn vở không bị quăn mép,
không bị nhàu nát mà còn tiện lợi hơn khi học bài.
4/ Giáo viên phải thờng xuyên quan tâm và hớng dẫn cụ thể về t thế ngồi
viết cách cầm bút, cách đặt vở theo quy định để các em có thể viết đúng, đẹp
và nhanh hơn. Vở không bị nhàu, quăn mép, chữ không siêu vẹo, đồng thời để
tránh các di hại do t thế ngồi viết không đúng quy cách gây ra.
5/ Quy định rõ ràng về mẫu vở và số lợng vở viết cho từng môn học.
- Vở viết đồng bộ là vở ô li loại 96 trang gồm có 7 quyển.
+ 2 quyển vở ghi toán: 1 quyển ở lớp; 1 quyển ở nhà
+ 2 quyển vở ghi chính tả: 1 quyển ghi ở lớp; 1 quyển luyện viết ở nhà.
+ 1 quyển ghi chung dùng ghi toàn bộ các môn học còn lại.
+ 1 quyển tập làm văn.
+ 1 quyển luyện từ và câu
Ngoài vở ghi quy định trên còn có thêm hai quyển vở tập viết loại vở
khổ 15,5 x 20,5 cm và hai quyển vở tập viết khổ 19 x 27 cm.
Khi học môn nào thì ghi vở đó không ghi lẫn lộn. Nếu không may quên
thì các em ghi vào vở nháp để về nhà tự ghi vào vở. Việc quy định này nó có
nhiều thuận lợi là khi kiểm tra giáo viên dễ dàng so sánh cách trình bày chữ
viết giữa bài này với bài khác của môn học.
6/ Thờng xuyên kiểm tra nhắc nhở việc giữ gìn sách vở của học sinh
bằng nhiều hình thức: Kiểm tra vào 10 phút đầu giờ. Kiểm tra khi kiểm tra bài
cũ, khi chấm bài. Bao giờ cũng vậy khi chấm bài tôi cũng thờng xuyên bóc
riêng những quyển vở đẹp của học sinh để tuyên dơng đồng thời cũng để riêng
những quyển vở cha đẹp để nhắc nhở các em cần cẩn thận hơn. Khen chê là
những hình thức khuyến khích các em có ý thức hơn nữa trong việc giữ gìn
sách vở nhng cần động viên các em là chính không nên chê nhiều.
4
sinh nắm vững các luật chính tả; Giọng đọc của giáo viên đúng và hớng dẫn
học sinh đọc đúng nh giáo viên.
2.1- Các em viết chính tả theo giọng đọc của giáo viên vì thế giọng đọc
của giáo viên cho học sinh nghe để viết là rất quan trọng, nó quyết định đến
chất lợng chữ viết của các em. Vì thế khi dạy bài chính tả nghe đọc tôi nêu yêu
cầu của bài viết, đọc mẫu cho các em nghe đoạn cần viết, nêu câu hỏi để giúp
học sinh nắm đợc ý chính của bài chính tả sắp viết, tìm trong bài các chữ học
sinh hay viết sai nh: Thanh hỏi (?) thanh ngã (), các nguyên âm đôi, đơn. Do
các em phát âm cha chính xác nên khi viết thờng viết sai vì vậy tôi đã hớng
dẫn cho các em phát âm cho đúng.
Ví dụ: Để phân biệt thanh hỏi và thanh ngã: nghỉ; nghĩ.
- Đầu tiên tôi phát âm trớc: Đọc một cách chính xác cho học sinh lắng
tai nghe sau đó tôi phân tích và hớng dẫn cách đọc cụ thể: Nghỉ là dấu hỏi khi
đọc cần đọc nhẹ.
Nghĩ là dấu ngã khi đọc cần đọc nặng, kéo dài hơn.
- Tôi đọc lại sau đó gọi những em hay viết sai đọc lại cho đúng.
- Cho học sinh tìm các tiếng nghỉ và nghĩ.
Nghỉ: Nghỉ ngơi, nghỉ mát, nghỉ hè
Nghĩ: Nghĩ ngợi, suy nghĩ
- Tôi chỉ lại cho học sinhthấy: Viết là nghỉkhi dùng đẻ chỉ các hoạt
động đã làm xong dừng lại để th giãn cho thoải mái. Viết là nghĩ khi dùng
để chỉ tâm trạng của con ngời đang đợc tái hiện.
5
2.2/ Hay khi dạy học sinh phân biệt giữa nguyên âm đôi và nguyên âm
uô-u; ơ,; iê,ê Tôi đọc mẫu các tiếng các tiếng có nguyên am đôi và các tiếng
có nguyên âm rồi cho học sinh so sánh hai cách đọc giúp các em rút ra đợc:
Khi đọc các tiếng có nguyên âm đôi thì đọc kéo dài hơn, luồng hơi ra mạnh
hơn và đọc nhấn đều ở cả hai âm. Nếu đọc lệch và nhấn mạnh về một âm thì
nó trở thành nguyên âm đơn. Từ cách đọc đúng các nguyên âm sẽ giúp các em
viết đúng.
các em làm bài tập nhiều, thờng xuyên nhắc nhở các em, nhờ vậy các em
thành thói quen rồi viết đúng.
3/ Hằng tuần cùng với việc kiểm tra, việc giữ gìn sách vở tôi kiểm tra về
cất lợng chữ viết của các em theo sát từng ngày để xem các em có tiến
bộkhông hay các em đã khắc phục đợc những nhợc điểm nào, còn nhợc điểm
nào cần phải rèn luyện thêm. Cuối tuần vào tiết sinh hoạt tính điểm thi đua của
từng em, của từng tổ, biểu dơng những em viết đẹp, những em có nhiều tiến
bộ, đồng thời góp ý động viên các em khác tích cực rèn luyện hơn nữa để đạt
kết quả cao.
Vì thời gian dạy chính khoá có hạn nên trong các buổi dạy bồi dỡng tôi
đều dành 1/3 thời gian để hớng dẫn cho các em tập viết trong vở tập viết khổ
19 x 27 cm; hớng dẫn các em nắm vững các quy tắc chính tả thông qua làm
các bài tập chính tả và một phần để tôi kiểm tra vở tự luyện viết ở nhà của các
em.
6
c. kết luận:
1. Kết quả nghiên cứu:
Với sự kết hợp một cách đồng bộ ở tất cả các môn học cùng sự ham học
hỏi, kiên trì luyện tập của các em học sinh và nổ lực phấn đấu, lòng nhiệt tình
của bản thân tôi trong công tác giảng dạy. Cùng với tôi và học sinh còn có sự
giúp đỡ nhiệt tình của ban giám hiệu nhà trờng, hội đồng giáo viên và các bậc
phụ huynh. Công sức đó đã đợc đền đáp xứng đáng bằng kết quả chấm Vở
sạch-Chữ đẹp của các em. Qua các đợt kiểm tra của nhà trờng chất lợng đã đ-
ợc nâng lên rõ rệt. Cụ thể lớp 1A tôi dạy năm học 2005 - 2006 đạt đợc kết quả
nh sau:
Chất lợng Loại A Loại B Loại C
Lớp SL (bộ) TL(%) SL (bộ) TL(%)
SL (bộ)
TL(%)
theo.
8)Phải nắm vững đặc điểm tâm lí, sinh lí của lứa tuổi để có biện pháp
khen chê tế nhị.
9) Rèn luyện đợc thói quen giữ gìn Vở sạch-Chữ đẹp một cách có ý
thức không phải một chốc mà làm đợc mà nó phải trải qua một quá trình rèn
luyện thờng xuyên, liên tục, có hệ thống và đồng bộ.
Trên đây là những kinh nghiệm đợc đúcc rút trong quá trình giảng dạy
của bản thân. Do khả năng và thời gian có hạn nên chắc rằng đó cha phải là
những kinh nghiệm nh ý muốn của đồng nghiệp. Tôi rất mong đợc sự góp ý
chân tình, cởi mở của hội đồng khoa học các cấp và bạn đọc.
7
Tôi xin lĩnh hội và cảm ơn nhiều!
Vĩnh Khang, ngày25/03/2006
Ngời thực hiện :
Nguyễn Thanh Sơn
Mục lục
A. Đặt vấn đề
I . Lời nói đầu trang 1
II. Thực trạng của vấn đề trang 1
1. Thực trạng trang2
2. Kết quả của thực trạng trên trang 2
B. Giải pháp vấn đề:
I . Các giải pháp thực hiện trang 3
II Các biện pháp để tổ chức thực hiện trang 3
1. Đề ra các tiêu chuẩn đạt vở sạch trang 3
2. . Đề ra các tiêu chuẩn đạt chữ đẹp trang4
3. Đề ra các biện pháp rèn VS -CĐ trang 4
a . Vấn đề trình bày trang 4