Trẻ sơ sinh suy dinh dưỡng trong tử cung pot - Pdf 16

Trẻ sơ sinh suy dinh dưỡng trong tử cung (Webtretho) Trẻ sơ
sinh suy dinh dưỡng
hay chậm tăng trưởng
trong tửcung là trẻ khi
sinh ra giảm về cân
nặng và tầm vóc, trẻ bị
suy dinh dưỡng ngay
từ khi còn là bào thai.

Tại các nước đang phát
triển, 70% trẻ có cân
nặng thấp lúc sinh ra là
trẻ suy dinh dưỡng
trong tử cung.

Thai nhẹ cân hay nhỏ về kích thước thường là do
chậm tăng trưởng, trừ hai trường hợp mẹ bị tiểu đường và bất đồng nhóm máu Rhérus. Nhưng thai
nhẹ cân cũng có thể do yếu tố di truyền. Ngoài ra, khi
quá ngày, thai cũng có thể bị suy thai trường diễn
nhưng thường không nhẹ cân.

Cần phân biệt:
- Sơ sinh thiếu tháng (tuổi thai dưới 38 tuần) có cân
nặng dưới 2500g:


qua đến sự chuyển tải chất dinh dưỡng từ mẹ đến
bánh nhau, sự trao đổi chất tại nhau, sự hấp thu và
chuyển hóa của thai nhi. Do đó cơ chế gây suy dinh
dưỡng bào thai có thể có nhiều nguồn gốc khác
nhau:

+ Trước nhau: gồm những xáo trộn tuần hoàn của
mẹ, có thể ở tại chỗ, tại vùng hoặc toàn thân (rối loạn
cơn go tử cung, tụt huyết áp, thiếu máu, suy tim, suy
hô hấp…).

+ Tại bánh nhau: gồm những thay đổi ở màng, trao
đổi của bánh nhau về diện tích, bề dày màng, tính
thấm của màng trong những thai kỳ có bệnh lý (cao
huyết áp, thai quá ngày, tiền sản giật…).

+ Sau nhau: gồm những bất thường ở dây rốn (sa
dây rốn, dây rốn thắt nút, dây rốn bị chèn ép, những
bất thường bẩm sinh…) hoặc ở thai nhi (thiếu máu do
mẹ mất máu trong nhau tiền đạo, nhau bong non
hoặc huyết tán trong bất đồng nhóm máu Rhérus…).

- Ảnh hưởng của suy dinh dưỡng lên sự tăng trưởng
của thai: Bao gồm những ảnh hưởng về trọng lượng
và kích thước.

Sự tăng trưởng của thai gồm ba thời kỳ:

- Thời kỳ tăng sinh - nghĩa là tăng số lượng tế bào.
Nếu suy dinh dưỡng xảy ra vào thời kỳ này sẽ làm

Glucose là nguồn năng lượng chính của thai,
glycogen đóng vai trò dự trữ năng lượng để dùng
trong trường hợp thai bị thiếu oxy. Thai non tháng và
thai chậm phát triển có lượng glycogen dự trữ thấp
nên chịu đựng rất kém tình trạng thiếu oxy.

+ Biến dưỡng amino-acid:

Các amino-acid qua nhau một cách chủ động, không
phụ thuộc vào sự chênh lệch nồng độ giữa mẹ và
thai. Thai nhi có khả năng trực tiếp tổng hợp protein
từ amino-acid của mẹ. Thai còi do thiếu amino-acid là
do khả năng vận chuyển của bánh nhau chứ không
phải do mẹ bị suy dinh dưỡng.

+ Biến dưỡng lipid:

Thai nhi có đủ các men để tổng hợp lipid từ acid béo
và từ glucose rất sớm. Việc lấy acid béo và
cholesterol từ mẹ thông qua bánh nhau chưa được
hiểu rõ.

Thai bị suy trường diễn có sự dự trữ lipid giảm ở mọi
cơ quan (trừ trong trường hợp mẹ bị tiểu đường, thai
nhi bị mập phì là do tăng sinh các đảo Langrhans của
tụy thai). Giảm dự trữ lipid có nghĩa là giảm dự trữ
năng lượng, giảm khả năng bảo vệ chống mất calo,
ngưng sản xuất surfactan ở phổi gây suy hô hấp lúc
sinh.


- Độ I (nhẹ): trẻ có chiều dài và vòng đầu bình
thường, chỉ có cân nặng giảm. Nhóm này thường do
các bệnh lý của mẹ kèm trong thai kỳ như cao huyết
áp, thiếu máu, tiền sản giật.

- Độ II (trung bình): chiều dài và cân nặng trẻ đều
giảm, vòng đầu bình thường. Nguyên nhân của nhóm
này cũng giống như nhóm trên nhưng mức độ lâm
sàng nặng hơn, sự chịu đựng của thai đối với các yếu
tố gây chậm tăng trưởng kéo dài hơn trong tử cung.

- Độ III (nặng): cả vòng đầu, chiều dài và cân nặng
đều giảm. Số lượng tế bào trong nhiều cơ quan –
nhất là não – bị giảm thiểu, dễ gây dị dạng bẩm sinh.
Ở loại này, trẻ sinh ra có nhiều biến chứng: trẻ dễ bị
ngạt, viêm nhiễm hô hấp ngay trong tử cung, nhiễm
khuẩn, chảy máu, hạ đường huyết, hạ calci huyết…
và sẽ có nhiều di chứng thần kinh như chậm phát
triển về sau hoặc trẻ chỉ sống được trong giai đoạn
sơ sinh.

♣ Phân loại:

(1) Suy dinh dưỡng toàn phần hay suy dinh dưỡng
cân đối, nghĩa là chiều dài, vòng đầu và cân nặng đều
giảm so với tuổi thai.

Nguyên nhân có thể do yếu tố chủng tộc, tầm vóc nhỏ
bé của cha mẹ, mẹ nghiện rượu hoặc nghiện thuốc
lá, cao huyết áp… hoặc có thể do bệnh lý bào thai,

huyết, hạ calci huyết, nhất là đối với trẻ có suy thai
lúc sinh. Ngoài ra, trẻ còn dễ gặp các rối loạn huyết
học như đa hồng cầu, giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu
và đôi khi rối loạn đông máu.

- Tất cả các cơ quan của trẻ suy dinh dưỡng trong tử
cung đều có thể bị nhiễm trùng và cũng dễ bị nhiễm
trùng bội nhiễm.

- Tử vong có thể xảy ra trong lúc mang thai, trong
chuyển dạ, trong lúc sổ thai hoặc sau sinh nhưng
thường xảy ra khi vào chuyển dạ do xuất hiện một
tình trạng suy thai cấp ghép trên nền suy thai trường
diễn. Trẻ bị tử vong trước sinh thường ở tuần 38 – 41
của thai kỳ do thiếu oxy kéo dài hoặc ngạt; khi mới
sinh do thiếu máu, hít phân su, tồn tại tuần hoàn bào
thai và suy đa cơ quan.

Những thai nhi bị suy dinh dưỡng trong tử cung
chiếm tỷ lệ hơn 20% các trường hợp tử vong trong tử
cung, tỷ lệ tử vong chu sinh tăng gấp 4 đến 8 lần so
với những thai nhi phát triển đầy đủ trong thai kỳ.

Tử vong trong thời kỳ sơ sinh ở trẻ suy dinh dưỡng
trong tử cung thường liên quan đến ngạt, rối loạn
chuyển hóa và huyết học.

Sau đó, đối với trẻ suy dinh dưỡng trong tử cung có
cân nặng lúc sinh 1500 – 2500g, có tỷ lệ sống sót là >
95%. Tuy nhiên, đối với trẻ có cân nặng lúc sinh <

+ Nếu suy dinh dưỡng trong tử cung xảy ra vào tam
cá nguyệt thứ 3 của thai kỳ thì sự nhân đôi tế bào
glial, liên kết các synapse, myelin hoá vẫn tiếp tục
trong 2 năm đầu sau sinh do đó có thể phục hồi.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status