Chương 2:
CHỌN PHÔI VÀ PHƯƠNG PHÁP CHẾ TẠO
PHÔI
3.1 Dạng phôi:
Trong gia công cơ khí các dạng phôi có thể là: phôi
đúc, rèn, dập, cán.
Xác đònh loại và phương pháp chế tạo phôi phải nhằm
mục đích bảo đảm hiệu quả kinh tế – kỹ thuật chung của quy
trình chế tạo chi tiết, đồng thời tổng phí tổn chế tạo chi tiết kể
từ công đoạn chế tạo phôi cho tới công đoạn gia công chi tiết
phải thấp nhất.
Khi xác đònh loại phôi và phương pháp chế tạo phôi cho
chi tiết ta cần phải quan tâm đến đặc điểm về kết cấu và yêu
cầu chòu tải khi làm việc của chi tiết (hình dạng, kích thước,
vật liệu, chức năng, điều kiện làm việc…)
Sản lượng hàng năm của chi tiết
Điều kiện sản xuất thực tế xét về mặt kỹ thuật và tổ
chức sản xuất (khả năng về trang thiết bò, trình độ kỹ thuật
chế tạo phôi…)
Mặc khác khi xác đònh phương án tạo phôi cho chi tiết ta
cần quan tâm đến đặc tính của các loại phôi và lượng dư gia
công ứng với từng loại phôi. Sau đây là một vài nét về đặc
tính quan trọng của các loại phôi thường được sử dụng:
°Phôi đúc:
Khả năng tạo hình và độ chính xác của phương pháp đúc
phụ thuộc vào cách chế tạo khuôn, có thể đúc được chi tiết có
hình dạng từ đơn giản đến phức tạp (chi tiết của ta có hình
dạng khá phức tạp). Phương pháp đúc với cách làm khuôn
theo mẫu gỗ hoặc dưỡng đơn giản cho độ chính xác của phôi
đúc thấp. Phương pháp đúc áp lực trong khuôn kim loại cho
độ chính xác vật đúc cao. Phương pháp đúc trong khuôn cát,
thường thấp, độ chính xác phôi cán có thể đạt từ 9
12. Phôi
cán được dùng hợp lý trong trường hợp sau khi cán không cần
phải gia công cơ tiếp theo, điều đó đặc biệt quan trọng khi
chế tạo các chi tiết bằng thép và hợp kim khó gia công, đắt
tiền.
Chọn phôi
Dựa vào đặc điểm của các phương pháp tạo phôi ở trên,
ta chọn phương pháp đúc vì:
+ Giá thành chế tạo vật đúc rẻ
+ Thiết bò đầu tư ở phương pháp này tương đối đơn
giản, cho nên chi phí đầu tư thấp
+ Phù hợp với sản xuất hàng loạt vừa
+ Độ nhám bề mặt, độ chính xác sau khi đúc có thể
chấp nhận để có thể tiếp tục gia công tiếp theo
Phương pháp chế tạo phôi:
Trong đúc phôi có những phương pháp sau:
1. Đúc trong khuôn cát –mẫu gỗ
Chất lượng bề mặt vật đúc không cao, giá thành thấp,
trang thiết bò đơn giản, thích hợp cho dạng sản xuất đơn chiếc
và loạt nhỏ.
Loại phôi này có cấp chính xác IT16
IT17.
Độ nhám bề mặt: R
z
=160m.
2. Đúc trong khuôn cát – mẫu kim loại:
Nếu công việc làm khuôn được thực hiện bằng máy thì
có cấp chính xác khá cao, giá thành cao hơn so với đúc trong
khuôn cát – mẫu gỗ,vì giá tạo khuôn cao.
6. Đúc trong khuôn vỏ mỏng:
Là dạng đúc trong khuôn cát nhưng thành khuôn mỏng
chừng 6-8mm
Có thể đúc được gang , thép, kim loại màu như khuôn
cát,khối lượng vật đúc đến 100 kg
Dùng trong sản xuất loạt lớn và hàng khối.
7. Đúc liên tục:
Là quá trình rót kim loại lỏng đều và liên tục vào moat
khuôn bằng kim loại, xung quanh hoặc bên trong khuôn có
nước lưu thông làm nguội (còn gọi là bình kết tinh). Nhờ
truyền nhiệt nhanh nên kim loại lỏng sau khi rót vào khuôn
được kết tinh ngay, vật đúc được kéo liên tục ra khỏi khuôn
bằng cơ cấu đặc biệt như con lăn…
Thường dùng để đúc ống, đúc thỏi, đúc tấm
Kết luận:
Với những yêu cầu của chi tiết đã cho, tính kinh tế cũng
như dạng sản xuất ta sẽ chọn phương pháp chế tạo phôi đúc
trong khuôn cát – mẫu kim loại, làm khuôn bằng máy.
Phôi đúc đạt cấp chính xác là II.
Cấp chính xác kích thước IT15
IT16.
Độ nhám bề mặt: R
z
=80m.