Câu 1: Hệ thống tiền tệ quốc tế: khái niệm, phân loại và đặc trưng chủ yếu.
* Khái niệm: là tập hợp các nguyên tắc thể lệ và các tổ chức nhằm tác động đến các quan hệ tài
chính tiền tệ giữa các quốc gia trên thế giới.
* Mục đích: điều chỉnh các mối quan hệ tiền tệ quốc tế theo hướng giữ ổn định để tạo cơ sở cho
các mối quan hệ kinh tế quốc tế trên thế giới.
* Phân loại: có 2 nguyên tắc cơ bản quy định sự khác biệt giữa các HTTTQT
- Dựa vào chế độ TGHĐ
- Dựa vào dự trữ tiền tệ quốc tế: bằng các ngoại tệ mạnh, vàng, SDR.
* Các đặc trưng chủ yếu:
+ 1 HTTTQT được coi là hoạt động có hiệu quả nếu đạt được 2 mục tiêu cơ bản sau:
- tối đa hóa sản lượng sản xuất, sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất
- đảm bảo sự công bằng trong phân phối về lợi ích kinh tế giữa các quốc gia.
+ Các chỉ tiêu đánh giá tính hiệu quả của hoạt động HTTTQT:
- khả năng điều chỉnh duy trì để tái lập lại cân bằng của CCTTQT. Một HTTQT có hiệu quả là hệ
thống có khả năng giúp các quốc gia hạn chế tối đa thời gian và cái giá phải trả đó khi tiến hành
điều chỉnh CCTT của mình.
- mức dự trữ tiền tệ quốc tế chính thức phải đủ lớn để cho các quốc gia điều chỉnh CCTTQT và
thực hiện các giao dịch tiền tệ quốc tế liên tục và đúng hạn. Một HTTQT có hiệu quả là hệ thống
có khả năng cung cấp nguồn dự trữ với quy mô thích hợp nhằm giúp các quốc gia điều chỉnh
CCTT mà không gây tác động tiêu cực đến nền kinh tế quốc gia đó và nền kinh tế thế giớ nói
chung.
- Độ tin cậy của HTTTQT phải gắn liền với khả năng duy trì cả giá trị tuyệt đối lẫn giá trị tương
đối của các nguồn dữ trữ ngoại tệ. Một HTTTQT có hiệu quả là hệ thống hoạt động một cách suôn
sẻ, không để xảy ra khủng hoảng về độ tin cậy của hệ thống.
Câu 2: Hệ thống tiền tệ Bretton Woods: đặc trưng, vai trò và những vấn đề đặt ra.
Sau đại chiến thế giới lần 2, Mỹ trở thành cường quốc mạnh nhất thế giới về ngoại thương, về tín
dụng quốc tế và là nước có dự trữ vàng lớn nhất thế giới. Do đó USD lên ngôi đồng tiền chủ chốt
của thế giới.
Tháng 7 năm 1944, lợi dụng địa vị kinh tế và tài chính của mình trên trường quốc tế, Mỹ đã đứng
ra triệu tập hội nghị tiền tệ tài chính quốc tế tại thành phố Bretton Woods với sự tham gia của 44
nước. Hội nghị đã ký kết 1 hiệp định quốc tế bao gồm những thỏa thuận của các nước về việc thiết
USD ra vàng nữa. Chế độ bản vị USD sụp đổ.
* Những vấn đề đặt ra:
Câu 3: Nợ nước ngoài: Khái niệm, phân loại, vai trò và phương pháp xác định. Liên hệ quản
lý nợ nước ngoài của Việt Nam.
• Khái niệm:
- Theo khái niệm thông thường: nợ nước ngoài là tổng số tiền mà 1 quốc gia có trách nhiệm và bị
ràng buộc phải thanh toán cho các chủ thể có quyền sở hữu chính thức đối với khoản tiền đó.
Các chủ thể trong quan hệ nợ là chủ nợ và con nợ:
Chủ nợ là người cho vay có trách nhiệm cung cấp các khoản tiền cho người đi vay. Có thể là 1
quốc gia, 1 tổ chức quốc tế, 1 DN hoặc một cá nhân nước ngoài. Nếu chủ nợ là một QG thì khi vay
nợ phải thông qua hiệp định vay nợ. Tổ chức quốc tế, DN hay cá nhân khi vay nợ phải thông qua
hợp đồng vay nợ.
Các quốc gia sử dụng sô tiền vay nợ gọi là con nợ: là người đi vay có trách nhiệm trả cả gốc lẫn
lãi cho chủ nợ.
Khoản tiền vay chủ yếu bằng các ngoại tệ mạnh: USD, EURO, JPY…
- Nếu nhìn từ góc độ của người cho vay, nợ nước ngoài là các khoản tiền mà các các chủ nợ cho
các con nợ vay trong một khoảng thời gian nhất định với những cam kết và ràng buộc rõ ràng.
- Đối với Việt Nam, Nợ nước ngoài là các khoản vay ngắn hạn, trung han hoặc dài hạn (có hoặc ko
phải trả lãi) do Nhà nước VN, Chính phủ VN, hoặc DN là pháp nhân VN, kể cả DN có vốn ĐTNN
vay của tổ chức quốc tế, của CP, của ngân hàng nước ngoài hoặc của tổ chức và cá nhân nước
ngoài khác (bên cho vay nước ngoài).
• Phân loại: tùy theo góc độ quản lý của các QG khác nhau mà có thể phân loại nợ theo các tiêu
chí sau:
+ Căn cứ vào chủ thể đứng ra vay nợ, được chia thành:
- Nợ nhà nước (nợ chính phủ), là nợ do nhà nước và các tổ chức nhà nước đứng ra vay hoặc bảo
lãnh.
2
- Nợ tư nhân là các khoản nợ do các DN tư nhân đứng ra vay ko cần có sự bảo lãnh của CP. Các
DN này thường là các ngân hàng, các DN công thương có nhiều hoạt động trong quan hệ kinh tế.
+ Căn cứ vào thời gian vay nợ:
đánh giá mức độ nợ của một quốc gia con nợ.
• Liên hệ việc quản lý nợ nước ngoài của VN
* Tình hình vay nợ nước ngoài của việt nam
Tính đến ngày 31/12/2009, tổng dư nợ nước ngoài quốc gia là 27,929 tỷ USD. Cụ thể, nợ nước
ngoài của quốc gia so với GDP bằng 39%, thuộc diện quốc gia có nợ nước ngoài vừa phải khuyến
nghị của Ngân hàng Thế giới (WB) < 50% ; nghĩa vụ trả nợ nước ngoài trung dài hạn so với xuất
khẩu hàng hóa, dịch vụ chỉ bằng 4,2% (WB cho phép đến 25%); dự trữ ngoại hối so với nợ nước
ngoài ngắn hạn là 290% (khuyến nghị của WB là trên 200%); nghĩa vụ trả nợ Chính phủ so với
tổng thu ngân sách nhà nước 5,1% (ngưỡng an toàn của WB là dưới 35%)…
Các khoản vay nước ngoài của VN đa số đều có lãi suất thấp, trong đó vay ODA chiếm tỷ trọng
74,67%; vay ưu đãi chiếm 5,41%; vay thương mại 19,92%.
3
Cơ cấu đồng tiền vay trong tổng dư nợ nước ngoài Chính phủ cũng khá đa dạng: đồng Yên chiếm
41,96%; SDR (quyền rút vốn đặc biệt) chiếm 27,39%; vay theo đồng USD chiếm 16,61%; vay
bằng đồng Euro chiếm 10,68%; còn lại là các đồng tiền khác chiếm 3,37% tổng dư nợ nước ngoài
Chính phủ.
* Tình hình quản lý nợ nước ngoài tại việt nam
ở VN hiện nay có 3 cơ quan tham gia quản lý nợ nước ngoài là bộ tài chính, bộ kế hoạch và đầu
tư, ngân hàng nhà nước.
- Bộ Tài chịu trách nhiệm: chủ trì, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các cơ quan
liên quan xây dựng các chính sách chế độ của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý nợ nước ngoài
Chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xây dựng kế hoạch
vay và trả nước ngoài của Chính phủ hàng năm trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Tổ chức thực hiện việc trả nợ nước ngoài của Nhà nước và của Chính phủ từ ngân sách Nhà nước.
Thực hiện các nhiệm vụ được Chính phủ phân công tại Điều 14 Quy chế quản lý và sử dụng ODA
ban hành kèm theo Nghị định số 87/CP ngày 5 tháng 8 năm 1997 của Chính phủ.
- Ngân hàng nhà nước: thay mặt Chính phủ, đàm phán các khoản nợ đa phương với 3 tổ chức tài
chính quốc tế (IFI) là ADB, IMF, WB và chuyển các hiệp định chính thức đã ký sang Bộ Tài
chính; quản lý vay, trả nợ của các doanh nghiệp.
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư: dự thảo nhu cầu hàng năm về vay ODA, xây dựng danh mục các dự án
việc kiểm soát tiền tệ và điều hành thị trường ngoại hối, được xác định dựa trên mức tỷ giá hối
đoái danh nghĩa và mức chỉ số giá trong nước và chỉ số giá quốc tế.
TGHĐ TT= TGHĐ danh nghĩa × chỉ số giá quốc tế : tỷ số giá trong nc
Chỉ số giá(%)= Tỷ lệ lạm phát (%) + 100%
- Tỷ giá hối đoái ngang giá sức mua: được xác định bằng tỷ lệ giữa giá trị (chi phí sx, giá thành
hoặc giá cả) của cùng một lượng hàng hóa đó tính bằng đồng ngoại tệ ở thị trường nước ngoài.
Để khuyến khích các doanh nghiệp tham gia và XK thì mức TGHĐ danh nghĩa áp dụng trên thị
trường cần phải cao hơn mức tỷ giá ngang giá sức mua.
• Các yếu tố ảnh hưởng đến TGHĐ:
+ Mức chênh lệch lạm phát giữa các quốc gia:
Giả sử các yếu tố khác không thay đổi, nếu mức lạm phát trong nước có xu hướng cao hơn mưac
lạm phát của nước ngoài thì xét về mặt thực tế và việc so sánh ngang giá sức mua thì đồng nội tệ
có xu hướng giảm so với đồng ngoai tệ. Do lượng tiền tăng thêm để mua được một lượng hàng hoa
tính bằng đồng nội tệ cao hơn so với tính bằng đồng ngoại tệ. Hay nói cách khác, mức độ mất giá
của đồng nội tệ cao hơn so với đồng ngoại tệ. trong trường hợp ngược lại, khi tỷ giá lạm phát trong
nước thấp hơn dẫn đến TGHD giảm, nội tệ tăng giá.
+ Mức độ tăng hay giảm của GNP
GNP tăng hay giảm xuống, trong điều kiện các nhân tố khác ko đổi, sẽ làm tăng hay giảm nhu cầu
về hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu, do đó sẽ làm cho nhu cầu ngoại hối để thanh toán hàng nhập
khẩu ssex tăng lên hoặc giảm xuống.
+ Mức chênh lệch lãi suất giữa các nước
Giả sử như mức lãi suất ngắn hạn của một nước tăng lên một cách tương đối so với nước khác,
trong đk các nhân tố khác không đổi, thì vốn ngắn hạn từ nước ngoài sẽ chảy vào nước đó tăng lên
nhằm thu mức chênh lệch lãi suất. Điều này làm cho cung ngoại hối tăng lên, cầu ngoại hối giảm
đi dẫn đến sự thay đỏi tỷ giá.
+ Những dự đoán về TGHĐ
Là dự đoán của những người tham gia vào thị trường ngoại hối về triển vọng lên giá hay xuống
giá của đồng tiền nào đó, có thể là một nhân tố quan trọng có thể là một nhân tố quan trọng quyết
định đến sự biến động của tỷ giá.
+ Sự can thiệp của CP
nước; làm tăng lạm phát trong nước do tăng giá hàng NK. Đồng thời việc giảm NK quá mức do
phá giá còn cóp thể dẫn đến tình trạng thất nghiệp và làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế. Hơn
nrax lợi thế thúc đẩy XK HH sẽ bị giảm xuống nếu hàng xK chủ yếu sử dựng các nguyên vật liệu
NK.
Do vậy, muốn đạt được hiệu quả cao trong hỗ trợ xuất khẩu, cần phải bằng nhiều công cụ,
nhiều giải pháp như hỗ trợ trực tiếp cho các đơn vị xuất khẩu, đẩy mạnh xúc tiến thương mại,
chiến lược, sản phẩm,chất lượng, vốn, công nghệ và con người. Vấn đề nan giải hiện nay là làm
sao phải hạn chế được nhập siêu cao. Muốn vậy, Nhà nước phải dùng giải pháp: hàng rào kỹ thuật,
dùng chính sách hỗ trợ sản xuất trong nước, nhất là sản xuất hàng hóa thay thế hàng nhập khẩu,
phải vận động liên tục và hiệu quả chủ trương của Bộ Chính trị kêu gọi người Việt ưu tiên dùng
hàng Việt. Có vậy, VN mới hy vọng giải quyết được bài toán hạn chế nhập siêu và ổn định tỷ giá,
chứ không phải chỉ bằng cách phá giá VND.
Kết luận là không nên phá giá đồng Việt Nam.
Câu 5: Thị trường ngoại hối: Khái niệm, chức năng, những đặc điểm chủ yếu, thành phần
tham gia
* Khái niệm:
Là thị trường tiền tệ quốc tế trong đó diễn ra các hoạt động giao dịch các ngoại tệ và các phương
tiện thanh toán có giá trị như ngoại tệ (hối phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu, séc).
Trên thế giới có 2 hệ thống tổ chức TTNH khác nhau:
- TTNH có tính chất biểu tượng ở Anh – Mỹ: các giao dịch ngoại hối được thực hiện thông
qua các phương tiện thông tin liên lạc hiện đại (ở ngân hàng).
6
- Theo hệ thống Châu Âu, TTNH có địa điểm nhất định và giao dịch hàng ngày thông qua các
sở giao dịch.
* Chức năng:
- Là cơ chế hữu hiệu đáp ứng nhu cầu mua bán trao đổi ngoại tệ
- là công cụ để NHTW thực hiện CSTT nhằm điều khiển nền kinh tế theo mục tiêu
- Cung cấp tín dụng cho các hoạt động XNK
- Cung cấp công cụ để phòng ngừa rủi ro hối đoái trong giao dịch ngoại tệ
- Giúp các nhà đầu cơ nghiên cứu trong kinh doanh ngoại tê.
+ Nghiệp vụ ngoại hối gia ngay: là nghiệp vụ mua hay bán ngoại tệ mà việc chuyển giao ngoại tệ
được thực hiện ngay hoặc chậm nhất là sau hai ngày làm việc kể từ khi thỏa thuận hợp đồng mua
bán. (trừ ngày nghỉ theo quy định của từng quốc gia).
Nghiệp vụ này diễn ra trên thị trường giao ngay và được thực hiện trên cơ sở tỷ giá giao ngay, tức
là tỷ giá được xác định và có giá trị tại thời điểm giao dịch
7
+ Nghiệp vụ chuyển hối: là nghiệp vụ dựa vào mức chênh lệch tỷ giá giữa các thị trường ngoại hối
để thu lợi nhuận thộng qua hoat động mua và bán.
Trong điều kiện ngày nay, do phương tiện thông tin hiện đại đã làm cho thị trường ngoại hối trở
lên thông suốt trên phạm vi thế giới nên nghiệp vụ này ko còn ý nghĩa trong kinh doanh ngoại hối
so với trước kia.
+ Nghiệp vụ giao dịch ngoại hối có kỳ hạn: là nghiệp vụ mua bán ngoại tệ mà việc giao nhận sẽ
được thực hiện sau một thời gian nhất định theo tỷ giá có kỳ hạn.
Tỷ giá có kỳ hạn là tỷ giá áp dụng cho tương lai nhưng xác định trước ở thời điểm hiện tại.
+ Nghiệp vụ hoán đổi (SWAP): đây là nghiệp vụ ngoại hối phối hợp giữa hai nghiệp vụ ngoại hối
gio ngay và ngoại hối có kỳ hạn để kiếm lãi, tức là việc thưc hiện mua bán ngoại tệ xảy ra đồng
thời ở hai thời điểm khác nhau, bán một đồng nào đó ở thời điểm hiện tại và mua được lại đồng
tiền đó vào một hời điểm xác định trong tương lai và ngược lại.
+ Nghiệp vụ ngoại hối tương lai: là nghiệp vụ tiến hành thỏa thuận mua và bán một lượng ngoại tệ
đã biết theo tỷ giá cố định tại thời điểm hợp đồng có hiệu lực và việc chuyển giao ngoại tệ được
thực hiện vào một ngày trong tương lai, được xác định bởi sở giao dịch. (nghiệp vụ này ở VN chưa
được áp dụng)
Đây thực chất là thị trường có kỳ hạn, có tính tiêu chuẩn hóa cao về ngoại tệ giao dịch, chủ yếu là
các ngoại tệ mạnh, số lượng ngoại tệ giao dịch và ngya chuyển giao ngoại tệ. Điều bắt buộc giao
dịch trong tương lai là các bên tham gia phải có khoản ký quỹ cho những người môi giới và phả trả
phí giao dịch, khoản ký quỹ ban đầu thông thường là 4% giá trị hợp đồng.
+ Nghiệp vụ quyền chọn: là một loại giao dịch được thực hiện trên cơ sở hợp đồng quyền chọn
mua hoặc quyền chọn bán một số lượng ngoại tệ nhất định theo một giá quy định và việc thực hiện
hợp đồng sẽ xảy ra trong tương lai.
Câu 6: Cán cân thanh toán quốc tế: khái niệm, các bộ phận cấu thành và mối quan hệ giữa
lên, có thặng dư nghĩa là nước đó có của cải để tích lũy.
Mức độ thâm hụt cũng ảnh hưởng tới TGHĐ của đồng tiền trong nước với ngoại tệ.
6.2. Cán cân vốn:
* Khái niệm: ghi lại các giao dịch quốc tế liên quan đến dòng chảy của vốn vào và ra khỏi 1 quốc
gia trong từng thời kỳ nhất định.
* Bộ phận:
- Cán cân vốn dài hạn: ghi chép các giao dịch về vốn trong thời gian > 1 năm như đầu tư trực tiếp,
đầu tư gián tiếp và các vốn dài hạn khác chẳng hạn như tín dụng dài hạn.
- Cán cân vốn ngắn hạn: ghi chép các giao dịch về vốn trong thời gian < 1 năm như tín dụng
thương mại ngắn hạn, hoạt động tiền gửi, mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn, các khoản tín dụng của
ngân hàng ngắn hạn, kinh doanh ngoại hối,…
* Cán cân vốn cũng ghi lại các khoản nợ trong và ngoài ngân hàng của chính phủ hoặc tư nhân.
- Chia theo FDI có : FDI vào, FDI ra
- Chia theo các loại hình đầu tư gián tiếp: ODA hoàn lại, chứng khoán: CP, TP
- Chia theo thay đổi các khoản nợ: nợ trong ngân hàng, nợ ngoài ngân hàng.
=> Chú ý: - Tổng CCTX và cán cân vốn gọi là cán cân cơ sở phản ánh những yếu tố tác động dài
hạn trong nền kinh tế và cho biết tình trạng thanh khoản của 1 quốc gia trong từng thời kỳ nhất
định.
- Giao dịch độc lập bao gồm các giao dịch trong CCTX và CC vốn, các giao dịch này nhằm mục
đích kinh doanh theo lợi nhuận là chính trừ các giao dịch trong chuyển giao đơn phương và diễn ra
độc lập với các giao dịch khác trong CCTTQT.
6.3. Cán cân tài trợ chính thức:
* Khái niệm: ghi lại các giao dịch quốc tế do các tổ chức của Nhà nước thực hiện nhằm điều chỉnh
tất cả các giao dịch khác được ghi trong CCTTQT.
* Bao gồm: ngoại hối (ngoại tệ mạnh), vàng, SDR (quyền rút vốn đặc biệt).
Mức dự trữ an toàn là 12 – 14 tuần nhập khẩu (để can thiệp vào CCTM).
* Lưu ý:
- Các giao dịch quốc tế được thể hiện trong CC tài trợ chính thức phản ánh các giao dịch hỗ trợ
không nhằm mục đích TM chỉ nhằm mục đích xác lập lại cân đối CCTTQT.
- Cân đối CC dự trữ chính thức cho biết mức thâm hụt hay thặng dư của CCTTQT dưới chế độ
- Ưu điểm: dễ AD, chủ động thực hiện
- Nhược điểm: chỉ AD với các quốc gia có dữ trữ ngoại tệ đủ lớn, chỉ có tác dụng trong ngắn hạn
* Phá giá đồng tiền trong nước:
- Ưu điểm: Đây là biện pháp thực hiện thông qua việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái, tiến hành giảm
giá đồng tiền trong nước để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động xuất khẩu và hạn chề nhập
khẩu. Đồng thời, khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài vào trong nước.
- Nhược điểm: tác động tích cực đến XK nhưng lại hạn chế NK, gây mất lòng tin của nhà đầu tư,
tăng các khoản nợ nước ngoài bằng ngoại tệ, tăng lạm phát ở trong nước, dễ bị trả đũa.
* Kiểm soát nhập khẩu:
Được thực hiện thông qua hàng rào thuế quan, hạn ngạch, giấy phép NK hoặc các biện pháp hành
chính như dán tem hàng NK, chống NK lậu, xử lý hành chính các vi phạm NK.
- Ưu điểm: góp phần làm tăng mức độ bảo hộ đối với các nhà sản xuất, khuyến khích tăng sản
lượng và thúc đẩy XK. Đồng thời do tăng cá rào cản NK nên giá hàng NK tăng dẫn đến người tiêu
dùng chuyển sang tiêu dùng hàng trong nước.
- Nhược điểm: làm giảm mức độ hội nhập của nền kinh tế, đi ngược với xu hướng của tự do hóa
TM, gây ra tâm lý chờ, ỷ lại của các nhà sản xuất và làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa.
* Các biện pháp khác:
10
- Nâng cao lãi suất chiết khấu (lãi suất cho vay trên thị trường tăng làm cho vốn ngắn hạn chảy vào
trong nước tăng lên).
- Sử dựng biện pháp khuyến khích XK, giảm NK, khuyến khích đầu tư nước ngoài vào trong nước,
giảm đầu tư trong nước ra nước ngoài.
- CPhủ cắt giảm chi tiêu ngân sách, kiểm soát ngoại hố chặt chẽ, khuyến khích đầu tư trong
nước,
=> Tóm lại tất cả các biện pháp trên đều có tính 2 mặt đòi hỏi các quốc gia phải cân nhắc kỹ trước
khi sử dụng.
7.2. Liên hệ với thực tiễn VN:
Cán cân thanh toán đã được bù đắp là do:
- Từ năm 2009 đến nay, ADB, WB đã có một số khoản tín dụng chuyển trực tiếp vào ngân sách
của Việt Nam. Cùng với Chương trình Tín dụng Hỗ trợ giảm nghèo (PRSC), Việt Nam đã được
Đây là liên kết ở mức độ cao hơn liên minh thuế quan.
11
Các thành viên ngoài việc áp dụng các biện pháp thương mại tương tự như liên minh thuế quan
trong trao đổi thương mại, các thành viên còn thỏa thuận và cho phép: tư bản và lao động được tự
do di chuyển giữa các nước thành viên thông qua từng bước hình thành thị trường thống nhất.
- Liên minh kinh tế: liên minh châu âu EU từ năm 1994.
Đây là liên minh quốc tế với một mức độ cao hơn về sự tự do di chuyển hàng hóa, dịch vụ, tư bản
và lực lượng lao động giữa các quốc gia thành viên, đồng tời thống nhất biểu thuế quan chung áp
dụng cho cả các nước không pgair thành viên. Ngoài ra các nước thành viên còn thực hiện thống
nhất các chính sách tài chính, kinh tế, tiền tệ.
- Liên minh tiền tệ: liên minh châu âu khi sử dụng đồng tiền chung EURO
Đây là hình thức liên kết kinh tế tiến tới phải thành lập một “quốc gia kinh tế chung” có nhiều
nước tham gia với nhiều đặc trưng như: xây dựng chính sách kinh té chung; hình thành đồng tiền
chung; thống nhất chính sách lưu thông tiền tệ; xây dựng hệ thống ngân hàng chung.
• Đặc trưng:
LKKTQT là một hình thức phát triển tất yếu và cao của phân công lao động quốc tế.
Phân công lao động quốc tế là sự chuyên môn hóa từng QG vào việc SX hoặc cung ứng sản phẩm,
dịch vụ công nghiệp phát triển để nâng cao vị thế và thị phần của mình trên trường QT
• Vai trò và tác dộng:
Thực chất nền kinh tế thế giới hiện nay đang chỉ ra rằng, việc hình thành và phát triển của các
LKKTQT có tác động tích cực đối với sự phát triển các quan hệ KTQT nói chung, các thành viên
trong khối nói riêng, được thể hiện:
+ Trên cơ sở các hiệp định đã ký kết, các chương trình phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật văn
hóa xã hội…. được phối hợp hài hòa giữa các nước thành viên.
+ Tạo nên sự ổn định tương đối để cùng phát triển và sự phản ứng linh hoạt trong việc phát triển
các quan hệ KTQT giữa các thành viên, thúc đẩy việc tạo dựng cơ sở lâu dài cho việc thiết lập và
phát triển các quan hệ song phương và đa phương.
+ Tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuất mới
+ Tạo cơ hội, điều kiện và khả năng thuận lợi cho việc xích lại gần nhau giữa các thành viên về
mọi mặt.
so với tháng 12 năm 2008 tăng 6,52%, thấp hơn mục tiêu 7% Quốc hội thông qua; chỉ số giá bình
quân năm 2009 là 6,88%, thấp nhất trong 6 năm gần đây.
Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 13,4% năm 2008 xuống còn 12,3%. Văn hóa, giáo dục, y tế và nhiều
lĩnh vực xã hội khác cũng đạt được những thành tích vượt trội.
Bên cạnh những kết quả quan trọng nêu trên, tình hình kinh tế-xã hội Việt Nam tính đên năm
2009 vẫn còn những hạn chế, yếu kém, đó là:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế tuy đã tăng lên, vượt qua giai đoạn suy giảm, nhưng tăng trưởng
kinh tế chủ yếu dựa vào phát triển theo chiều rộng, tăng khối lượng các nguồn lực, nhất là tăng vốn
đầu tư, chưa thực sự dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội và nâng cao hiệu quả nên tăng
trưởng chưa thật vững chắc, chất lượng và hiệu quả tăng trưởng chưa cao.
Tỷ lệ đầu tư so với GDP năm 2008 là 41,3%; năm 2009 là 42,8%, nhưng tốc độ tăng GDP hai
năm chỉ đạt 6,18% và 5,32% là chưa tương xứng. Khả năng cạnh tranh của nền kinh tế và của
nhiều ngành, nhiều sản phẩm còn thấp.
Hơn nữa, cơ cấu kinh tế của Việt Nam tuy bước đầu đã có sự chuyển dịch theo hướng tiến bộ và
tích cực, nhưng vẫn chưa ra khỏi cơ cấu ngành truyền thống với tỷ trọng tương đối cao của khu
vực sản xuất vật chất nói chung và khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản nói riêng.
Năm 2009, cơ cấu tổng sản phẩm 3 khu vực: Nông, lâm nghiệp và thủy sản; công nghiệp và xây
dựng; dịch vụ lần lượt là 20,66%; 40,24%; 39,10%; không khác mấy so với năm 2008 và những
năm gần đây.
Đặc biệt, các cân đối kinh tế vĩ mô chưa thật vững chắc. Mức thâm hụt ngân sách tuy đã được
khống chế, nhưng đã lên tới 7% GDP. Lạm phát trong năm tuy được khống chế ở mức hợp lý,
nhưng nhìn chung giá cả ngày càng tăng và đang tiềm ẩn nhiều yếu tố có thể gây tái lạm phát cao.
Ngoài ra, một số vấn đề xã hội bức xúc chậm được khắc phục, đời sống nhân dân, nhất là những
người có thu nhập thấp, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người và vùng bị ảnh hưởng
của thiên tai vẫn còn nhiều khó khăn. Tỷ lệ thất nghiệp là 2,9%, cao hơn mức 2,38% của năm
2008. Tỷ lệ hộ nghèo tuy đã giảm nhưng vẫn còn 12,3%.
9.2. Giải pháp để VN hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả:
- Phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập, tự chủ và định
hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc,
bảo vệ môi trường.
- XK tăng nhanh, cung luôn vượt cầu, thị trường trở nên chật hẹp.
- Phải đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại, thực hiện phân công lao
động quốc tế sâu sác hơn.
- Ngày nay, các định chế tài chính quốc tế xuất hiện ngày càng nhiều và bao trùm lên phạm vi
toàn cầu góp phần tạo động lực to lớn thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa. Sự xuất hiện của các
tổ chức như IMF, AFTA, NAFTA, là những ví dụ điển hình của các liên minh kinh tế tài
chính thúc đẩy hoạt động kinh tế diễn ra trên phạm vi rộng mang tính toàn cầu.
- Đặc biệt là sự xuất hiện WTO với tư cách là diễn đàn thương mại đa phương, đã biến WTO
thành một “Liên hợp quốc” về thương mại. Nó đã góp phân fto lớn trong việc đẩy nhanh
quá trình tự do hóa TM toàn cầu, làm cho quan hệ TMQT thay đổi mạnh về chất, phân công
lao động quốc tế ngày càng sâu sắc.
Việt Nam là 1 quốc gia đang phát triển nhu cầu và mục tiêu vươn tới để trở thành một quốc gia
công nghiệp có kỹ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến, đời sống của nhân dân với chất lượng ngày
càng cao.
14
* Điều kiện và giải pháp để Việt Nam tham gia có hiệu quả vào AFTA, ACFTA và WTO.
+ Điều kiện để VN tham gia hiệu quả WTO:
- Một thị trường mở cửa cho hàng NK: Từ những năm 1990, Việt Nam đã liên tục cắt giảm các
mức thuế hải quan và bãi bỏ phần lớn hạn ngạch đối với hàng nhập khẩu. Như vậy, mức độ tự do
hóa thương mại bổ sung sau khi Việt Nam gia nhập WTO sẽ chỉ ở mức khiêm tốn và sẽ diễn ra từ
từ trong một thời gian tương đối dài (12 năm).
- Được xóa bỏ hạn ngạch ở một số mặt hàng
- Hiệp định gia nhập WTO bao trùm tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế
+ Biện pháp để VN tham gia có hiệu quả vào WTO:
- Cần cải cách hành chính và hoàn thiện khung pháp lý cho phát triển hệ thống tài chính, thị
trường đất đai, bất động sản, thị trường lao động và cải cách DNNN, đầu tư công
- Cần nâng cao trình độ nhân lực, chú ý khắc phục tác động tiêu cực của hội nhập đến nông
nghiệp, nông thôn…
- Cần nghiên cứu, xây dựng thể chế thực thi và giám sát có hiệu lực, hiệu quả.
- Cần nhận thức, hiểu sâu hơn nữa về các vấn đề liên quan đến gia nhập WTO, cân đối lại các chỉ
* Bên cạnh đó Việt Nam đồng thời phải đối mặt với những thách thức sau:
- Việc giảm thuế đối với các mặt hàng nông sản và công nghiệp nhập khẩu, tạo điều kiện cho hàng
hoá của các nước thành viên WTO thâm nhập thị trường Việt Nam, dẫn đến cạnh tranh sẽ gay gắt
hơn trên bình diện rộng hơn, sâu hơn. Đây là sự cạnh tranh giữa sản phẩm của ta với sản phẩm của
các nước, giữa doanh nghiệp nước ta với doanh nghiệp các nước, không chỉ trên thị trường thế giới
mà ngay trên thị trường nước ta.
- Việt Nam sẽ phải mở cửa thị trường dịch vụ như ngân hàng, bảo hiểm, vận tải, thông tin, tư vấn,
…cho các nhà kinh doanh nước ngoài. Khiến cho sự cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt giữa các
nhà kinh doanh trong nước với các nhà kinh doanh nước ngoài trước nguy cơ phá sản và thất
nghiệp gia tăng do năng lực cạnh tranh còn hạn chế.
- Việt Nam sẽ phải cam kết bảo hộ sở hữu trí tuệ bằng các thủ tục pháp lý trong nước đáp ứng các
tiêu chuẩn quốc tế. Như vậy, Việt Nam phải trả tiền bản quyền cho các sản phẩm trí tuệ này khi
muốn sử dụng chúng, chứ không sử dụng chúng một cách tuỳ tiện như trước đây.
- Việt Nam phải sửa đổi các quy định đầu tư, cam kết thực hiện các nghĩa vụ quốc gia và giảm hay
loại bỏ các hạn chế về đầu tư nước ngoài. Điều này làm nâng cao năng lực cạnh tranh của các nhà
đầu tư nước ngoài so với các nhà đầu tư trong nước.
- Việt Nam phải tiếp tục cải cách kinh tế phù hợp vơí yêu cầu của WTO
- Hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra những vấn đề mới trong việc bảo vệ môi trường, bảo vệ an ninh
quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá và truyền thống tốt đẹp của dân tộc, chống lại lối sống thực
dụng, chạy theo đồng tiền.
- Trên thế giới sự “phân phối” lợi ích của toàn cầu là không đồng đều. Những nước có nền kinh tế
phát triển thấp hơn được hưởng lợi ít hơn. Ở mỗi quốc gia, sự phân phối lợi ích cũng không đồng
đều. Một bộ phận dân cư được hưởng lợi ít hơn, thậm chí còn bị tác động tiêu cực của toàn cầu
hoá, nguy cơ phá sản một bộ phận doanh nghiệp và nguy cơ thất nghiệp sẽ tăng lên, phân hóa giầu
nghèo sẽ mạnh hơn.
* Ví dụ minh họa:
Cơ hội và thách thức đối với hàng dệt may khi gia nhập WTO:
+ Thách thức:
- Nguy cơ bị áp dụng các biện pháp tự vệ: Việc gia nhập WTO một mặt làm tăng cơ hội đẩy mạnh
xuất khẩu, đặc biệt là sang các thị trường đang áp dụng hạn ngạch đối với Việt Nam, nhưng một
- Chế độ bản vị vàng 1867: ra đời vào năm 1867 tại Paris và kéo dài đến năm 1914.
Đặc trưng:
+ Thừa nhận vàng là tiền tệ thế giới, được chu chuyển và trao đổi tự do giữa quốc gia.
+ Vàng là căn cứ để xác lập TGHĐ giữa các đồng tiền của các nước.
+ Vàng thực hiện mọi chức năng tiền tệ. chế độ tiền tệ này về cơ bản là có sự đồng nhất.
Chế độ này sụp đổ khi thế chiến thứ nhất xảy ra.
- Hệ thống Genova 1922: là kết quả của thỏa thuận giữa các nước tham gia hội nghị tiền tệ tài
chính quốc tế tổ chức tại thành phố Genova (Italia) vào năm 1922. Qua hội nghị nhằm tổ chức lại
các quan hệ tiền tệ tài chính quốc tế, thúc đẩy các quan hệ mậu dịc và các quan hệ kinh tế quốc tế
giữa các nước thành viên vào kỳ hậu chiến.
Đặc trưng:
+ Các nước thừa nhận vai trò đặc biệt quan trọng của đồng Bảng Anh trong các quan hệ tiền tệ,
thanh toán, tín dụng quốc tế; coi nó là đồng tiền chủ chốt. Thực chất đây là chế độ bản vị Bảng
Anh.
+ Việc sử dụng đồng Bảng Anh trong thanh toán quốc tế về ngoại thương và các quan hệ kinh tế
quốc tế khác không hạn chế. Các nước muốn có Bảng Anh thì phải chuyển vàng đổi lấy Bảng Anh
của nước Anh.
Chế độ này sụp đổ khi nước Anh tuyên bố chính thức phá giá đồng tiền nước mình với mức 33%
so với USD vào năm 1931.
- Hệ thống bretton – Woods 1944 (còn gọi là chế độ bản vị USD): vào năm 1944, 1 hội nghị
quốc tế được nhóm họp tại Bretton woods (Mỹ) với sự tham gia của 44 quốc gia đã đưa ra một loạt
các biện pháp liên quan đến lĩnh vực tài chính tiền tệ của thế giới, dẫn đến sự hình thành của hệ
thống Bretton woods. Cơ quant rung tâm của hệ thống tiền tệ này là IMF.
Đặc trưng:
+ Thừa nhận USD là đồng tiền chuẩn, làm trụ cột cho chế độ tiền tệ này. Nó được coi là phương
tiện dự trữ và thanh toán quốc tế, đóng vai trò chủ chốt trong các quan hệ tiền tệ, thanh toán, tín
dụng quốc tế.
17
+ Việc sử dụng đồng USD trong thanh toán quốc tế về ngoại thương và các quan hệ đối ngoại khác
không hạn chế, các đồng tiền của các nước khác phải liên hệ chặt chẽ với USD theo chế độ tỷ giá
SDR (quyền rút vốn đặc biệt) thực chất là 1 đồng tiền ảo được quy định giá trị tương đương 1SDR
= 1USD. Các quốc gia thành viên IMF tiến hành lập các quỹ dự trữ thông qua việc đóng góp theo
định kỳ với phần đóng góp tính theo đồng SDR
- Chế độ tiền tệ Châu Âu 1979:
Chế độ tiền tệ châu Âu là một chế độ tiền tệ quốc tế khu vực. Chế độ tiền tệ này trong bối cảnh
mâu thuẫn giữa ba trung tâm thế lực quốc tế trong lĩnh vực thương mại, tiền tệ, tài chính ngày càng
trở nên gay gắt. Nó được xây dựng trên cơ sở Hiệp định tiền tệ do các nước trên lục địa châu Âu
ký kết vào tháng 3-1979.
Đặc trưng:
Chế độ tiền tệ châu Âu không dựa trên SDR mà dựa vào ECU - một đơn vị tiền tệ quốc tế khu vực
của các nước châu Âu. Giá trị của ECU được đảm bảo bằng dự trữ vàng và ngoại hối của các nước
thành viên.
18