BÀI LÀM
1. Phân biệt tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể.
Khi nền kinh tế càng phát triển thì các mối quan hệ xã hội cũng phát
triển theo. Trong đó mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao
động cũng ngày càng phức tạp. Mối quan hệ này là hai mặt đối lập tồn tại
trong hoà bình và cả sự đối kháng vì giữa hai chủ thể này có sự đối lập nhau
về quyền lợi và nghĩa vụ. Từ đó phát sinh “tranh chấp lao động”, tranh chấp
lao động là những tranh chấp về quyền và lợi ích phát sinh trong quan hệ lao
động giữa người lao động, tập thể lao động với người sử dụng lao động
(khoản 1 Điều 157 BLLĐ).
Trong tranh chấp lao động, luật lao động nước ta quy định có hai hình
thức tranh chấp lao động là tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao
động tập thể. Ta có thể dựa vào các tiêu chí như sau để phân biệt hai loại
tranh chấp lao động này.
Tiêu chí Tranh chấp lao động cá nhân Tranh chấp lao động tập thể
-Số lượng
người lao
động
tham gia
vào tranh
chấp.
- Đó là tranh chấp giữa 1 người
lao động cụ thể với bên sử
dụng lao động. 1 người lao
động ở đây – chỉ sự riêng lẻ
trong việc đòi quyền, lợi ích
hợp pháp của bản thân người
lao động đó với chủ sử dụng
lao động.
- Đó là tranh chấp giữa tập thể
người lao động với người sử
quyền
giải quyết
tranh
chấp
- Thẩm quyền giải quyết tranh
chấp lao động cá nhân thuộc
hội đồng hoà giải cơ sở hoặc
hoà giải viên lao động và toà
án nhân dân.
- Ở đây, có sự tách biệt về
thẩm quyền giải quyết tranh
chấp lao động tập thể về quyền
với tranh chấp lao động tập thể
về lợi ích.
+ Hai bên tranh chấp có quyền
lựa chọn hội đồng hoà giải lao
động cơ sở hoặc hoà giải viên
để giải quyết sau khi thương
lượng không thành.
+ Hội đồng trọng tài chỉ giải
quyết các vụ tranh chấp về lợi
ích còn toà án nhân dân chỉ
giải quyết các vụ tranh chấp
lao động tập thể về quyền.
2. Tình huống.
A.
2
Tranh chấp lao động cá nhân thường là tranh chấp về các vấn đề trong
hợp đồng lao động. Vì vậy, hợp đồng lao động là căn cứ quan trọng nhất để
cơ quan có thẩm quyền tiến hành giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên bên cạnh
thì hợp đồng tiếp theo được ký ít nhất với thời hạn 24 tháng”, trong thoả ước
lao động tập thể giữa công ty TNHH với tập thể người lao động. Mà theo
quy định thì thoả ước lao động tập thể phải được phổ biến cho người lao
động. Và khi anh M vi phạm kỉ luật lao động thì bị nhắc nhở bằng văn bản
về hành vi vi phạm kỉ luật. Tuy nhiên, việc anh M bị nhắc nhở về hành vi vi
phạm kỉ luật, khi đó đó thì M vẫn chưa hề biết về quy định của thoả ước mà
đồng ý kí hợp đồng 12 tháng và chưa được hưởng hết các quyền lợi của
mình theo quy định của thoả ước lao động tập thể. Và việc anh M đòi công
ty phải kí hợp đồng trên 24 tháng với M là hoàn toàn hợp lí.
B. Tình tiết bổ sung
Xử lí kỷ luật lao động là quá trình người sử dụng lao động NSDLĐ phải
quyết xem xét việc người lao động có hành vi vi phạm kỉ luật lao động. Đó
là những biện pháp cưỡng chế cần thiết để duy trì các quan hệ lao động.
Việc xử lí kỉ luật lao động có vai trò quan trọng duy trì trật tự, kỉ cương,
nâng cao hiệu quả tỏng công tác quản lí. Tuy nhiên khi áp dụng các biện
pháp kỉ luật đối với các hành vi vi phạ kỉ luật của ngườ lao động phải căn cứ
vào hai nội dung sau:
- Hành vi vi phạm kỉ luật lao động:
4
+ Đó là hành vi của người lao động vi phạm các nghĩa vụ lao động,
được quy định cụ thể trong nội quy lao động của đơn vị hay việc không tuân
thủ sự điều hành hợp pháp của NSDLĐ lay yêu cầu về tinh thần trách nhiệm
do chính vị trí công tác của người lao động gây ra.
+ Đó còn là sự vi phạm các nghĩa vụ lao động được giao của người
lao động.
- Lỗi của người vi phạm:
+ Lỗi là yếu tố bắt buộc của vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm
kỉ luật nói riêng.
+ Người lao động bị coi là có lỗi khi họ không thực hiện nghĩa vụ
được giao hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ đó trong khi mà người
đình chỉ công việc không cho anh A làm việc trong thời gian chờ giải quyết
khiếu nại của anh A là hoàn toàn không có căn cứ pháp luật. Vì việc đình chỉ
công việc với người lao động vi phạm kỉ luật chỉ đuợc áp dụng theo khoản 1
Điều 52: “Người sử dụng lao động có quyền tạm đình chỉ công việc của
người lao động khi vụ việc vi phạm có những tình tiết phức tạp, nếu xét thấy
để người lao động tiếp tục làm việc sẽ gây khó khăn cho việc xác minh, sau
khi tham khảo ý kiến của Ban chấp hành công đoàn cơ sở.”
Xét trong trường hợp trên, công ty không để anh A làm việc trong
vòng 10 ngày là hoàn toàn trái với các quy định pháp luật.
Tiếp sau đó 3 ngày sau khi anh A tới làm việc ở bộ phận làm việc mới.
Giám đốc công ty cho rằng anh A nghỉ việc không có lí do nên yêu cầu
phòng nhân sự công ty chuẩn bị các thủ tục cần thiết họp kỉ luật với dự
kiến sẽ xử lý anh A với hình thức cao hơn tức là kỉ luật ở mức sa thải.
Hình thức sa thải được áp dụng cho anh A được quy định tại Điều 85.
6
Điều 85 (điểm b khoản 1) – đó là căn cứ mà công ty có thể áp dụng
trong trường hợp này để sa thải anh A. Tuy nhiên căn cứ này là hoàn toàn
không hợp lí, do các yếu tố sau:
+ Việc khiếu nại đối với hình thức kỉ luật “chuyển làm công việc
khác với mức lương thấp hơn trong thời hạn 6 tháng” của anh A chưa có
kết quả chính thức, tức là vẫn chưa xác định rõ được hình thức kỉ luật lần
1.
+ Việc anh A làm việc chậm 3 ngày sau khi bị công ty cho tạm nghỉ
việc 10 ngày (đây là sai phạm của công ty) trong trường hợp cụ thể này
không thể được coi là tái phạm.
+ Không được tiến hành 2 hình thức kỉ luật đối với một hành vi vi
phạm kỉ luật lao động.
Như vậy, những căn cứ trên để công ti quyết định hình thức kỉ luật sa
thải với A không hợp lí, trái với quy định của pháp luật.
Ở tình huống trên công ty nên có những quyết định kỉ luật với anh A
+ Hợp đồng lao động được thực hiện liên tục trong thời gian nhất định
hoặc vô thời hạn.
Khi công ty quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với chị M do thời
hạn của hợp đồng có thời hạn đã hết, chị M đã không đồng ý vì cho rằng chị
là đối tượng tuyển dụng trong biên chế trước đây là chị đang thực hiện hợp
đồng không xác định thời hạn.
Những lí do chị M đưa ra ta thấy hoàn toàn là bất hợp lí.
8
+ Ở lí do thứ nhất, chị M cho rằng chị là đối tượng trong biên chế trước
đây và vì vậy chị không thể bị chấm dứt hợp đồng lao động. Nhưng năm
1995, chị M đã chuyển từ chế độ tuyển dụng biên chế sang hợp đồng lao
động không xác định thời hạn. Như vậy chế độ biên chế hoàn toàn không
còn được áp dụng đối với M và lí do chị từng được quyển dụng biên chế là
hoàn toàn không được chấp nhận.
+ Còn ở lí do thứ 2: chị cho rằng mình đang làm hợp đồng không xác
định thời hạn nên không thể bị công ty chấm dứt hợp đồng. Bởi vì đối với
hợp đồng không xác định thời hạn chỉ bị chấm dứt trong trường hợp quy
định tại điểm c khoản 1 Điều 38. Sở dĩ có chuyện này là do chị M không
hiểu rõ bản chất trong hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Chị M kí
với công ti không xác định thời hạn 1995. Đến năm 2007 chị lại kí với công
ty hợp đồng xác định thời hạn. Ở đây có thể chị M đã cho rằng hợp đồng
không xác định thời hạn đã bị hoãn bởi hợp đồng làm việc trong Đà Nẵng
2007. Vì như vậy nên chị M đã chủ động kí hợp đồng 1 năm trong Đà Nẵng
để chỉ phải làm việc trong Đà Nẵng theo hợp đồng 2007.
Điều này cũng bất hợp lí vì khi hợp đồng 2007 được kí thì đã mặc nhiên
chấm dứt hợp đồng không xác định thời hạn với công ty bị chấm dứt. Và
hợp đồng 2007 là một hợp đồng có thời hạn độc lập với hợp đồng 1995 chứ
không phải là thoả thuận của 2 bên để tạm hoãn hợp đồng 1995 theo điểm c
khoản 1 Điều 35 như chị M hiểu.
Như vậy cả 2 lí do chị M đưa ra để cho rằng việc công ty chấm dứt hợp
cho công ty và công ty cũng phải giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc cho anh
D.
10
Vậy anh D phải bồi thường chi phí đào tạo các khoá học 2 tháng cho
công ty do vi phạm cam kết với công ty theo khoản 3 Điều 24. Ở đây chi phí
đào tạo là 3000 USD.
11