Vấn đề thể hiện “cái tôi cá nhân” trong mối quan hệ với tập thể - NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN (PHẦN 1) - Pdf 14

Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
CƠ SỞ II TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÀI KIỂM TRA GIỮA KỲ
MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA
MÁC-LÊNIN (PHẦN 1)
TÊN CHỦ ĐỀ
(Vấn đề thể hiện “cái tôi cá nhân” trong mối quan hệ với tập thể)

Nhóm thực hiện: Nhóm 7 (K31)
Nhóm trưởng: Lê Văn Hiệp
MSSV: 1102015015
Email:
Trang 2
TP.HCM - 01/2012
Trang 3
Đề tài: TÊN CHỦ ĐỀ (DÀN Ý CHI TIẾT
Đề tài thuyết trình : Vấn đề thể hiện “cái tôi cá nhân” trong mối quan hệ với
tập thể (Vận dụng nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, mối quan hệ cặp phạm
trù cái riêng – cái chung).
DANH SÁCH NHÓM VÀ PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ
Nhóm 7
Stt
Họ và tên
MSSV
Nhiệm
vụ
Thái
độ
thực
hiện

Trang 4
NGUYỆT THUÝ kết
Thời gian nộp Nhóm trưởng xác nhận
Phần Mở đầu:
Trang 5

Có bao giờ bạn tự hỏi mình đang ở đâu giữa dòng sống vận động hối hả? Có bao
giờ bạn chăm chú nhìn vào một vì sao giữa triệu triệu vì sao? Và đã bao giờ bạn
nhìn vào Giọt Nước trong ly và nghĩ tới Biển Cả? Bạn nghĩ một Giọt Nước là quá
bé nhỏ so với Đại Dương mênh mông. Bạn không để ý đến nó, và rồi bạn chợt giật
mình khi nhận ra : chính bạn cũng đang là Giọt Nước giữa Biển Cả mênh mông ấy.
Vấn đề con người luôn là chủ đề trung tâm của lịch sử triết học từ cổ đại đến hiện
đại. Trước khi có học thuyết Mác, những cố gắng của các trường phái triết học
nhằm đạt tới sự hiểu biết về con người đều bị hạn chế bởi thế giới quan duy tâm,
nhị nguyên luận hoặc duy vật siêu hình. Với quan điểm duy vật triệt để và phương
pháp biện chứng triết học Mác-Lênin đã tạo ra một bước ngoặc trong việc nhận
thức bản chất con người là gì ? Vị trí, vai trò của con người đối với thế giới như thế
nào? Và mối quan hệ con người trong xã hội, “ cá nhân trong mối quan hệ tập
thể” …
Để có thể hiểu sâu sắc và toàn diện hơn vấn đề này, chúng tôi đã sử dụng nguyên
lý về mối liên hệ phổ biến và cặp phạm trù cái riêng, cái chung của phép biện
chứng duy vật để phân tích và đánh giá một cách đầy đủ và khái quát nhất.
Phần luận:
Trang 6
I. Trước hết, chúng ta tìm hiểu về nguyên lý mối liên hệ phổ biến của phép
biện chứng duy vật trong chủ nghĩa Mác – Lênin.
1. Khái niệm về mối liên hệ, và mối liên hệ phổ biến.
1.1. Mối liên hệ: là sự quy định, tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật,
hiện tượng hay giữa các yếu tố trong cùng một sự vật, hiện tượng với nhau.
1.2. Mối liên hệ phổ biến: là những mối liên hệ tồn tại một cách phổ biến cả trong

- Ở những giai đoạn khác nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự vật thì
cũng có tính chất và vai trò khác nhau. Do đó, không thể đồng nhất tính chất, vị trí
vai trò cụ thể của các mối liên hệ khác nhau đối với mỗi sự vật nhất định. Căn cứ
vào tính chất, đặc trưng của từng mối liên hệ, có thể phân loại thành các mối liên
hệ sau:
o Mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài.
o Mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp
o Mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu
o Mối liên hệ cơ bản và mối liên hệ không cơ bản
o Mối liên hệ cụ thể, mối liên hệ chung, mối liên hệ phổ biến.
3. Ý nghĩa phương pháp luận
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện, quan
điểm lịch sử - cụ thể.
3.1. Từ tính khách quan và phổ biến của các mối liên hệ, đã cho ta thấy
được quan điểm toàn diện trong hoạt động nhận thức và thực tiễn.
Quan điểm toàn diện đòi hỏi trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xem xét
sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ biện chứng qua lại giữa các bộ phận, các yếu
Trang 8
tố, giữa các mặt của sự vật và trong sự tác động qua lại giữ sự vật đó với sự vật
khác. Trên cơ sở đó có nhận thức và hành động đúng với thực tiễn khách quan.
“Muốn thực sự hiểu được sự vật cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các
mặt, tất cả các mối liên hệ và “ quan hệ gián tiếp” của sự vật đó.
Chúng ta không thể làm được điều đó một cách hoàn toàn đầy đủ, nhưng sự cần
thiết phải xem xét tất cả các mặt sẽ đề phòng cho chúng ta khỏi phạm sai lầm và sự
cứng nhắc”(V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1976, t.42,
tr.384)
Đối lập với quan điểm biện chứng toàn diện thì quan điểm siêu hình xem xét sự
vật, hiện tượng một cách phiến diện. Nó không xem xét tất cả các mặt, các mối liên
hệ của sự vật, hiện tượng; hoặc xem mặt này tách rời mặt kia, sự vật này tách rời
sự vật khác.

sẽ dễ dẫn đến chỉ có thể nhìn sự việc một cách phiến diện, không hoàn chỉnh và chỉ
nhìn thấy sự liên quan bên ngoài một cách sơ sài, mà không đầy đủ.
II. Phân tích vấn đề “ Cái tôi cá nhân trong mối liên hệ tập thể ” dựa trên cặp
phạm trù cái riêng, cái chung trong chủ nghĩa duy vật của Mác - Lênin.
1.Các khái niệm cơ bản:
Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta tiếp xúc với những sự vật, hiện tượng, quá
trình khác nhau; đồng thời, chúng ta cũng thấy giữa chúng ta lại có những mặt
giống nhau như những cái bàn đều được làm từ gỗ, đều có màu sắc, hình dạng nhất
định. Để phản ánh điều đó, phép biện chứng duy vật quan niệm:
1.1. Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một
quá trình riêng lẻ nhất định.
Trang 10
1.2. Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những thuộc tính chung không
những có ở một kết cấu vật chất nhất định, mà còn được lặp lại trong nhiều sự vật,
hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác.
1.3. Cần phân biệt “cái riêng” với “cái đơn nhất”. Cái đơn nhất là phạm trù triết
học dùng để chỉ những nét, những mặt, những thuộc tính chỉ có ở một sự vật,
một kết cấu vật chất nhất định, không lặp lại ở sự vật, hiện tượng, kết cấu vật chất
khác.
Thí dụ, thủ đô Hà Nội là một “cái riêng”, ngoài các đặc điểm chung giống các
thành phố khác của Việt Nam, còn có những nét riêng như phố cổ, có Hồ Gươm,
có những nét văn hóa truyền thống mà chỉ có ở Hà Nội mới có, đó là cái đơn nhất.
2. Mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung.
Trong lịch sử triết học, mối liên hệ giữa cái riêng và cái chung được quan
niệm khác nhau. Theo chủ nghĩa duy tâm, thì đồng nhất thượng đế với cái chung
và cho rằng chỉ có cái chung mới tồn tại độc lập khách quan và là nguồn sản sinh
ra nhiều cái riêng. Đối lập lại với chủ nghĩa trường phái duy tâm, các nhà triết học
như P. Abơla (1079- 1142), Đumxcot (1265- 1308) cho rằng chỉ những sự vật, hiện
tượng tồn tại riêng biệt với những chất lượng riêng của chúng mới là có thực còn
khái niệm cái chung chỉ là sản phẩm của tư duy của con người.

không tồn tại ngoài cái riêng.
- Cần cụ thể thể hóa cái chung trong mỗi điều kiện hoàn cảnh cụ thể, để khắc phục
bệnh giáo điều, máy móc, hoặc cục bộ địa phương, ếch ngồi đáy giếng, phiến
diện…
- Trong quá trình phát triển của sự vật hiện tượng, trong những điều kiện nhất định
“cái đơn nhất” có thể biến thành “cái chung” và ngược lại “cái chung” có thể biến
Trang 12
thành “cái đơn nhất” , nên trong hoạt động thực tiễn có thể và cần phải tạo điều
kiện thuận lợi để “cái đơn nhất” có lợi cho con người trở thành”cái chung” và “cái
chung” bất lợi trở thành “cái đơn nhất”.
4. Liên hệ với đề tài : “ cái tôi cá nhân trong mối quan hệ tập thể” dựa trên cặp
phạm trù cái riêng cái chung:
Trong một “tập thể” có nhiều “cá nhân” và mỗi “cá nhân” đó có thể là một
“gam màu” cho “tập thể”, đôi khi có sự khác biệt giữa mỗi cá nhân ( ở đây “cá
nhân” là cái đơn nhất) chính sự khác biệt đó sẽ giúp cho ta phân biệt được giữa
một “tập thể này” với một “tập thể khác” thông qua từng “cá nhân” trong “tập thể”
đó”. Tập thể” và “cá nhân” nhìn bề ngoài là hai chỉnh thể tách biệt nhau. Thế
nhưng, chúng lại là hai vấn đề liên quan mật thiết với nhau. Chúng không thể tách
rời nhau được, thiếu một trong hai nhân tố đó sẽ khó đánh giá một vấn đề, mà vấn
đề ở đây là mối liên hệ giữa “cái tôi cá nhân” và “tập thể”.
III. Những biểu hiện cụ thể của mối quan giữa cá nhân và tập thể trong cuộc
sống xưa và nay.
1.Định nghĩa “cái tôi cá nhân”:
Trong phân tâm học, "cái tôi" là phần cốt lõi của tính cách liên quan tới thực
tại và chịu ảnh hưởng của tác động xã hội. Theo Sigmund Freud, "cái tôi" cùng với
"nó" và "cái siêu tôi" là ba miền của tâm thức. "Cái tôi" được hình thành ngay từ
khi con người sinh ra và qua tiếp xúc với thế giới bên ngoài, "cái tôi" học cách cư
xử sao cho kiểm soát được những ham muốn vô thức không được xã hội chấp
nhận. "Cái tôi" có vai trò trung gian hòa giải giữa những ham muốn vô thức và
những tiêu chuẩn nhân cách và xã hội.

con người.
Trang 14
- Các quan hệ xã hội không phải chỉ xét ở quan hệ ở từng hình thái xã hội
riêng biệt mà còn khái quát những quan hệ xã hội chung thể hiện qua từng chế độ ,
thời đại riêng biệt. Quan hệ xã hội vừa diển ra theo chiều ngang ( đương đại) vừa
theo chiều dọc lịch sử. Các quan hệ xã hội quy định bản chất con người bao gồm
cả quan hệ xã hội hiện tại và quan hệ xã hội truyền thống, bởi trong lịch sử của
mình con người bắt buộc phải kế thừa di sản của những thế hệ trước nó.
Trong lĩnh vực văn hóa tình thần có những truyền thống thúc đẩy con người
vươn lên, nhưng cũng có những truyền thống “đè nặng lên những con người đang
sống”. Do đó khi xem xét bản chất con người không được tách rời hiện tại và quá
khứ.
- Các bản chất không phải là cái duy nhất, mà là bộ phận chi phối trong
chính thể cụ thể phong phú đa dạng. Bản chất và thể hiện bản chất của con người
có khác biệt. Không hiểu bản chất chung của con người hay quy tất cả những gì
của con người để chỉ vào bản chất là sai lầm. Bản chất một con người cụ thể là
tổng hòa các quan hệ xã hội “ vốn có” của con người đó và quy định những đặc
điểm cơ bản chi phối mọi hành vi của người đó. Còn tất cả những hành vi của
người đó bộc lộ ra bên ngoài là những hiện tượng biểu hiện bản chất của họ. Sự thể
hiện bản chất của con người không phải theo con đường thẳng , trực tiếp, mà
thường là gián tiếp, quanh co qua hàng lọat mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội ,
giữa kinh nghiệm và nhận thức khoa học, giữa lợi ích trước mắt và lâu dài, giữa
bản năng sinh vật và họat động có ý thức giữa di truyền tự nhiên và văn hóa xã
hội…Trong diễn biến đầy mâu thuẩn đó, bản chất thể hiện ra như một xu hướng
chung , xét đến cùng mới thấy sự chi phối của xu hướng đó.
Con người sống dựa vào tự nhiên như hầu hết mọi sinh vật khác. Nhưng con
người sở dĩ trở thành chủ thể của tự nhiên chính là ở chỗ nó không chỉ sống dựa
vào tự nhiên, Ph.Ăngghen là người chỉ ra được bước chuyển biến từ vượn thành
người là nhờ có lao động. Quá trình con người cải tạo tự nhiên cũng là quá trình
Trang 15

kỳ lịch sử cụ thể đó.
Nếu như cá nhân là khái niệm phản biện sự khác nhau giữa cá thể với giống
loài, sự khác biệt biểu hiện ra bên ngoài của cá nhân này với cá nhân khác thì nhân
cách là khái niệm để chỉ sự khác biệt những yếu tố bên trong riêng biệt với những
hoạt động sống của nó, của cá nhân này với cá nhân khác. Nhân cách là nội dung,
trạng thái, tính chất, xu hướng bên trong riêng biệt của mỗi cá nhân. Đó là thế giới
của “cái tôi” do tác động tổng hợp của các yếu tố cơ thể và xã hội riêng biệt tạo
nên. Mỗi cá nhân “ dấn thân” vào cuộc sống, tiếp thu và chuyển những giá trị văn
hoá của xã hội vào bên trong mình, thực hiện quá trình so sánh lọc bỏ, tự đánh giá,
tự tạo nên thế giới riêng biệt của mình. Đây là quá trình kép, xã hội hoá cá nhân và
cá nhân hoá xã hội, cá nhân xã hội và cá nhân nhân cách là thống nhất. Với nhân
cách riêng, mỗi cá nhân có khả năng ý thức về mình, làm chủ cuộc sống của mình,
tụ lựa chọn chức năng, niềm vui và trách nhiệm hoạt động cụ thể trong xã hôi.
Vấn đề cá nhân, nhân cách phải giải quyết một cách khoa học, nếu có
phương hướng triết học rõ ràng giải quyết mối quan hệ cá nhân và xã hội. Mối
quan hệ này được giải quyết liên tiếp thông qua tập thể cơ sở. Nó tạo thành một bộ
phận hết sức quan trọng trong một cơ thể xã hội hoàn chỉnh. Cá nhân có nhân cách
gia nhập vào tập thể như là bộ phận của cái toàn thể, thể hiện bản sắc của mình
thông qua hoạt động tập thể, nhưng không “hoà tan” vào tập thể. Tuỳ theo tính chất
và khả năng giải quyết những mâu thuẫn đó mà mối quan hệ này có thể duy trì phát
triển hoặc tan rã.
Mối quan hệ cá nhân và xã hội là mối quan hệ biện chứng, tác động nhau,
trong đó xã hội giữ vai trò quyết định. Nền tảng của mối quan hệ này là quan hệ lợi
ích. Thực chất của việc tổ chức trật tự xã hội là sắp xếp các quan hệ lợi ích sao cho
khai thác được cao nhất khả năng của mỗi thành viên vào các quá trình kinh tế, xã
Trang 17
hôi và thúc đẩy quá trình phát triển lên trình độ cao hơn. Xã hội là điều kiện, là
môi trường, là phương thức để lợi ích cá nhân được thực hiện. Cá nhân không chỉ
là sản phẩm của xã hội mà còn là chủ thể của sự phát triển xã hội, của hoạt động
sản xuất và hoạt động xã hội khác. Với tư cách là chủ thể của lịch sử, cá nhân hành

Sức mạnh quần chúng nhân dân là sức mạnh vật chất và mọi sự vận động lịch sử
đều do quần chúng trực tiếp tạo ra. Nói quần chúng nhân dân quyết định lịch sử là
nói tới sức mạnh này.
Quần chúng nhân dân là lực lượng cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội.
Cách mạng là ngày hội của quần chúng, là sự nghiệp của quần chúng. Cuộc đấu
tranh của quần chúng nhân dân lao động là lực lượng phát triển của xã hội.
Quần chúng nhân dân đóng vai trò to lớn trong sự phát triển văn hoá, nghệ
thuật và khoa học. Trong lịch sử, do phân công lao động dẫn đến tạo ra một lớp
người chuyên về sang tạo tinh thần tư tưởng, những hoạt động này của họ cũng chỉ
diễn ra được trên cơ sở đời sống tinh thần và sang tạo của quần chúng. Quần chúng
nhân dân là người trực tiếp sang tạo ra văn học nghệ thuật. Hoạt động thực tiễn của
quần chúng nhân dân là cái gốc là nguồn vô tận cho văn học nghệ thuật sáng tạo,
đồng thời quần chúng nhân dân còn là người thưởng thức, phê phán, kiểm nghiệm
các giá trị đó. Trong lịch sử phát triển của xã hội, không có văn học dân gian thì
cũng không thể có văn học bác học, không có kinh nghiệm của đa số người lao
động thì cũng không có các nhà khoa học. Đây là hai mặt không thể tách rời của
đời sống tinh thần trong xã hội.
Hoạt động thực tiễn của quần chúng nhân dân là cái nôi, là cơ sở cho sự hình
thành các nhân vật ưu tú trong xã hội. Sức mạnh và tài năng của lãnh tụ cũng chỉ
Trang 19
được phát huy trong phong trào quần chúng, gắn bó mật thiết với quần chúng. Một
nhân dân anh hùng, một đại chúng cách mạng năng động sẽ là cơ sở để sản sinh ra
những anh hung, những lãnh tụ tiêu biểu của mình.
Như vậy, xét tất cả các mặt trong đời sống xã hội từ kinh tế đến chính trị, từ
thực tiễn đến tinh thần tư tưởng, khi quần chúng nhân dân đóng vai trò quyết định
trong lịch sử. Song, theo quan niệm duy vật lịch sử, quần chúng nhân dân và cá
nhân lãnh tụ trong lịch sử không tách rời nhau. Cá nhân lãnh tụ là những người có
năng lực và phẩm chất tiêu biểu nhất trong phong trào quần chúng, được quần
chúng tin yêu.
Công lao to lớn của C.Mác, Ph.Ăngghen, VI. Lênin và lãnh tụ vô sản vĩ đại

quan niệm cho rằng trước hết phải vì cuộc sống của chính mình, vì lợi ích của
riệng mình. Vì vậy trước tập thể nhiều cá nhân đã không đóng góp hết mình và dựa
dẫm ỉ lại vào số đông theo suy nghĩ “Nước nổi thì bèo nổi”. Họ tìm cách để thu
vào túi mình những nguồn lợi lớn nhất để ổn định cuộc sống gia đình và hưởng
thụ, họ thờ ơ trước những thay đổi của đơn vị mình, thờ ơ trước những khó khăn
của mọi người xung quanh. Họ không dám đấu tranh trước những cái sai, cái xấu,
bàng quan và vô ưu vì sợ liên luỵ đến mình, ảnh hưởng đến danh tiếng, địa vị, thu
nhập… Có thể nói mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể trong cuộc sống ngày nay
có phần xấu đi, dường như mọi người chỉ còn làm việc theo trách nhiệm và làm
vừa đủ, vừa đúng thậm chí chưa hoàn thành công việc của mình… Điển hình như
một số vụ việc gần đây bị cơ quan điều tra phanh phui như Huỳnh Ngọc Sĩ – giám
đốc dự án xây dựng đại lộ đông tây lợi dụng chức vụ ăn hối lộ làm thất thoát của
nhà nước nhiều tỉ đồng…
3.4. Trước hiện trạng đó mỗi cá nhân chúng ta cần phải làm gì?
Trang 21
Xác định lại quan điểm đúng đắn về mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể,
nêu cao tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, tinh thần trách nhiệm của mỗi người
trong tổ chức, đơn vị mình công tác và sinh hoạt. Tập thể phải bảo vệ quyền lợi của
mỗi cá nhân, bênh vực cá nhân, động viên, khích lệ họ vượt lên mọi hoàn cảnh để
có nhiều đóng góp vì lợi ích chung…
Trong cơ chế hoà nhập ngày nay cá nhân nói riêng, đơn vị, cơ quan nói
chung cần kịp thời nắm bắt cơ hội hoà nhập nhưng trong sự hoà nhập đó không có
sự hoà tan, trong cái riêng có những cái chung và ngược lại. Tất cả vì tinh thần
đoàn kết, hoà bình cùng phát triển và tiến bộ…
Phần kết:
Không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ thể trong mỗi giai đoạn phát
triển nhất định của xã hội. Do vậy, bản chất con người trong mối quan hệ với điều
kiện lịch sử xã hội luôn luôn vận động, biến đổi cũng không phải thay đổi cho phù
hợp. Bản chất con người không phải là một hệ thống đóng kín, mà là hệ thống mở,
tương ứng với điều kiện tồn tại của con người. Mặc dù là “tổng hoà các quan hệ xã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status