ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN
CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
Biên soạn: Thanh Phạm
Lớp
: Ngôn ngữ Anh 3.K15 Đại học Hải Phòng
Email
:
Facebook: />Nghiêm cấm sao chép dưới mọi hình thức
Câu 1: Vấn đề cơ bản của triết học là gì? Tại sao mối quan hệ giữa tư duy và
tồn tại lại trở thành vấn đề cơ bản của triết học?
Ý 1: Nội dung vấn đề cơ bản của triết học
Ph.Ăngghen cho rằng: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là
của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại”
Mặt thứ nhất, (mặt bản thể luận) trả lời câu hỏi: trong mối quan hệ giữa tư
duy và tồn tại, giữa ý thức và vật chất thì cái nào có trước, cái nào có
sau,cái nào quyết định cái nào?
Mặt thứ hai, (mặt nhận thức luận) trả lời câu hỏi: tư duy con người có khả
KHTN và trong đời sống hàng ngày:
Vật chất trong KHTN, trong đời sống hàng ngày là các dạng vật chất cụ thể, tồn tại
hữu hình, hữu hạn; có sinh ra có mất đi, chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác.
Chúng bao gồm vật chất dưới dạng hạt, trường, trong TN, XH, dưới dạng vĩ mô, vi
mô rất phong phú đa dạng.
Vật chất với tính cách là 1 phạm trù TH tức là vật chất đã được khái quát từ tất cả
các sinh vật cụ thể. Do đó, nó tồn tại vô cùng vô tận, không có khởi đầu, không có
kết thúc, không được sinh ra, không bị mất đi; đây là phạm trù rộng nhất, vì thế
không thể quy nó vào các vật cụ thể để hiểu nó.
Vật chất là “thực tại khách quan”, “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”. Nghĩa là
vật chất là tất cả những gì tồn tại thực, tồn tại khách quan ở bên ngoài, độc lập với
cảm giác, ý thức con người, không lệ thuộc vào cảm giác, ý thức. Đây là thuộc tính
quan trọng nhất của vật chất, là tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất, cái gì
không là vật chất. Điều đó khẳng định vật chất có trước, cảm giác ý thức có sau,
vật chất là nguồn gốc khách quan của cảm giác, của ý thức.
Vật chất tồn tại không huyền bí mà nó là “thực tại khách quan được đem lại cho
con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản
ánh“. Điều này khẳng định con người có khả năng nhận thức thế giới vật chất, chỉ
có những điều chưa biết chứ không thể có những điều không biết.
b. Ý nghĩa phương pháp luận
Định nghĩa này đã bao quát cả 2 mặt của vấn đề cơ bản của TH, thể hiện rõ lập
trường DV biện chứng. Lenin đã giải đáp toàn bộ vấn đề cơ bản của triết học đứng
trên lập trường của Chủ nghĩa duy vật biện chứng.
- Coi vật chất là có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc khách quan của cảm
giác, ý thức, ý thức con người là sự phản ánh của thực tại khách quan đó. Con
người có khả năng nhận thức thế giới.
- Định nghĩa này bác bỏ quan điểm duy tâm về phạm trù vật chất. (Vật chất có
trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức).
- Định nghĩa này khắc phục tính chất siêu hình, máy móc trong quan niệm về vật
chỉ rõ nguồn gốc tự nhiên của ý thức.
Ý thức là hình thức cao nhất của sự phản ánh thế giới hiện thực. Ý thức chỉ nẩy
sinh ở giai đoạn phát triển cao của thế giới vật chất cùng với sự xuất hiện con
người. Ý thức là ý thức con người, nằm trong con người, không thể tách rời
con người.
Như vậy, bộ óc con người và sự tác động của thế giới xung quanh lên bộ óc,
đó là nguồn gốc tự nhiên của ý thức.
b) Nguồn gốc xã hội của ý thức cũng có 2 yếu tố đó là: lao động và ngôn ngữ.
- Lao động là hoạt động có mục đích sáng tạo của con người, sử dụng công cụ
sản xuất tác động vào các đối tượng của tự nhiên để sản xuất ra của cải vật
chất nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển xã hội.
Nhờ có lao động, con người tác động vào thế giới khách quan, bắt chúng bộc
lộ những thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động của mình thành
những hiện tượng nhất định và các hiện tượng ấy tác động vào óc người hình
thành dần những tri thức về tự nhiên và xã hội.
Nhờ lao động mà các bộ phận của cơ thể, các giác quan, khí quan của con
người được hoàn thiện trong quá trình phản ánh thế giới xung quanh.
Lao động góp phần cải tạo chế độ dinh dưỡng, làm cho bộ não và hệ thần kinh
phát triển
Như vậy, ý thức được hình thành chủ yếu do hoạt động cải tạo thế giới khách
quan của con người làm biến đổi thế giới đó. Nên nguồn gốc cơ bản của ý
thức, tư tưởng là sự phản ánh thế giới khách quan vào đầu óc con người trong
quá trình lao động.
Nhưng bản thân quá trình lao động ngay từ đầu đã mang tính tập thể, tính xã
hội. Vì vậy xuất hiện nhu cầu trao đổi kinh nghiệm lao động và trao đổi tư tưởng
tình cảm. Chính nhu cầu đó đòi hỏi xuất hiện ngôn ngữ.
- Ý thức là sản phẩm lịch sử của sự phát triển xã hội nên về bản chất là có tính xã
hội.
Câu 4: Phân tích cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử
cụ thể.
Cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử cụ thể là nguyên lý về
mối liên hệ phổ biến.
Phân tích nguyên lý về mối liên hệ phổ biến:
-Khái niệm:
+Mối liên hệ là khái niệm chỉ sự tác động qua lại,sự quyết định và sự chuyến hóa
lẫn nhau giữa các mặt, các yếu tố trong sự vật,hiện tượng hay giữa các sự vật,hiện
tượng với nhau.VD: mối liên hệ giữa cô giáo và học sinh,…
+Mối liên hệ phổ biến là những mối liên hệ chung nhất, chi phối mọi sự vật hiện
tượng hay giữa các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan.Đó là mối quan hệ
giữa: các mặt đối lập, lượng và chất, khẳng định và phủ định, cái chung và cái
riêng, bản chất và hiện tượng.VD: LIÊN HỆ :Thực vật và động vật có mối liên hệ
với nhau trong quá trình trao đổi chất
Giữa các mặt trong cùng một sự vật liên hệ nhau.
Ví dụ: các bộ phận trong cơ thể người. các địa phương trong 1 nước liên hệ nhau.
Giữa các quá trình phát triển của sự vật cũng liên hệ với nhau.
Ví dụ: Quá trình phát triển của con người theo tuổi tác, theo từng thời kỳ phát
triển.
Mối liên hệ có tính nhiều bề vô cùng phong phú đa dạng. Cụ thể là liên hệ bên
trong, liên hệ bên ngoài, liên hệ gián tiếp, trực tiếp , liên hệ cơ bản, không cơ bản,
chủ yếu và không chủ yếu.
-> Lưu ý: Riêng trong lĩnh vực xã hội: Có rất nhiều MỐI LIÊN HỆ khác nhau như:
MỐI LIÊN HỆ : KINH TẾ , CHÍNH TRỊ , XÃ HỘI , VĂN HÓA , Dân Tộc, Tôn
giáo, huyết thống, làng xã...
-Tính chất:
Phát triển là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có của sự
vật; là quá trình thống nhất giữa phủ định những nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng
cao nhân tố tích cực từ sự vật cũ trong hình thái mới của sự vật.
b. Tính chất cơ bản của sự phát triển
Các quá trình phát triển đều có các tính chất cơ bản sau:
Tính khách quan của sự phát triển biểu hiện trong nguồn gốc của sự vận động và
phát triển. Đó là quá trình bắt nguồn từ bản thân sự vật, hiện tượng; là quá trình
giải quyết mâu thuẫn trong sự vật, hiện tượng đó. Vì vậy, phát triển là thuộc tính
tất yếu, khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn con người.
Tính phổ biến của sự phát triển được thể hiện ở các quá trình phát triển diễn ra
trong mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy; trong tất cả mọi sự vật, hiện tượng
và mọi quá trình; trong mọi giai đoạn phát triển của sự vật, hiện tượng.
Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển được thể hiện ở chỗ: phát triển là
khuynh hướng chung của mọi sự vật, hiện tượng song trong mỗi sự vật, hiện tượng
có quá trình phát triển không giống nhau. Sự vật, hiện tượng tồn tại trong thời gian,
không gian khác nhau có sự phát triển khác nhau.
Trong quá trình phát triển, sự vật còn chịu sự tác động của các sự vật, các hiện
tượng hay quá trình khác, của nhiều yếu tố và điều kiện lịch sử cụ thể, sự thay đổi
của các yếu tố tác động đó có thể làm thay đổi chiều hướng phát triển của sự vật.
c. Ý nghĩa phương pháp luận
Nguyên lý về sự phát triển là cơ sở lý luận khoa học để định hướng việc nhận thức
và cải tạo thế giới. Trong mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn cần phải: Xem xét
sự vật và hiện tượng đòi hỏi phải xét sự vật trong sự phát triển, trong “sự tự vận
động”, trong sự biến đổi của nó”.
- Luôn đặt sự vật, hiện tượng theo khuynh hướng đi lên. Phát triển là quá trình biện
chứng, bao hàm tính thuận, nghịch, đầy mâu thuẫn vì vậy, phải nhận thức được
tính quanh co, phức tạp của sự vật, hiện tượng trong quá trình phát triển.
- Xem xét sự vật, hiện tượng trong quá trình phát triển cần phải đặt quá trình đó
trong nhiều giai đoạn khác nhau, trong mối liên hệ biện chứng giữa quá khứ, hiện
đề tồn tại. Xét về phương diện nào đó giữa các mặt đối lập bao giờ cũng có một số
yếu tố giống nhau. Sự thống nhất của các mặt đối lập bao hàm sự đồng nhất của
nó.
Khái niệm sự đấu tranh giữa các mặt đối lập dùng để chỉ khuynh hướng tác động
qua lại, bài trừ, phủ định nhau của các mặt đối lập. Hình thức đấu tranh của các
mặt đối lập rất phong phú tùy thuộc vào tính chất, mối quan hệ và điều kiện cụ thể
của sự vật, hiện tượng.
Quá trình thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập tất yếu dẫn đến sự chuyển
hóa giữa chúng. Sự chuyển hóa của các mặt đối lập diễn ra hết sức phong phú, đa
dạng tùy thuộc vào tính chất của các mặt đối lập cũng như tùy thuộc vào những
điều kiện lịch sử cụ thể
Trong sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, sự đấu tranh giữa chúng là
tuyệt đối, sự thống nhất giữa chúng là tương đối, có điều kiện, tạm thời; trong sự
thống nhất đã có sự đấu tranh, đấu tranh trong tính thống nhất của chúng.
Vai trò của mâu thuẫn đối với quá trình vận động và phát triển của sự vật: Sự liên
hệ, tác động và chuyển hóa giữa các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự vận
động và phát triển trong thế giới. “Sự phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt
đối lập”.
Theo quan điểm biện chứng thì sự vật nào cũng là một thể thống nhất của các mặt
đối lập, tức là, các mặt có xu hướng, khuynh hướng trái ngược nhau. Chính sự tác
động lẫn nhau giữa các mặt đối lập tạo nên mâu thuẫn sự vật. Khi nói mâu thuẫn
biện chứng là nói đến mâu thuẫn tất yếu của những mặt trái ngược nhau, ví dụ,
điện có cực âm><cực dương, nông dân >< địa chủ, giai cấp TB>< giai cấp vô sản,
sinh vật thì có sự đồng hoá và dị hoá, kinh tế thị trường có cung và cầu, hàng và
tiền… Trong các mặt đối lập, chúng vừa đấu tranh với nhau (với nghĩa tác động
theo xu hướng trái ngược nhau) nhưng các mặt đối lập lại là thống nhất với nhau.
Thống nhất là tồn tại không tách rời nhau, làm điều kiện cho nhau tồn tại, phát
triển, có mặt này thì mới có mặt kia. Thống nhất còn bao hàm thâm nhập nhau,
lực bên trong của sự phát triển thì hai mặt đối lập đó mới hình thành bước đầu của
một mâu thuẫn . Khi hai mặt đối lập của một mâu thuẫn phát triển đến xung đột
gay gắt , nã biến thành độc lập . sự vật cũ mất đi , sự vật mới hình thành . Sau khi
mâu thuẫn được giải quyết sự thống nhất của hai mặt đối lập cũ được thay thế bởi
sự thống nhất của hai mặt đối lập mới , hai mặt đối lập mới lại đấu tranh chuyển
hoá tạo thành mâu thuẫn . Mâu thuẫn được giải quyết , sự vật mới xuất hiện .
Cứ như thế đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho sự vật biến đổi không ngõng tõ
thấp đến cao . Chính vì vậy Lênin khẳng định “sự phát triển là một cuộc đấu tranh
của các mặt đối lập “.
Sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho các mặt đối lập chuyển
hoá lẫn nhau. Đó là quá trình thẩm thấu những nhân tố, những thuộc tính của nhau.
Sù chuyển hoá này là kết quả của những tác động qua lại thường xyên giữa các mặt
đối lập là do sù thống nhất và đấu tranh giữa cháng. Sự chuyển hoá có thể diễn ra
dưới hai hình thức chuyển hóa từng phần và chuyển hoá toàn bộ .
Các mặt đối lập luôn tác động qua lại với nhau và sự tác động qua lại giữa chúng
tạo thành mâu thuẫn biện chứng của sự vật. Mâu thuẫn biện chứng là mâu thuẫn
của các mặt đấu lập vừa thống nhất vừa đấu tranh lẫn nhau. Triết học Mác - Lênin
cho rằng: ”Sự vật nào cũng là sự tổng hợp của những mâu thuẫn , vị trí các mâu
thuẫn không giống nhau(có mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài, cơ bản
và không cơ bản, chủ yếu và thứ yếu, trong xã hội có mâu thuẫn đối kháng và
không đối khang…. ). Mọi mâu thuẫn đều có quá trình phát sinh phát triển và biến
hoá. Chính vì vậy phân tích cụ thể mâu thuẫn là điều kiện đẻ nhận thức đúng sự
vật.
Câu 7: Phân tích MQH biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất. Sự vận đụng mối quan hệ này ở nước ta trong quá trình giai đoạn đổi
mới hiện nay.
Lực lượng sản xuất là khái niệm dùng để chỉ việc con người chinh phục giới tự
nhiên bằng tất cả sức mạnh hiện thực của mình trong quá trình thực hiện sự sản
độ phát triển của lực lượng sản xuất không đi đôi với tính chất xã hội hoá của nó .
Tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất phản ánh khả năng chinh phục giới tự
nhiên của con người : khả năng này chỉ đạt tới đỉnh cao khi quan hệ sản xuất phù
hợp với trình độ phát triển của lượng sản xuất .
Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lượng sản xuất là một
trạng thái trong đó các yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất tạo địa bàn đầy đủ cho
lực lượng sản xuất phát triển . Chỉ khi nào cả ba mặt của quan hệ sản xuất thích
ứng với trình độ của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện tốt nhất cho việc sử dụng và
kết hợp giữa lao động và tư liệu sản xuất thì sẽ tạo ra cơ sở phát triển hết khả năng
của ực lượng sản xuất .
Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ mới với tính chất xã hội hoá ở
mức cao hơn sẽ xuất hiện mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
sẽ chuyển thành không phù hợp . Mâu thuẫn càng trở nên gay gắt tất yếu sẽ dẫn tới
việc xã hội phải xoá bỏ bằng cách này hay cách khác quan hệ sản xuất cũ và thay
bằng quan hệ sản xuất mới, phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất đã thay
đổi, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển . Điều này sẽ dẫn tới sự diệt vong
của phương thức sản xuất cũ và sự ra đời của phương thức sản xuất mới .
Như vậy, lượng sản xuất quyết định sự hình thành và phát triển của quan hệ sản
xuất, một khi lượng sản xuất đã biến đổi thì sớm hay muộn thì quan hệ sản xuất
cũng phải biến đổi cho phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất mới .
Tuy vậy, quan hệ sản xuất cũng thể hiện tính độc lập tương đối với lượng sản
xuất . Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất, quy định mục đích xã
hội của sản xuất, tác động đến khuynh hướng phát triển của công nghệ . Tren cơ sở
đó hình thành một hệ thống những yếu tố thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của
một lực lượng sản xuất . Khi quan hệ sản xuất phù hợp, phát triển hợp lý và đồng
bộ với lực lượng sản xuất thì sẽ thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất,
trong trường hợp ngược lại, quan hệ sản xuất sẽ kìm hãm lực lượng sản xuất phát
triển . Nếu quan hệ sản xuất lạc hậu hơn hoặc “tiên tiến” hơn một cách giả tạo cũng
* Cơ sở hạ tầng (CSHT): là toàn bộ những QHSX hợp thành cơ cấu kinh tế của
một hình thái kinh tế – xã hội nhất định.
Khái niệm CSHT phản ánh chức năng xã hội của các QHSX với tư cách là cơ sở
kinh tế của các hiện tượng xã hội. CSHT của một xã hội cụ thể bao gồm những
QHSX thống trị, những QHSX là tàn dư của xã hội trước và những QHSX là mầm
mống của xã hội sau. Trong một CSHT có nhiều thành phần kinh tế, nhiều QHSX
thì kiểu QHSX thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chủ đạo, chi phối các thành phần
kinh tế và các kiểu QHSX khác; nó quy định và tác động trực tiếp đến xu hướng
chugn của toàn bộ đời sống kinh tế xã hội. Trong xã hội có đối kháng giai cấp, tính
chất giai cấp của cơ sở hạ tầng là do kiểu QHSX thống trị quy định. Tính chất đối
kháng giai cấp và sự xung đột giai cấp bắt nguồn từ ngay trong CSHT.
* Kiến trúc thượng tầng (KTTT): là toàn bộ những quan điểm tư tưởng xã hội,
những thiết chế tương ứng và những quan hệ nội tại của thượng tầng hình thành
trên một cơ sở hạ tầng nhất định.
KTTT của xã hội có đối kháng giai cấp bao gồm: hệ tư tưởng và thể chế giai cấp
thống trị, tàn dư của các quan điểm của xã hội trước để lại; quan điểm và tổ chức
của các giai cấp mới ra đời; quan điểm và tổ chức của các giai cấp trung gian. Tính
chất hệ tư tưởng của giai cấp thống trị quyết định tính chất cơ bản của KTTT trong
một hình thái xã hội nhất định. Trong đó bộ phận mạnh nhất của KTTT là nhà
nước – công cụ của giai cấp thống trị tiêu biểu cho chế độ xã hội về mặt chính trị,
pháp lý. Chính nhờ có nhà nước mà tư tưởng của giai cấp thống trị mới thống trị
được toàn bộ đời sống xã hội.
1. Quan điểm Macxit về mối quan hệ biện chứng lý luận giữa CSHT và KTTT:
- CSHT: là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ những QHSX đang tồn tại trong một giai
đoạn lịch sử nhất định của xã hội tạo thành cơ cấu nền tảng kinh tế của xã hội đó.
+ 3 khả năng tồn tại của CSHT trong xã hội:
> CSHT đồng nhất với 1 kiểu QHSX.
> CSHT đồng nhất với 2 kiểu QHSX.
cách tổ chức bộ máy hành chính công; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ, công chức.
- Tuy nhiên, tốc độ CCHC còn chậm, chưa nhất quán, hiệu quả còn thấp. Nền hành
chính có chuyển biến song vẫn tụt hậu so với tốc độ và yêu cầu cải cách của nền
hành chính hiện đại và hội nhập kinh tế quốc tế. Tình trạng chung là nhiều cán bộ
lãnh đạo và cán bộ công chức ngại thực hiện cơ chế một cửa, do ngại bị bó buộc,
ngại bị rút bớt quân số và lợi ích cục bộ… Mặt khác, trình độ công chức, cán bộ ở
bộ phận tiếp nhận và trả kết quả còn nhiều bất cập, tỷ lệ đạt chuẩn thấp, nhiều nơi
chỉ đạt 20-30%. Trên thực tế, tuy là “một cửa” nhưng vẫn còn nhiều “ổ khóa” do
không ít cán bộ, công chức tiêu cực, nhũng nhiễu tạo ra nên người dân chưa hết
phiền hà. Trong khi đó, sự chỉ đạo thực hiện cải cách lại thiếu kiên quyết và nhất
quán ở các cấp, các ngành; tiền lương mới chỉ đáp ứng được 1/3 nhu cầu đời sống
của cán bộ, công chức. Hội nghị đã tập trung thảo luận các giải pháp đẩy mạnh
CCHC giai đoạn 2, từ 2006-2010.
- Ở Việt Nam, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước được bắt đầu từ năm 1986,
tính đến nay đã gần 20 năm. Trong khoảng thời gian đó, đồng thời với việc đổi mới
về kinh tế thì cải cách hành chính cũng được tiến hành. Cuộc cải cách hành chính
được thực hiện từng bước thận trọng và đã thu được nhiều kết quả rất đáng khích
lệ. Cải cách hành chính đang thể hiện rõ vai trò quan trọng của mình trong việc đẩy
nhanh so pat triển đất nước.
Câu 9: Vì sao sự thay thế nhau của các hình thái kinh tế xã hội là quá trình
lịch sử tự nhiên.
Trả lời:
* Sự phát triển của hình thái kinh tế xã hội là một quy luật lịch sử tự nhiên vì:
Lịch sử phát triển xã hội qua nhiều giai đoạn từ thấp đến cao tương ứng với mỗi
giai đoạn ấy là một hình thái kinh tế xã hội.
Sự vận động thay thế nhau của các hình thái kinh tế xã hội trong lịch sử đều do tác
động của các quy luật khách quan đó là quá trình lịch sử tự nhiên của xã hội.
+Ý thức xã hội có tính kế thừa,ý thức xã hội mới có tính kế thừa ý thức xã hội cũ,
sau đó bổ sung hoàn chỉnh cho phù hợp với tồn tại đạ phát triển.
+ Các hình thái ý thức xã hội như triết học,đạo đức,nghệ thuật có tác động qua lại
với nhau,trong đó ý thức chính trị có vai trò quan trọng nhất.
+Ýthức xã hội tác động trở lại tồn tại xã hội.
+ Ýthức xã hội phản ánh sai tồn tại xã hội sẽ kìm hãm sự phát triển của tồn tại xã
hội thông qua hoạt động của con người,trong đó thực tiễn đóng vai trò quyết định.
Ví dụ :
Trong chế độ Cộng sản nguyên thủy do lực lượng sản xuất còn thấp, công cụ sản
xuất quá thô sơ (gậy gộc, hòn đá, cung tên) nên người nguyên thủy buộc phải thực
hiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất (rừng cây, con suối), phải sống tập đoàn
mới có thể kiếm được thức ăn, chống thú dữ, tất cả của cải làm ra được chia đều,
dùng hết không còn dư thừa, nên không thể có sự chiếm hữu làm của riêng, không
có tình trạng người bóc lột người.
Nhưng khi công cụ bằng kim loại xuất hiện, lực lượng sản xuất có bước phát triển
mới. Sản phẩm làm ra đủ mức sống tối thiểu và có dư ra đôi chút, đã tạo điều kiện
cho sự xuất hiện chế độ tư hữu, mà hình thức đầu tiên là chế độ chiếm hữu nô lệ, tù
binh và các thành viên nghèo đói trong xã hội biến thành nôlệ. Người nắm tư liệu
sản xuất, trở thành chủ nô.
Thời kỳ đầu, quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ rất thích hợp, nó phá vỡ sự trói
buộc con người trong các thị tộc, bộ lạc, tạo điều kiện cho sự phân công lao động
(chăn nuôi, trồng trọt và sau này là thủ công nghiệp). Chính sự hợp tác giản đơn
này của lao động nô lệ đã cho phép tạo ra những công trình đồ sộ (Kim tự tháp Ai
Câp , Kênh đào Xuê , nhà hát, Đấu trường La mã.....) lao động trí óc tách khỏi lao
động chân tay thúc đẩy sự phát triển rực rỡ của thi ca, điêu khắc, khoa học, triết
học thời cổ đại.
Ý nghĩa của vấn đề này đối với nước ta hiện nay:
Thứ nhất, tồn tại xã hội đóng vai trò quyết định ý thức xã hội, tức mặt đời sống
và thực hành ý thức xã hội. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta cần tích cực tuyên truyền
các chủ trương, đường lối, chính sách và pháp luật của Nhà nước vào trong đời
sống xã hội.
Câu 11: Trình bày nguồn gốc và đặc trưng của giai cấp.
1. Nguồn gốc: Phát hiện mới của chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là sự tồn tại giai
cấp, đối kháng và đấu tranh giai cấp mà là đã chỉ ra sự tồn tại giai cấp, đối kháng
và đấu tranh giai cấp không phải là bản tính của nhân loại, là tiền định mà chỉ là
hiện tượng có tính lịch sử, gắn với những giai đoạn lịch sử nhất định của sản xuất,
của lịch sử nhân loại.Nguồn gốc trực tiếp của giai cấp trong xã hội là từ sự phân
hóa xã hội do sự ra đời, tồn tại của chế độ tư hữu đối với những tư liệu sản xuất
chủ yếu của xã hội. Trong điều kiện đó tất yếu làm phát sinh và tồn tại sự phân biệt
địa vị của các tập đoàn người trong quá trình sản xuất, dẫn tới khả năng tập đoàn
người này chiếm đoạt lao động thặng dư của tập đoàn người khác. Tuy nhiên, quá
trình này còn phải gắn với điều kiện lực lượng sản xuất phải phát triển đến một
mức độ nhất định, làm cho năng suất lao động tăng lên khiến cho thời gian lao
động được chia thành thời gian lao động tất yếu và thời gian lao động thặng dư mà
biểu hiện của nó là sự dư thừa tương đối của cải trong cộng đồng xã hội. Nguồn
gốc sâu xa của sự phân hóa giai cấp trong xã hội là do tình trạng phát triển chưa
đầy đủ của lực lượng sản xuất. Khi lực lượng sản xuất phát triển tới mức đầy đủ thì
chính nó lại là nguyên nhân khách quan dẫn đến xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân
về tư liệu sản xuất, do đó xóa bỏ giai cấp, đối kháng và đấu tranh giai cấp trong xã
hội.Con đường hình thành giai cấp có thể diễn ra với những hình thức khác nhau,
mức độ khác nhau ở các cộng đồng khác nhau trong lịch sử.Điều đó tùy thuộc sự
tác động của các nhân tố khách quan và chủ quan đến tiến trình vận động, phát
triển của mỗi cộng đồng người. Tuy nhiên, có thể khái quát quá trình hình thành,
phát triển giai cấp diễn ra chủ yếu với sự tác động của nhân tố bạo lực và của quy
luật kinh tế phân hóa những người sản xuất hàng hóa trong nội bộ cộng đồng xã
hội, hoặc là sự kết hợp của cả hai yếu tố nói trên.
- Tạo ra một môi trường công bằng, dân chủ, quan tâm đến lợi ích của từng người
và lợi ích của cả cộng đồng.
- Đảng ta khẳng định: kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, kết hợp lợi
ích vật chất với lợi ích tinh thần, chăm lo lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài của
nhân dân, kết hợp hài hoà các lợi ích, chú ý lợi ích cá nhân người lao động. Nguồn
lực con người là cơ bản nhất của sự nghiệp CNH-HĐH.(coi con người là trung tâm
của sự phát triển xã hội).ản chất con người là tổng hoà những mối quan hệ xã hội".
THE END
CHÚC CÁC BẠN ÔN TẬP TỐT
-----------------------------------Thanks for reading -----------------------------------------