đề tài tập làm văn lớp 3 - Pdf 16

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
KHOA SƯ PHẠM
Võ Như Kim
MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TẬP LÀM VĂN LỚP 3
TRƯỜNG TIỂU HỌC TRẦN PHÚ
HUYỆN CHÂU ĐỨC – TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
TIỂU LUẬN KHOA HỌC CUỐI KHOÁ
BÀ RỊA – VŨNG TÀU , 2009
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
KHOA SƯ PHẠM
VÕ NHƯ KIM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TẬP LÀM VĂN LỚP 3
TRƯỜNG TIỂU HỌC TRẦN PHÚ
HUYỆN CHÂU ĐỨC , TỈNH BÀ RỊA -VŨNG TÀU
TIỂU LUẬN KHOA HỌC CUỐI KHOÁ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN
Ths: Triệu Văn Thịnh
BÀ RỊA – VŨNG TÀU , 2009
2
MỤC LỤC
TRANG
MỞ ĐẦU 2
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 2
LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 7
Chương 1 10
PHƯƠNG PHÁP – NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 10
CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY TẬP LÀM VĂN 13
QUY TRÌNH TIẾT TẬP LÀM VĂN LỚP 3 14

nên chất lượng giờ dạy còn hạn chế.
Môn Tiếng Việt cùng với các môn học khác, có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh
4 kĩ năng đó là: "nghe - nói - đọc - viết". Trong đó môn tiếng Việt có c các phân môn
như: Tập đọc, kể chuyện, chính tả, luyện từ và câu, tập viết, tập làm văn trong đó,
phân môn Tập làm văn là phân môn có tính chất thích hợp của các phân môn khác. Qua
tiết tập làm văn, học sinh có khả năng xây dựng một văn bản, đó là bài nói, bài viết. Nói
và viết là những hình thức giao tiếp rất quan trọng, thông qua đó con người thực hiện
quá trình tư duy - chiếm lĩnh tri, thức trao đổi tư tưởng, tình cảm, quan điểm, giúp mọi
người hiểu nhau. cùng hợp tác trong cuộc sống lao động.
Ngôn ngữ (dưới dạng nói - ngôn bản và dưới dạng viết văn bản) giữ vai trò quan
trọng trong sự tồn tại và phát triển xã hội. Chính vì vậy, hướng dẫn cho học sinh nói
đúng và viết đúng là hết sức cần thiết. Nhiệm vụ nặng nề đó phụ thuộc phần lớn vào
việc giảng dạy môn Tiếng Việt nói chung và phân môn tập làm văn lớp 3 nói riêng. Vấn
đề đặt ra: Người giáo viên dạy tập làm ra sao để đạt hiệu quả như mong muốn.
Qua thực tế giảng dạy chúng tôi nhận thấy phân môn tập làm văn là phân môn
khó trong các phân môn của môn Tiếng Việt. Do đặc trưng phân môn Tập làm văn với
mục tiêu cụ thể là: hình thành và rèn luyện cho học sinh khả năng trình bày văn bản (nói
và viết) ở nhiều thể loại khác nhau như: miêu tả, kể chuyện, viết thư, tường thuật, kể lại
bản tin, tập tổ chứng cuộc họp giới thiệu về mình và những người xung quanh. Trong
quá trình tham gia vào các hoạt động học tập này, học sinh với vốn kiến thức còn hạn
chế nên thường ngại nói. Nếu bắt buộc phải nói, các em thường đọc lại bài viết đã chuẩn
bị trước. Do đó, giờ dạy chưa đạt hiệu quả cao.
4
Với mong muốn có một đóng góp nhỏ bé trong việc giáo dục học sinh phát triển
toàn diện; nâng cao năng lực sư phạm cho bản thân, xuất phát từ thực tiễn đó, chúng tôi
tiến hành nghiên cứu và thực nghiệm " Một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy môn
tập làm văn lớp 3 trường Tiểu học Trần Phú – Huyện Châu Đức – Tỉnh Bà Rịa – Vũng
Tàu ".
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Tập làm văn là một trong những phân môn có vị trí quan trọng của môn Tiếng

- Môn tiếng việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng có nội dung
phong phú, sách giáo khoa được trình bày với kênh hình đẹp, trang thiết bị dạy học hiện
đại, hấp dẫn học sinh, phù hợp với tâm lý lứa tuổi các em.
- Các em đã được học chương trình thay sách từ lớp 1, đặc biệt là các em ở lớp 2
đã nắm vững kiến thức, kỹ năng của phân môn Tập làm văn như kỹ năng giao tiếp, kỹ
năng tạo lập ngôn bản, kỹ năng kể chuyện miêu tả. Đây là cơ sở giúp các em học tốt
phân môn Tập làm văn ở lớp 3.
2.2. Khó khăn
+ Đối với học sinh
- Do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, các em nhanh nhớ nhưng cũng mau quên,
mức độ tập trung thực hiện các yêu cầu của bài học chưa cao.
- Kiến thức về cuộc sống thực tế của học sinh còn hạn chế, ảnh hưởng đến việc
tiếp thu bài học.
- Vốn từ vựng của học sinh chưa nhiều cũng ảnh hưởng đến việc thực hành độc
lập. Cụ thể là: các em viết câu rời rạc, chưa liên kết, thiếu lôgíc, tính sáng tạo trong thực
hành viết văn chưa cao, thể hiện ở cách bố cục bài văn, cách chấm câu, sử dụng hình
ảnh gợi tả chưa linh hoạt, sinh động.
- Một số học sinh còn phụ thuộc vào bài văn mẫu, áp dụng một cách máy móc,
chưa biết vận dụng bài mẫu để hình thành lối hành văn của riêng mình. Ví dụ: Phần lớn
học sinh dùng luôn lời cô hướng dẫn để viết bài của mình.
+ Đối với giáo viên
Tiếng việt là môn học khó, nhất là phân môn Tập làm văn đòi hỏi người giáo
viên phải có kiến thức sâu rộng, phong phú cần phải có vốn sống thực tế, người giáo
viên biết kết hợp linh hoạt các phương pháp trong giảng dạy. Biết gợi mở óc tò mò, khả
6
năng sáng tạo, độc lập ở học sinh, giúp cho các em nói viết thành văn bản, ngôn ngữ
quả không dễ.
Với những thuận lợi và khó khăn trên, chúng tôi tiến hành khảo sát chất lượng
môn Tập làm văn lớp 3 vào tháng 9 tuần 3 (năm học 2009 - 2010) với đề bài như sau:
Hãy kể về gia đình em với người bạn mới quen

quá trình lĩnh hội các kiến thức khoa học, góp phần dạy học sinh sử dụng tiếng việt
trong đời sống sinh hoạt. Vì vậy, tập làm văn được coi là phân môn có tính tổng hợp, có
liên quan mật thiết đến các môn học khác. Trên cơ sở nội dung, chương trình phân môn
tập làm văn có rất nhiều đổi mới, nên đòi hỏi tiết dạy Tập làm văn phải đạt được mục
đích cụ thể hơn, rõ nét hơn. Ngoài phương pháp của thầy, học sinh cần có vốn kiến
thức, ngôn ngữ về đời sống thực tế. Chính vì vậy, việc dạy tốt các phân môn khác
không chỉ là nguồn cung cấp kiến thức mà còn là phương tiện rèn kỹ năng nói, viết,
cách hành văn cho học sinh.
Tóm lại: Dạy tập làm văn theo hướng đổi mới phải khích lệ học sinh tích cực,
sáng tạo, chủ động trong học tập; biết diễn đạt suy nghĩ của mình thành ngôn bản, văn
bản. Nói cách khác, các phân môn trong môn Tiếng Việt là phương tiện để hỗ trợ cho
việc dạy tập làm văn được tốt.
3.2. Cơ sở thực tiễn
+ Đối với học sinh
- Do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, các em nhanh nhớ nhưng cũng mau quên,
mức độ tập trung thực hiện các yêu cầu của bài học chưa cao.
- Kiến thức về cuộc sống thực tế của học sinh còn hạn chế, ảnh hưởng đến việc
tiếp thu bài học.
- Vốn từ vựng của học sinh chưa nhiều cũng ảnh hưởng đến việc thực hành độc
lập. Cụ thể là: các em viết câu rời rạc, chưa liên kết, thiếu lôgíc, tính sáng tạo trong thực
hành viết văn chưa cao, thể hiện ở cách bố cục bài văn, cách chấm câu, sử dụng hình
ảnh gợi tả chưa linh hoạt, sinh động.
- Một số học sinh còn phụ thuộc vào bài văn mẫu, áp dụng một cách máy móc,
chưa biết vận dụng bài mẫu để hình thành lối hành văn của riêng mình. Ví dụ: Phần lớn
học sinh dùng luôn lời cô hướng dẫn để viết bài của mình.
8
+ Đối với giáo viên
Tiếng việt là môn học khó, nhất là phân môn Tập làm văn đòi hỏi người giáo
viên phải có kiến thức sâu rộng, phong phú cần phải có vốn sống thực tế, người giáo
viên biết kết hợp linh hoạt các phương pháp trong giảng dạy. Biết gợi mở óc tò mò, khả

- Nghiên cứu tài liệu
-Đọc tài liệu sách tham khảo
- Khảo sát thực tế
-Khảo sát tình hình thực tế
- So sánh đối chiếu
- Phương pháp thực hành
10
1.2 . Nội dung nghiên cứu
Vị trí, nhiệm vụ của môn tập làm văn
Môn tập làm văn có nhiệm vụ chủ yếu là dạy học sinh sản sinh ra các ngôn bản
và viết. Tập làm văn còn là sản phẩm thể hiện rõ vốn hiểu biết, đời sống, trình độ văn
hoá của học sinh. Bài tập làm văn trở thành sản phẩm tổng hợp, là nơi trình bày kết quả
đích thực của việc học Tiếng Việt.
Tổ chức cho học sinh quan sát đối tượng miêu tả là một công việc thuộc về
nguyên tắc khi dạy học văn miêu tả. Trên cơ sở có sự thu nhận trực tiếp các nhận xét, ấn
tượng, cảm xúc của mình, học sinh mới bắt tay vào làm bài. Khi quan sát học huy động
vốn sống, khả năng tưởng tượng và cảm xúc giúp cho việc quan sát tốt hơn. Từ đó hiểu
biết và kĩ năng về văn miêu tả được hình thành một cách tự giác chủ yếu qua con đường
thực hành.
Tiết học này mở đầu một quy trình dạy một kiểu bài . thông qua giải quyết một
bài cụ thể luyện cho học sinh hai kỹ năng:
- Tìm tư liệu cho đề bài để chuẩn bị tập làm văn.
- Cung cấp hiểu biết chung nhất mang tính lý thuyết về kiểu bài , loại bài.
Nội dung chương trình sách giáo khoa và các hình thức luyện tập làm văn lớp 3
Chương trình Tập làm văn lớp 3 bao gồm 35 tiết / năm (thực học 31 tiết + 4 tiết
ôn tập)
- Kỳ 1: 16 tiết + 2 tiết ôn tập
- Kỳ 2: 15 tiết + 2 tiết ôn tập
Trang bị cho học sinh một số kiến thức và kĩ năng phục vụ cho học tập và đời
sống hàng ngày như: điền vào giấy tờ in sẵn, viết thư, làm đơn, tổ chức họp và phát biểu

- Tuần 1: Nói về Đội
- Tuần 5: Tập tổ chức cuộc họp
- Tuần 6: Kể lại buổi đầu em đi học
12
- Tuần 8: Kể về người hàng xóm
- Tuần 11: Nói về quê hương
- Tuần 12: Nói về cảnh đẹp đất nước
- Tuần 15: Giới thiệu về tổ em.
- Tuần 16: Nói về thành thị nông thôn.
- Tuần 20: Báo cáo hoạt động
- Tuần 21: Nói về tri thức
- Tuần 22: Nói về người lao động trí óc
- Tuần 25: Kể về lễ hội
- Tuần 26: Kể về một ngày hội
- Tuần 28: Kể lại một trận thi đấu thể thao
- Tuần 32: Nói về bảo vệ môi trường
* Yêu cầu:
- Học sinh nói đúng rõ ý, diễn đạt rõ ràng dễ hiểu.
- Học sinh nói theo nội dung, chủ đề cho trước
- Nói thành câu, biét cách dùng từ chân thực.
- Nói thành đoạn văn
*. Bài tập viết: Gồm các tiết:
- Tuần 1: Điền vào giấy tờ in sẵn (ĐTNTP)
- Tuần 2: Viết đơn
- Tuần 3, 4: Điền vào tờ giấy in sẵn.
- Tuần 10: Tập viết thư và phong bì thư
- Tuần 12: Viết về cảnh đẹp đất nước
- Tuần 13: Viết thư
- Tuần 17: Viết về thành thị nông thôn
- Tuần 22: Viết về người lao động trí óc.

CHƯƠNG 2
CÁC BIỆN PHÁP DẠY TẬP LÀM VĂN LỚP 3 THEO HƯỚNG ĐỔI MỚI
Tuỳ theo nội dung, yêu cầu của mỗi đơn vị học và từng đối tượng học sinh, giáo
viên có thể áp dụng nhóm các biện pháp, hoặc một biện pháp chủ đạo kết hợp với một
số biện pháp bổ trợ khác. Về cơ bản có những biện pháp sau:
2.1. Luôn chú trọng "tích hợp - lồng ghép" khi dạy phân môn tập làm
văn lớp 3.
Khi dạy tập làm văn giáo viên cần hiểu rõ tính tích hợp thức giữa các phân môn
trong môn Tiếng Việt như: Tập đọc, kể chuyện, Chính tả, luyện từ và câu, tập viết để
giảng dạy và tạo đà cho học sinh học tập tốt phân môn Tập làm văn. Mối quan hệ này
15
thể hiện rõ trong cấu trúc của sách giáo khoa: các bài học được biên soạn theo chủ đề,
chủ điểm, hai đơn vị học xoay quanh một chủ điẻm ở tất các các phân môn.
Ví dụ: Chủ đề Cộng đồng dạy trong 2 tuần gồm các bài tập đọc. Luyện từ và
câu Trong quá trình rèn đọc, khai thác nội dung các bài đọc cung cấp cho học sinh vốn
từ về chủ đề Cộng đồng, những câu văn có hình ảnh về chủ để Cộng đồng. Cụ thể khi
dạy bài tập đọc: Kể chuyện: Các em nhỏ và cụ già - tuần 8, giáo viên khai thác nội dung
bài theo hệ thống câu hỏi sau:
+ Điều gì gặp bên đường khiến các bạn nhỏ phải dừng lại?
(Các bạn gặp một cụ già đứng ven đường, vẻ mặt mệt mỏi, cặp mắt lộ vẻ u sầu)
+ Các bạn quan tâm đến ông cụ như thế nào?
(Các bạn băn khoăn và trao đổi với nhau. Có bạn đoán: a) Hay ông cụ bị ốm, b)
Hay cụ bị mấy cái gì đó. Cuối cùng cả tốp đến tận nơi để hỏi thăm ông cụ).
+ Vì sao các bạn quan tâm đến ông cụ?
Với câu hỏi này có thể các em sẽ trả lời như sau:
- Vì các bạn là những trẻ ngoan
- Vì các bạn là những người nhân hậu
- Vì các bạn muốn quan tâm, giúp đỡ ông cụ
+ Ông cụ gặp chuyện gì buồn?
(Cụ bà bị ốm nặng đang nằm trong bệnh viện, khó mà qua khỏi)

Cộng đồng, đồng bào, đồng đội, đồng
hương
Cộng tác, đồng tâm
Từ việc hiểu nghĩa của từ ở bài tập 1, học sinh hiểu ý nghĩa các thành ngữ ở bài
tập 2 và bày tỏ thái độ tán thành hay không tán thành thái độ ứng xử trong cộng đồng
thể hiện trong các thành ngữ đó:
Chung lưng đấu cật
(Mọi người cùng chung sức chung lòng để thực hiện một công việc có nhiều khó
khăn trở ngại)
Cháy nhà hàng xóm bình chân như vại
(Phê pháp thái độ thờ ơ, không quan tâm, tương trợ người khác lúc khó khăn)
Ăn ở như bát nước đầy
(Ca ngợi con người ăn ở, cư xử với mọi ngưòi có tình có nghĩa, trước sau không
thay đổi)
17
Như vậy học sinh biết vận dụng những câu thành ngữ về thái độ ứng xử trong
cộng đồng khi nói - viết tập làm văn giao tiếp, ứng xử trong cuộc sống.
Ở phân môn Chính tả tuần 8, các em cũng được luyện viết các bài trong chủ đề
Cộng đồng. Ví dụ: Viết đoạn 4 trong bài các em nhỏ và cụ già
Cụ ngừng lại và nghẹn ngào nói tiếp:
- Ông đang rất buồn. Bà lão nhà ông năm bệnh viện mấy tháng nay rồi. Bà ốm
nặng lắm, khó mà qua khỏi. Ông ngồi đây chờ xe buýt để đến bệnh viện. ông cảm ơn
lòng tốt của các cháu. Dẫu các cháu không giúp gì được nhưng ông cũng thấy lòng nhẹ
hơn.
Khi viết đoạn văn trên, học sinh được rèn viết chính tả, cách sử dụng các dấu
câu; thấy được sự cảm thông, chia sẻ giữa con người với nhau làm dịu bớt nỗi lo lắng,
buồn phiền, tằn thêm cho mỗi người niềm hy vọng, nghị lực trong cuộc sống. Học sinh
vận dụng cái hay, cái đẹp của ngôn từ trong đoạn văn để thể hiện tình cảm, thái độ đánh
giá trong từng bài văn cụ thể của chính các em.
Tương tự, ở phân môn tập viết - tuần 8, các em được làm quen với các thành

Về nhà bác ta liền bị vợ trách - Ông giấu cày mà la to như thế, kẻ gian biết chỗ,
nó lấy mất cày thì sao.
Lát sau, cơm nước xong, bác ta ra ruộng, quả nhiên thấy cày bị mất. Bác ta liền
chạy một mạch về nhà, nói thầm vào tai vợ: "Nó lấy mất cày rồi!"
Qua giao tiếp giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với nhau (kể cho nhau
nghe), việc kể lại nội dung câu chuyện trước lớp giúp các em thấy được sự phê phán
hóm hỉnh, hài hước và kể chuyện lại nội dung câu truyện với giọng kể, cử chỉ, điệu bộ
gây cười ở người nghe, nét mặt phù hợp, nâng kịch tính câu chuyện lên cao hơn.
Song song với việc rèn luyện kỹ năng nghe - nói học sinh rèn kỹ năng viết: nắm
kỹ thuật viết, luật viết câu văn, đoạn văn hoàn chỉnh, đúng về ngữ pháp, bố cục văn
cảnh hoặc môi trường giao tiếp. Mỗi bài văn của học sinh không đơn thuần là kể, tả
ngắn về con người, sự vật, sự việc mà thông qua đó thể hiện suy nghĩ, cảm xúc, sự đánh
giá, thái độ yêu - ghét, trân trọng hay phê phán của các em. Thông qua bài viết của các
em người đọc hiểu được tâm tư tình cảm của các em về một vấn đề nào đó.
Bổ trợ cho việc rèn kỹ năng nghe - nói trong tiết Tập làm văn, phấn kể chuyện
của tiết tập đọc kể chuyện cũng chú trọng đến rèn kỹ năng giao tiếp.
Ví dụ: Dạy tập đọc kể chuyện. Tiết 2 - Bài Đất quý đấy yêu - tuần 11
19
Nhiệm vụ của học sinh là: quan sát tranh, sắp xếp lại tranh theo trình tự nội dung
câu chuyện Đất quý đất yêu. Sau đó dựa vào tranh kể lại câu chuyện. đúng nội dung,
ngắn gọn, từ ngữ súc tích, dễ hiểu, biết kết hợp lời nói với cử chỉ, điệu bộ để câu chuyện
thêm hấp dẫn sinh động; giúp người nghe thấy được phong tục tập quán của người Ê-ti-
ô-pi-a: họ coi đất đai là thứ thiêng liêng, cao quý nhất.
Thông qua kể lại câu chuyện theo tranh, học sinh hình thành và rèn luyện khả
năng diễn đạt, phục vụ tốt cho bài tập nói của tiết Tập làm văn.
Tóm lại, học sinh rèn luyện khả năng quan sát, nói - viết, rút ra những nét điển
hình, đặc trưng của từng vùng miền, thấy được vẻ đẹp đáng yêu, đáng tự hào của mỗi
vùng miền, từ đó hình thành nuôi dưỡng tình cảm gắn bó, yêu thương, ý thức gữ gìn,
xây dựng quê hương đất nước.
Ngoài ra, mỗi giáo viên cần chú trọng vận dụng phương pháp dạy học theo quan

Thêm vào đó, những yếu tố phi ngôn ngữ như điệu bộ, cử chỉ, ánh mắt, nét mặt,
giọng điệu, của các em khi nói sẽ làm tăng tính hấp dẫn, tính thuyết phục đối với người
nghe. Do đó, giáo viên cũng cần khuyến khích các em rèn luyện khả năng sử dụng
những yếu tố phi ngôn ngữ này.
2.4. Sử dụng linh hoạt các hình thức hoạt động trong tiết dạy tập làm
văn theo hướng đổi mới
Việc tổ chức tốt các hình thức dạy học nhằm cuốn hút học sinh vào các hoạt
động học tập một cách chủ động tích cực.
Giáo viên sử dụng các hình thức tổ chức dạy học như: học sinh thảo luận nhóm,
đàm thoại với nhau và với chính thầy cô hoặc hoạt động cá nhân (độc thoại) về một vấn
đề. Các hình thức tổ chức hoạt động học có thể là: đóng các hoạt cảnh, vận dụng các trò
chơi trong tiết học, các cuộc thi tiếp sức Qua đó học sinh lĩnh hội kiến thức, tích cực,
tự giác "học mà chơi - chơi mà học". Không khí học tập thoải mái khiến học sinh mạnh
dạn, tự tin khi nói. Các em dần có khả năng diễn đạt, phát biểu ý kiến, đánh giá trước
đông người một cách lưu loát, rành mạch, đễ hiểu.
So sánh với phương pháp dạy Tập làm văn lớp 3 truyền thống; mỗi tiết tập làm
văn chú trọng đến mục tiêu là hình thành bài văn theo một đề bài thuộc một thể loại văn
nào đó dưới dạng nói hoặc viết. Tiết học diễn ra theo tiến trình: Giáo viên hướng dẫn
làm bài dựa theo dàn bài thuộc thể loại chung, đưa ra các câu hỏi gợi ý khiến học sinh
dễ nhàm chán, có cảm giác bị bắt buộc theo khuôn mẫu, không khuyến khích học sinh
nói, viết những cảm xúc, nhận xét, đánh giá, sự miêu tả của chính các em.
21
Trong chương trình thay sách giáo khoa lớp 3, mõi tiết Tập làm văn là một hệ
thống bài tập có tính định hướng, gợi mở, với nhiều dạng bài: nghe - nói, nói - viết,
nghe - nói - viết Vì vậy, giáo viên vẫn bám sát mục đích, yêu cầu của tiết dạy, bài dạy
nhưng linh hoạt, chủ động hơn trong cách tổ chức các hoạt động dạy - học, phân bố thời
gian hợp lý, vừa tránh được những nhược điểm nêu trên vừa tạo được không khí học tập
phát huy được tính tích cực, sáng tạo của học sinh.
Ví dụ 1: Tiết tập làm văn (tuần 11) với hệ thống bài tập như sau:
Bài 1: Nghe kể lại câu chuyện "tôi có đọc đâu"

Như vậy, trong một tiết học, học sinh vừa luyện kể (luyện nói), vừa luyện viết
đoạn văn (văn bản), nên việc giáo viên vận dụng linh hoạt các hình thức dạy học trong
dạy Tập làm văn và nhiệm vụ cần thiết.
2.5. Dạy học hướng dẫn vào học sinh và chú trọng hình thức dạy học cá
nhân.
Dạy tập làm văn theo hướng tập trung vào học sinh không phải chỉ tìm ra một
câu trả lời có sẵn mà học sinh phải đưa ra được câu trả lời trên cơ sở suy nghĩ và hiểu
biết của chính các em. Quá trình tư duy đó đòi hỏi học sinh phải vận dụng những vốn tri
thức, hiểu biết phù hợp với vấn đề đặt ra trong câu hỏi; phân tích, sắp xếp những tri thức
đó, đưa ra với vấn đề đặt ra trong câu hỏi; phân tích, sắp xếp những tri thức đó, đưa ra
những kết luận và chọn phương án trả lời tốt nhất. Nói ngắn gọn lại: học sinh tìm ra câu
trả lời qua việc thu thập, sàng lọc thông tin và phân tích dữ kiện.
Ví dụ: Dạy tập làm văn - tuần 5
Bài: Tập tổ chức một cuộc họp
- Học sinh chọn nội dung cuộc họp cho phù hợp
- Xác định đúng mục đích cuộc họp, nguyên nhân của cuộc họp
- Người điều hành cuộc họp thống nhất ý kiến, thống nhất phương án giải quyết
vấn đề, giao việc cho từng thành viên.
Như vậy thông qua một tiết tập làm văn đã phát huy tính độc lập sáng tạo của
học sinh, giáo viên chỉ là người tổ chức, định hướng cho học sinh cách làm bài.
2.6. Dạy học phối kết hợp các hoạt động ngoài giờ lên lớp
Các hoạt động ngoài khoá giúp học sinh có những hiểu biết ngoài kiến thức được
học trong chương trình chính khoá. Do đó việc phối kết hợp với các hoạt động ngoài giờ
23
lên lớp là rất cần thiết. Qua các hoạt động ngoài giờ, học sinh được rèn luyện bằng
nhiều hình thức khác nhau, có nội dung liên quan đến bài học của các em. Giáo viên
giảng dạy cần có sự kết phối hợp chặt chẽ với giáo viên tổng phụ trách, thông qua các
buổi chào cờ nói về gương người tốt việc tốt, tổ chức các hoạt động: thi búp măng xinh,
thi ca hát tập diễn các tiểu phẩm, thi kể chuyện - văn nghệ, thi đọc thơ, thi các môn năng
khiếu

kể, viết.
Tóm lại, kiến thức ở các lớp có mối quan hệ lôgíc: kế thừa, mở rộng, nâng cao.
Do đó muốn dạy Tập làm văn lớp 3 theo hướng đổi mới còn phải đổi mới tất cả các khối
lớp.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận
Qua quá trình nghiên cứu đề tài , chúng tôi đã nhận thấy vai trò và tầm quan
trọng của dạy môn Tập làm văn. Vì vậy chúng tôi dừng lại ở khối 3 mà triển khai áp
dụng vào các khối lớp trong nhà trường, xây dựng tích hợp các kiến thức liên quan với
nhau giữa các môn học. Thông qua dạy thử nghiệm theo hướng trên, chúng tôi đã thu
được rất nhiều kết quả khả quan: học sinh tập hào hứng hơn, mạnh dạn hơn, vốn từ của
học sinh phong phú hơn câu văn giàu hình ảnh. Tiến hành khảo sát theo những tiêu chí
ban đầu đề ra đối với khối lớp 3 đầu tháng 12 - tuần 13 với đề bài.
Viết một bức thư cho bạn ở một tỉnh miền Nam (hoặc miền trung, miền bắc) để
làm quen và hẹn bạn cùng thi đua học tốt.
Kết quả thu được như sau:
Nội dung khảo sát Số học sinh
1. Biết viết câu, dùng từ hợp lý 65/78
2. Biết nói - viết thành câu 59/78
3. Biết dùng từ ngữ, câu văn có hình ảnh 52/78
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status