Chương 3
CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHẨN ĐOÁN
TÌNH TRẠNG KỸ THUẬT CỦA ÔTÔ
I. KHÁI NIỆM VỀ CHẨN ĐOÁN KỸ THUẬT
1. Chẩn đoán kỹ thuật:
• Trong quá trình sử dụng ôtô, trạng thái kỹ thuật của xe bò thay đổi theo chiều
hướng xấu đi. Để xác đònh tình trạng kỹ thuật của xe ta có thể tháo rời các
cụm, các tổng thành để phát hiện hư hỏng. Nếu làm như vậy sẽ phá hỏng trạng
thái tiếp xúc của bề mặt làm việc của các chi tiết máy, ngoài ra còn tăng công
lao động, tăng tổng chi phí lao động kỹ thuật.
• Hiện nay ở nước ta cũng như các nước khác đều dùng máy móc thiết bò để
tiến hành kiểm tra trạng thái kỹ thuật của ôtô, của các cụm, tổng thành… mà
không cần phải tháo rời chúng. Phương pháp xác đònh tình trạng kỹ thuật này
được gọi là phương pháp chẩn đoán kỹ thuật.
• Chẩn đoán kỹ thuật dựa trên hệ thống các quy luật, các tiêu chuẩn đặc trưng
cho trạng thái kỹ thuật của ôtô để phán đoán tình trạng kỹ thuật tốt xấu của
ôtô. Khi chẩn đoán kỹõ thuật do không tháo rời các chi tiết nên không thể trực
tiếp phát hiện hư hỏng mà phải thông qua các triệu chứng để phát hiện gián
tiếp các hư hỏng ở bên trong.
Thí dụ: Để đánh giá độ hao mòn của xéc măng - xi lanh người ta dùng thiết bò
đo lượng khí cháy lọt xuống các te hoặc để đánh giá tình trạng kỹ thuật của hệ
thống phanh ở các bánh xe người ta đo lực phanh ở các bánh xe (hay quãng
đường phanh, …)
2 . Mục đích của chẩn đoán kỹ thuật:
Công nghệ chẩn đoán kỹ thuật ra đời nhằm làm thay đổi và nâng cao chất
lượng của công tác bảo dưỡng kỹ thuật.
- 64 -
Nó đánh giá trạng thái kỹ thuật của đối tượng được kiểm tra một cách chính
xác, khách quan và nhanh chóng, nâng cao tính tin cậy của xe, dự báo được
bố trí theo sơ đồ dây chuyền sau : Vò trí chờ sửa
Chẩn đoán tổng
quát trước BD-I
Chẩn đoán tổng
quát trước BD-II
Sửa chữa thường
xuyên
BD-II
bảo dưỡng cấp II
BD – I
bảo dưỡng cấp I
Chờ xuất xưởng
Cầu rửa xe
Kiểm tra
Hình 1. Dây chuyền sản xuất trong xí nghiệp bảo dưỡng ôtô
hoạt động của các chi tiết, các cụm, các tổng thành trong ôtô. Nội dung của
chương trình được sắp xếp, mã hóa về chế độ chẩn đoán, xử lý trên máy tính
điện tử nó thể hiện dưới dạng đóa, băng hoặc hiển thò trên màn hình…
Trong sửa chữa chẩn đoán kỹ thuật phải phát hiện được nguyên nhân sinh ra
sự cố hư hỏng từ đó xác đònh biện pháp kỹ thuật để khắc phục tình trạng hư hỏng
ấy. Dựa vào kết quả nghiên cứu của các nước với đặc điểm của từng đơn vò
người ta có thể bố trí chẩn đoán kỹ thuật trong quy trình công nghệ bảo dưỡng,
sửa chữa ôtô theo hai phương án:
+ Chẩn đoán kỹ thuật cùng với bảo dưỡng kỹ thuật và sửa chữa
+ Chẩn đoán kỹ thuật trên một trạm riêng.
- 67 -
Theo phương án thứ nhất, tiến hành chẩn đoán kỹ thuật để khắc phục các sự
cố hoặc hư hỏng được phát hiện trong quá trình chẩn đoán kỹ thuật hoặc xác
đònh thông số để dự đoán độ tin cậy trong quá trình sử dụng sắp tới. Hiện nay đại
bộ phận các đơn vò ở VN đang sử dụng phương án này, công tác chẩn đoán kỹ
thuật được tiến hành ngay trên dây chuyền bảo dưỡng cấp I, cấp II.
Theo phương án này khi ôtô ra xưởng được làm đầy đủ những nội dung trong
bảo dưỡng và dự báo độ tin cậy trong thời gian làm việc sau đó.
Phương án thứ hai chỉ đơn thuần chẩn đoán nhanh tình trạng kỹ thuật của
ôtô, chẩn đoán này nhằm dự báo thường xuyên độ tin cậy của ôtô. Việc đưa ôtô
đi bảo dưỡng sửa chữa được làm ở nơi khác. Trong trạm chẩn đoán kỹ thuật ở
Mỹ chỉ đơn thuần là chẩn đoán kỹ thuật ôtô, không chỉ đònh phương pháp điều
chỉnh hay sửa chữa.
II. XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ ĐẶC TRƯNG DÙNG TRONG CHẨN ĐOÁN
KỸ THUẬT
Một ôtô gồm rất nhiều chi tiết được lắp ghép với nhau tạo thành cụm, tổng
thành … để thành xe được gọi là kết cấu. Có loại kết cấu thể hiện mối tương
sự cố cũng thay đổi, các biểu hiện sự cố cũng rất đa dạng. Do đó việc chọn các
tham số chẩn đoán, các phương pháp chẩn đoán có một ý nghóa hết sức quan
trọng trong quá trình nghiên cứu, áp dụng kỹ thuật chẩn đoán .
Vấn đề liên quan đến phương tiện chẩn đoán là chọn và xác đònh số lượng
các tham số lấy làm cơ sở sử dụng trong chẩn đoán như các tham số độ lớn, đặc
điểm của đối tượng, các hệ thống và các quá trình làm việc của đối tượng chẩn
đoán .
- 69 -
Trong chẩn đoán kỹ thuật trước tiên phải xét đến thông số kết cấu và đặc
điểm của các đối tượng liên quan trong quá trình làm việc. Các thông số kết cấu
(thông số trạng thái kỹ thuật) là những đại lượng vật lý như: kích thước (độ dài,
diện tích, thể tích…), cơ học (lực, áp suất, tần số, biên độ…), điện (vôn, ampe…),
nhiệt (calo, độ …), âm thanh …
Quá trình sử dụng các thông số kết cấu biến đổi từ giá trò ban đầu đến giá trò
giới hạn mới hỏng.
- Giá trò ban đầu của thông số kết cấu được tính toán theo yêu cầu kỹ thuật của
nhà chế tạo.
- Giá trò cho phép của thông số kết cấu là ranh giới xuất hiện hư hỏng, tính
năng sử dụng bắt đầu giảm, tình trạng kỹ thuật bắt đầu trục trặc nhưng vẫn
còn khả năng làm việc.
- Giá trò giới hạn của thông số kết cấu là tổng thành hoặc ôtô mất hoàn toàn
khả năng làm việc.
Trong nhiều trường hợp không thể thực hiện được việc đo đạc các thông số
kết cấu khi không tháo rời các bộ phận ra khỏi xe. Vì vậy việc thông tin về tình
trạng kỹ thuật của các chi tiết, cụm, tổng thành… dựa vào các thông số thể hiện
- Xác đònh (sơ bộ) các thông số dùng trong kiểm tra, trong quá trình chẩn đoán
Các thông số này phải có tính ổn đònh cao khi điều kiện làm việc của đối tượng
chẩn đoán thay đổi.
Những bước trên có thể tóm tắt thành dạng sơ đồ khối sau:
- 71 - Các thông số kết cấu của cụm, tổng
Sự lắp ghép của cụm, tổng thành…
Tính năng của cụm, tổng thành…
Thông số chẩn đoán
Hư hỏng
Triệu chứng
Muốn chẩn đoán thu được kết quả chính xác và có độ tin cậy cao ta phải tiến
hành thực nghiệm trong phòng thí nghiệm và nghiên cứu thực nghiệm trên hiện
kiểm tra giữa kỳ.
Đoạn (3) ngoài S
gh :
phạm vi xe hư hỏng.
Từ sơ đồ trên ta thấy tại A: là thời điểm chẩn đoán (dự báo hư hỏng)
B: là thời điểm xuất hiện trục trặc
C: là xe hỏng (tổng thành hỏng).
Trong chẩn đoán người ta thường sử dụng một số tiêu chuẩn:
Tiêu chuẩn nhà nước: Thường liên quan đến an toàn giao thông, ô nhiễm
môi trường… những tiêu chuẩn này để đo trực tiếp. Thường qui đònh các
giá trò lớn hơn, nhỏ hơn hoặc bằng đònh mức. Thí dụ: độ ồn cho phép phải
nhỏ hơn (hoặc bằng) đònh mức, lực phanh phải lớn hơn (hoặc bằng) đònh
mức…
Tiêu chuẩn nhà chế tạo: Dựa trên dung sai chế tạo các chi tiết, các chỉ
tiêu độ bền, tính tin cậy… của xe đã thử nghiệm. Thí dụ: Khe hở cặp tiếp
điểm má vít, khe hở giữa bạc và trục, khe hở giữa piston và xi lanh.
- 73 -
III. MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC THÔNG SỐ TRONG HỆ THỐNG CHẨN
ĐOÁN – CÁC QUÁ TRÌNH CHẨN ĐOÁN KỸ THUẬT
1. Mối quan hệ giữa các thông số trong hệ thống chẩn đoán:
Trạng thái kỹ thuật của các cơ cấu (các thông số) quyết đònh khả năng làm
việc của chúng trong quá trình vận hành. Sau một thời gian làm việc các thông
Với những kết cấu phức tạp hoặc có quan hệ đan xen lẫn nhau như:
• Thông số kết cấu là độ mòn xéc măng, có thể có nhiều thông số chẩn
đoán như: giảm áp suất cuối tầm nén, dầu nhờn sục lên buồng cháy làm
khói xả đen, khí cháy lọt xuống các te tăng…
• Hoặc có khi một thông số chẩn đoán như: giảm áp suất cuối tầm nén lại
liên quan đến nhiều thông số kết cấu như: mòn xéc măng – xi lanh, kênh
xupáp, hở gioăng đệm nắp máy… .
- 75 -
Để giải những bài toán phức tạp này người ta lập các ma trận chẩn đoán
hoặc các máy tính điện tử trợ giúp.
2. Quá trình chung của chẩn đoán kỹ thuật:
a) Khái niệm:
Quá trình chung của chẩn đoán kỹ thuật bao gồm:
- Chương trình chẩn đoán.
- Đo các thông số chẩn đoán.
- Xử lý các thông tin.
- Đánh giá kết quả chẩn đoán.
¾ Trong đó chương trình chẩn đoán chính là nội dung của chẩn đoán. Nội dung
của chẩn đoán phải thể hiện được nhiều nhất trạng thái kỹ thuật của tổng
thành, cụm, của xe với chi phí hợp lý. Nội dung của chẩn đoán có thể thực
hiện trên bệ thử hoặc khi xe đang hoạt động. Thông qua nội dung chẩn đoán
hợp lý sẽ đánh giá đúng các hư hỏng của xe .
¾ Đo các thông số chẩn đoán bằng các bộ cảm biến, các đầu đo khác nhau
như: điện từ, thủy lực, thủy khí… Thường người ta dùng hai loại: loại gắn cố
đònh với các bộ phận cần đo trên xe như: cảm biến đo nhiệt độ nước làm
mát, áp suất dầu bôi trơn, áp suất bình chứa khí nén, đo tốc độ gió ở họng
nạp…; loại cảm biến chỉ gắn vào xe khi dùng thiết bò đo như: góc đánh lửa