sáng kiến kinh nghiệm đổi mới phương pháp giảng dạy ngữ văn theo phương pháp dạy học tích cực - Pdf 16

Skkn Vận dụng quan điểm tích cực trong dạy học Ngữ văn 7
sáng kiến kinh nghiệm
đổi mới phơng pháp giảng dạy
ngữ văn theo phơng pháp dạy học tích cực
I- Đặt vấn đề.
Nhân loại đang đứng trớc sự phát triển nh vũ bão của khoa học công nghệ, tr-
ớc những biến đổi không ngừng vừa theo dòng chảy qui luật vừa đột biến bất thờng.
Con ngời trong tơng lai phải là con ngời biết hành động một cách năng động và
sáng tạo, thích ứng nhanh với những thay đổi và một khả năng tiếp cận giải quyết
vấn đề mềm dẻo, linh hoạt. Nhà trờng với phơng pháp cổ truyền cùng với thời gian
đã hoàn thành sứ mạng lịch sử của nó, nhờng chỗ cho sự xuất hiện một nhà trờng
mới với phơng pháp đảm bảo cho ra đời một sản phẩm - đáp ứng yêu cầu ngày càng
cao của thế kỷ XXI. Đó chính là phơng pháp dạy học tích cực.
Phơng pháp dạy học tích cực hay nói gọn hơn là phơng pháp tích cực (thuật
ngữ mới), xuất hiện từ lâu trên thế giới và phát triển ở Việt Nam từ thập kỷ 80 thế
kỷ XX trở lại đây. Sự ra đời của nó gắn liền với trào lu đổi mới giáo dục diễn ra
mạnh mẽ mang tính toàn cầu. Bớc vào thế kỷ XXI phơng pháp tích cực đợc coi là
nhân tố mới có vai trò quan trọng: cải thiện và thúc đẩy nhà trờng phát triển, gắn
kết nhà trờng hoà nhập với những phát triển nh vũ bão của khoa học công nghệ, tạo
nguồn nhân lực, đem lại lợi ích to lớn cho xã hội hiện đại.
Với phơng pháp dạy học này ngời học chủ thể hoạt động, tự mình tìm ra kiến
thức cùng với cách tìm ra kiến thức thông qua hành động của chính mình. Ngời học
tự thể hiện mình và hợp tác với bạn, học bạn. Nhà giáo chuyên gia về việc dạy học,
là ngời tổ chức và hớng dẫn quá trình kết hợp cá nhân hơn xã hội hoá việc học của
ngời học. Ngời học tự kiểm tra tự đánh giá, tự điều chỉnh.
Là một giáo viên đang trực tiếp tham gia giảng dạy môn Ngữ văn bậc THCS,
bộ môn cải cách theo chơng trình SGK mới, tôi đã cố gắng tìm tòi, học hỏi và áp
dụng phơng pháp dạy học tích cực vào bộ môn dạy của mình và thu đợc kết quả t-
ơng đối khả quan. Với tinh thần mạnh dạn trao đổi lẫn nhau, tôi xin nêu một vài suy
nghĩ về vấn đề đổi mới phơng pháp dạy học theo phơng pháp dạy học tích cực, áp
Ngời thực hiện: NguyễnVăn Hng - Trờng THCS Quang Trung Trang 1

Phân tích từng khía cạnh nội hàm của phơng pháp dạy học văn ta thấy bản
chất của việc dạy văn là "Lấy học sinh làm trung tâm", phải chú ý đến hoạt động
của học sinh. Trong giờ học tác phẩm văn chơng đối tợng môn học mang đậm tính
Ngời thực hiện: NguyễnVăn Hng - Trờng THCS Quang Trung Trang 2
Skkn Vận dụng quan điểm tích cực trong dạy học Ngữ văn 7
nghệ thuật, do vậy tất cả những vấn đề mà ngời thầy đặt ra phải đợc tổ chức một
cách có nghệ thuật. Giáo s Nguyễn Đức Nam đã nói: "Văn là nghệ thuật bằng lời".
Văn chơng là xây dựng hình tợng chất liệu ngôn ngữ. Lời nói phải đạt đến
trình độ nào đó có khả năng huy động tâm hồn, trí tuệ của con ngời mới
thành văn. Tác phẩm văn chơng tự thân nó mang tính đa nghĩa. Mỗi học sinh là một
nhân cách, một cá tính. Bởi vậy, trong quá trình dạy học, thầy giáo - học sinh - nhà
văn thông qua tác phẩm phải biết vận động, song không phải vận động một cách
tuỳ tiện mà phải có cách thức vận động trong giờ văn. Tác giả là ngời phát tin, ngời
nhận tin là học sinh. Theo giáo s Nguyễn Đức Nam nói thì tài năng nghệ thuật của
thầy giáo chính là làm thế nào cho xuất hiện nhân vật thứ ba (nhà văn) tạo ra mối
quan hệ trực tiếp giữa học sinh và nhà văn thông qua tác phẩm nghệ thuật.
Rõ ràng qua đó ta thấy trong giờ văn, học sinh luôn giữ vai trò trung tâm chứ
không phải thầy giáo. Học sinh đợc tôn trọng là phải đợc thầy giáo tổ chức hoạt
động để các em hứng thú thực sự, thầy phải đa ra đợc các tình huống có vấn đề
trong từng bài dạy, từng tác phẩm.
Cách vận dụng khéo léo, linh hoạt giữa các phơng pháp cùng với việc nêu
vấn đề để học sinh tham gia một cách tự giác vào việc tìm hiểu văn bản. Chỉ có ng-
ời thầy mới biết cách đánh thức những tiềm năng lớn, đang tiềm ẩn trong mỗi con
ngời thì mới thực sự đem đến hứng thú, niềm vui lớn cho các em qua mỗi giờ
văn.
2. Cơ sở giáo dục:
Dạy học theo phơng pháp tích cực trong môn Ngữ Văn hoàn toàn có cơ sở
giáo dục. Khác với các bộ môn học khác, môn Ngữ Văn có nhiệm vụ cung cấp cho
học sinh những hiểu biết, những tri thức về xã hội, con ngời trong phạm vi rộng.
Trên cơ sở những kiến thức đợc cung cấp học sinh tự tìm hiểu về mình, chuyển hoá

phát huy vai trò chủ động, tích cực của học sinh trong học
tập.
- Theo phơng pháp đổi mới lấy ngời học làm trung tâm thì phơng pháp dạy
học tích cực có những đặc điểm cơ bản sau:
+ Ngời học chủ thể hoạt động, tự mình tìm ra kiến thức cùng với cách tìm ra
kiến thức thông qua hành động của chính mình.
+ Ngời học tự thể hiện mình và hợp tác với bạn, học bạn.
+ Nhà giáo - chuyên gia về việc dạy học, là ngời tổ chức và hớng dẫn quá
trình kết hợp cá nhân hoá với xã hội hoá việc học của ngời học.
+ Ngời học tự kiểm tra, tự đánh giá, tự điều chỉnh.
- Căn cứ vào các đặc điểm cơ bản của phơng pháp dạy học tích cực ta thấy:
Ngời thực hiện: NguyễnVăn Hng - Trờng THCS Quang Trung Trang 4
Skkn Vận dụng quan điểm tích cực trong dạy học Ngữ văn 7
* Trò: Là chủ thể của hoạt động giáo dục. Ngời học không thụ động ngồi
nghe thầy giảng và truyền đạt kiến thức nh trớc đây mà ở đây ngời học học tích cực
bằng hành động của chính mình tức là ngời học tự tìm ra "Cái cha biết" "Cái cần
khám phá", tự mình tìm ra kiến thức, chân lý. Ngời học không phải đợc đặt
trớc những kiến thức có sẵn của SGK hay là bài giảng áp đặt của thầy mà đợc
đặt trớc những tình huống thực tế, cụ thể của cuộc sống.
Đứng trớc những sự việc, tình huống, vấn đề của cuộc sống vô cùng phong
phú, ngời học thấy có nhu cầu hay hứng thú giải quyết những khó khăn mâu thuẫn
trong nhận thức của mình để tự mình tìm ra cái cha biết, cái cần khám phá. Tự đặt
mình vào tình huống của cuộc sống, ngời học quan sát, suy nghĩ, tra cứu, đặt giả
thiết, đặt vấn đề, làm thử, phân tích, phán đoán, tập xử lý tình huống, giải quyết vấn
đề, tự mình tìm ra kiến thức, chân lý, cùng với cách xử lý tình huống, cách giải
quyết vấn đề.
* Thầy: lúc này không đóng vai trò chủ thể nữa mà trở thành ngời định hớng,
đạo diễn cho học sinh tự mình khám phá ra kiến thức, cùng với cách tìm ra kiến
thức. Thầy từ chỗ chi tiết truyền đạt chân lý vơn lên thành ngời thầy giỏi, chủ yếu
dạy cách tìm ra chân lý. Thầy trở thành ngời hớng dẫn cố vấn hoá hơn là một công

dạy học đó, hoặc độc tôn phơng pháp dạy học mới. Vấn đề ở đây không phải là bàn
cãi phơng pháp mà là sự vận dụng phơng pháp dạy học một cách phù hợp đúng lúc,
đúng chỗ. Đổi mới phơng pháp dạy học có nghĩa là tất cả các phơng
- pháp dạy học, thuyết giảng, bình giảng, nêu vấn đề, phát vấn, đàm thoại,
đọc diễn cảm, thảo luận, nghiên cứu đều đ ợc vận dụng trong giờ học văn theo qui
luật hoạt động bên trong của chủ thể học sinh. Giờ học văn có sự thay đổi cơ bản:
từ thông báo tái hiện sang tổ chức cho học sinh chủ động tiếp nhận, cảm thụ vận
dụng kiến thức, kỹ năng văn học.
- Đổi mới phơng pháp dạy học là nhằm làm cho học sinh không những tự tìm
ra con đờng phân tích, đánh giá, thởng thức tác phẩm văn học mà còn tự rút ra cho
mình những bài học sâu sắc về t tởng, tình cảm, lối sống cũng nh các kỹ năng văn
học. Do vậy trong giờ văn, giáo viên phải huy động mọi năng lực s phạm, năng lực
phân tích cảm thụ văn học, năng lực ngôn ngữ, năng lực văn hoá tổng hợp để giúp
học sinh học tốt. Theo tinh thần đổi mới phơng pháp dạy học cụ thể theo hớng tích
cực, tôi xin trình bày một số giải pháp sau:
1- Giáo viên phải mạnh dạn thay đổi để đáp ứng yêu cầu mới.
Với vai trò và nhiệm vụ là ngời hớng dẫn tổ chức hoạt động học tập của học
sinh, giáo viên phải là ngời có phẩm chất chuyên môn và tay nghề vững vàng,
không ngừng học tập, đảm bảo có đức, vững vàng các kiến thức khoa học cơ bản
môn học.
- Nắm vững nội dung và kế hoạch dạy học chung của cấp học và môn học,
luôn rèn kỹ năng dạy học.
- Thờng xuyên tiếp cận với đổi mới, nắm bắt xu thế phát triển chung xã hội.
* Cụ thể: phải rèn luyện các kỹ năng cơ bản:
+ Kỹ năng lập và điều chỉnh kế hoạch dạy học.
+ Kỹ năng tổ chức các hoạt động dạy học.
+ Kỹ năng thiết kế bài học (soạn giáo án)
+ Kỹ năng sử dụng các phơng tiện kỹ thuật vào dạy học.
+ Kỹ năng vận dụng sáng tạo, linh hoạt nội dung và phơng pháp giáo dục cho
từng đối tợng và thực tế vùng miền.

chơng trình THCS nh: Văn học sử, lý luận văn học, các vấn đề văn học lớn xuyên
suốt từng chơng, từng giai đoạn văn học.
+ Hớng dẫn và uốn nắn cách đọc và học thêm các tri thức văn học ngoài ch-
ơng trình chính khoá cho học sinh.
+ Tổ chức họat động ngoại khoá để tham gia, tìm hiểu các vấn đề thuộc về
thực tiễn sáng tác, các vấn đề liên quan đến tác giả, tác phẩm nh: (cuộc đời, quê h-
ơng, quá trình sáng tác của một số tác giả) có trong chơng trình văn học ở THCS.
Tiến trình thực hiện một giờ văn theo phơng pháp dạy học tích cực.
- Trớc kia qui định thực hiện một giờ văn gò bó theo 5 bớc lên lớp và đề cao
việc dạy học của giáo viên. Tuỳ theo tinh thần đổi mới, giờ văn ngoài việc
bảo đảm bằng khoa học về nội dung nghệ thuật, về các phơng pháp s phạm
cũng cần khẳng định tính sáng tạo vì thế không thể có sự đồng nhất về nội
Ngời thực hiện: NguyễnVăn Hng - Trờng THCS Quang Trung Trang 7
Skkn Vận dụng quan điểm tích cực trong dạy học Ngữ văn 7
dung và phơng pháp cho tất cả các giờ văn. Điều cơ bản là mỗi giờ dạy học
văn phải thực sự huy động đợc tiềm lực của giáo viên và học sinh, phải tạo đ-
ợc sự cộng hởng cảm xúc giữa tác phẩm văn học với giáo viên và học sinh.
Một giờ văn có thể thiếu hoặc thừa, có
thể phá cách nhng đạt đợc những yêu cầu cơ bản trên còn hơn là đầy đủ các bớc lên
lớp mà không đọng lại ấn tợng gì ở học sinh.
Có thể so sánh phơng pháp dạy học tích cực và phơng pháp dạy học thụ
động theo một qui trình lên lớp nh sau:
Giai đoạn Phơng pháp tích cực Phơng pháp thụ động
1. Chuẩn bị.
- Thầy và trò chuẩn bị cho
dạy học (thu thập tài liệu,
đọc trớc bài học, soạn
bài )
- Thầy chuẩn bị bài, trò
không có sự chuẩn bị, hoặc

- Thầy hỏi, trò trả lời theo
mẫu duy nhất.
- Câu hỏi, không có các cấp
độ và không có độ mở.
- Hoạt động cá nhân không
có kết hợp nhóm.
- Chỉ có thầy đợc quyền
đánh giá cho điểm.
- Thầy nói nhiều, trò ít đợc
trả lời.
- Hình thức dạy học đơn
điệu, không tích hợp đợc
nhiều hình thức.
- Phơng pháp dạy học đơn
điệu không tích hợp đợc
nhiều phơng pháp.
- Vận dụng cứng nhắc trong
dạy học.
- Thầy chỉ quan tâm chung.
Ngời thực hiện: NguyễnVăn Hng - Trờng THCS Quang Trung Trang 8
Skkn Vận dụng quan điểm tích cực trong dạy học Ngữ văn 7
thảo luận. - Không chú trọng tình
huống có vấn đề trong dạy
học.
3. Sau tiết học
- Thầy hớng dẫn hoạt động
tiếp theo.
- Thầy hớng dẫn chuẩn bị bài
và làm bài tập.
- Theo dõi kết quả của trò

tâm hồn trớc ngoại giới.
3. Giáo dục t tởng tình cảm.
Ngời thực hiện: NguyễnVăn Hng - Trờng THCS Quang Trung Trang 9
Skkn Vận dụng quan điểm tích cực trong dạy học Ngữ văn 7
- Cảm xúc của học sinh trớc vẻ đẹp của thiên nhiên và con ngời qua văn bản
Bài ca Côn Sơn.
- Bồi dỡng tình yêu với thiên nhiên và thấy rõ đợc nhân cách thanh cao của
Nguyễn Trãi.
4. Kỹ năng: Rèn kỹ năng đọc diễn cảm, phân tích những nét đẹp trong thơ
cổ điển.
B. Nội dung cơ bản và các bớc tiến hành.
I- Chuẩn bị:
Phơng tiện: - SGK Ngữ Văn 7 tập 1.
Dạy học: - SGK, bài soạn.
- Tranh ảnh minh hoạ cảnh trí Côn Sơn.
- Chân dung Nguyễn Trãi.
- Bảng phụ, giấy khổ to + bút dạ.
GV: - Đọc văn bản, đọc t liệu tham khảo.
- Soạn giáo án, viết bảng phụ.
- Hớng dẫn học sinh chuẩn bị bài.
HS: - Đọc kỹ SGK.
- Su tầm tranh ảnh về Côn Sơn.
- Trả lời các câu hỏi theo phần hớng dẫn đọc - hiểu văn bản SGK.
II- Hoạt động trên lớp:
1. ổn định tổ chức: KT sĩ số.
2. Tiến hành kiểm tra bài cũ:
(Cho 2 học sinh lên bảng làm bài tập trắc nghiệm và trả lời câu hỏi trên
bảng phụ giáo viên đã chuẩn bị sẵn).
- Sau khi học sinh thực hiện xong phần trả lời, giáo viên gọi học sinh nhận
xét, giáo viên nhận xét và cho điểm.

trên chiếu êm, "ta" nằm bóng mát, "ta" ngâm thơ nhàn. Qua những hành động
đó của nhân vật "ta" hiện lên một Nguyễn Trãi đang sống trong những giây phút
thảnh thơi, đang thả hồn vào cảnh trí Côn Sơn, một Nguyễn Trãi rất mực thi sĩ.
(Để làm rõ kết luận trên, giáo viên hớng dẫn học sinh lần lợt phân tích các
cặp câu sau: 1-2; 3-4; 5-6; 7-8 trong đoạn thơ).
+ Hoạt động 5: GV hớng dẫn HS trả lời câu hỏi 3 SGK.
+ Cùng với hình ảnh của nhân vật "ta", cảnh tợng Côn Sơn đợc gợi tả bằng
những chi tiết nào? Hãy nhận xét về cảnh tợng Côn Sơn?
- Với câu hỏi này, giáo viên xác lập hệ thống câu hỏi dẫn dắt nhằm phân hoá
cấp độ nội dung trong câu hỏi. Đa dạng các hình thức câu hỏi.
Cách hỏi - tình tứ, hỏi và dẫn dắt:
1. Đọc văn bản, liệt kê những hình ảnh giới thiệu cảnh vật Côn Sơn.
2. Nhận xét về những hình ảnh đợc sử dụng để tả vẻ đẹp Côn Sơn.
Ngời thực hiện: NguyễnVăn Hng - Trờng THCS Quang Trung Trang 11
Skkn Vận dụng quan điểm tích cực trong dạy học Ngữ văn 7
3. Đọc lại các chú thích 4,5 trả lời câu hỏi: Hình ảnh "thông mọc nh nêm và
bóng trúc râm" đã gợi tả vẻ đẹp đặc sắc nào của rừng Côn Sơn?
4. Phát hiện những nét đặc sắc về nghệ thuật tả cảnh thiên nhiên thể hiện
trong bài thơ.
5. Cảm xúc của em về vẻ đẹp của thiên nhiên và con ngời đợc miêu tả trong
Bài ca Côn Sơn.
- Từ các câu hỏi dẫn dắt gợi mở, hớng học sinh tới kết luận: Côn Sơn là một
cảnh trí thiên nhiên khoáng đạt, thanh tĩnh nên thơ. ở đây, có suối chảy rì rầm, có
bàn đá rêu phơi, có rừng trúc xanh màu xanh của lá, che ánh nắng mặt trời, tạo
khung cảnh cho thi nhân ngồi ngâm thơ nhàn một cách thú vị
+ Hoạt động 6 : Giáo viên gọi học sinh đọc diễn cảm đoạn thơ và đặt câu hỏi
giọng điệu chung của đoạn thơ là gì?
Trong đoạn thơ có những từ ngữ nào đợc điệp lại? Hiện tợng điệp đó góp
phần tạo nên giọng điệu của đoạn thơ này nh thế nào?
- Với câu hỏi loại này, học sinh phải thể hiện trớc hết qua giọng đọc diễn

* Hớng dẫn học ở nhà
- Học thuộc: Học thuộc lòng đoạn trích Bài ca Côn Sơn
- Đọc phần đọc thêm.
- Tìm thêm các t liệu có liên quan đến bài thơ và tác giả Nguyễn Trãi.
* Để kết thúc bài giảng, tạo d âm trong lòng học sinh, giáo viên cho một số
học sinh có giọng đọc tốt, truyền cảm, đọc và ngâm đoạn thơ Bài ca Côn Sơn.
Kết quả.
Trên đây là một số nhận biết và việc làm cụ thể của tôi trong việc vận dụng
phơng pháp dạy học theo hớng tích cực phát huy vai trò chủ động tích cực của học
sinh trong học tập qua một tiết dạy văn bản: Bài ca Côn Sơn đợc thực hành dạy tại
lớp 7A.
Qua tiết dạy tôi đã thu đợc kết quả nh sau:
- Với cách dạy trên, tôi thấy học sinh hứng thú, say mê hơn trong giờ học
văn. Các em đợc tổ chức làm việc một cách chủ động, tích cực tìm tòi, khám phá
và hiểu biết tri thức đợc nâng cao, sự cảm nhận văn bản một cách sâu sắc hơn, sau
tiết học, học sinh nắm bài, hiểu bài một cách chắc chắn hơn, sâu rộng hơn.
- Sau tiết học, kiểm tra đạt trên 90% học sinh trở lên nắm đợc nội dung bài
học. Trong đó tỉ lệ bài khá - giỏi đạt 70 -75%. So với cách dạy truyền thống trớc
đây mỗi giờ học chỉ thu đợc kết quả là 50-60% số học sinh nắm đợc bài, mà kiến
thức của các em nắm chỉ hời hợt không sâu sắc, nhiều em nhắc lại lời thầy thậm chí
không đầy đủ. Sự sáng tạo và sự phát hiện độc đáo của riêng cá nhân học sinh rất ít.
- Việc kiểm tra bài cũ, cũng nh kiểm tra ngay sau bài dạy các em đều làm bài
tốt, nhiều em viết khá hay và có sự sáng tạo riêng của cá nhân học sinh. Thậm chí
Ngời thực hiện: NguyễnVăn Hng - Trờng THCS Quang Trung Trang 13
Skkn Vận dụng quan điểm tích cực trong dạy học Ngữ văn 7
có những điều học sinh suy nghĩ, phát hiện nằm ngoài những gì giáo viên có thể
hình dung tới.
III. Kết luận chung
Trên cơ sở lí thuyết và vận dụng cụ thể trong bài giảng tôi nhận thấy rằng:
Việc đổi mới chơng trình SGK, đồng thời đổi mới phơng pháp dạy học theo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status