Nhà nước Hy Lạp - La Mã thời cổ đại
1. Địa lý - kinh tế-xã hội
1.1 Địa lý – kinh tế : nền kinh tế sớm có nhiều thành phần
- Nằm trên bán đảo Ban-can ở phía Nam châu Âu, thuận lợi cho việc thương mại,
buôn bán, họ có thể vượt qua Địa Trung Hải tới Cận Đông là Bắc Phi, phía Bắc là
Bắc Âu, phía Tây là Tây Âu và Đại Tây Dương, có nhiều thuận lợi cho giao lưu
hàng hoá, thương nghiệp, nhiều hải cảng tốt
- Sản phẩm : lúa mì, lúa đại mạch, nho(nấu rượu), ôliu (lấy dầu); nghề thủ công,
chế tạo vũ khí, công cụ sản xuất cũng rất phát triển
- Công thương nghiệp : chưa có máy móc nhưng nền kinh tế vận hành theo cơ chế
hàng hoá thị trường, có chủ nô có trong tay hàng ngàn nô lệ, nền kinh tế thị trường
La Mã rất phát triển (tương đối giống CNTB thời kỳ cận đại) à khác hoàn toàn
châu á
1.2 Xã hội
- TK 8 TCN, Hy Lạp bước vào thời kỳ XH có giai cấp tan rã một cách triệt để, tư
hữu phát riển mạnh, nó quyết định cách thức phát triển của xã hội
- XH có 3 giai cấp : chủ nô, nông dân-thị dân, nô lệ
Bảo thủ, phản động, tư tưởng chính trị : quân chủ
- khác với ở châu á, đây không phải tầng lớp lao động chính trong xã hội, là giai
cấp có địa vị chính trị, là công dân của Hy Lạp-La Mã, họp lại những cơ quan gọi
là Đại hội công dân, lag cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước.
- Xu hướng : theo nền cộng hoà
(*) Nô lệ giống châu á : không được xem là con người, lao động khổ sai, không
được hưởng thành quả lao động
2. Lịch sử Hy Lạp – La Mã
2.1 Lịch sử cổ đại Hy Lạp
Vào TK 8 TCN, nhiều thành bang, có 2 hình thúc nhà nước tồn tại là nhà nước
cộng hoà quý tộc chủ nô Spac và cộng hoà dân chủ chủ nô Aten.
Kinh tế, văn hoá, xã hội phát triển rất rực rỡ nhất là vào khoảng TK 5 TCN.
3.2 Tổ chức bộ máy nhà nước cộng hoà quý tộc chủ nô Spac
- Đứng đầu là Hai Vua (tàn dư của chế độ công xã thị tộc-đứng đầu là hai thủ
lĩnh), là thành viên trong hội đồng trưởng lão, vừa là thủ lĩnh QS, vừa là tăng lữ tối
cao, vừa là người xử án. Tuy nhiêm, khác với những ông vua chuyên chính của
phương Đông, quyền lực Hai vua không lớn lắm.
- Hội đồng trưởng lão gồm 28 vị trưởng lão và hai vua. Trưởng lão là người có đọ
tuổi từ 60 tuổi trở lên được chọn từ đội ngũ những quý tộc danh vọng, có vai trò
quan trọng trong bộ máy NN, có quyền quyết định những vấn đề liên quan đến vận
mệnh đất nước.
- Hội nghị công dân, về hình thúc là CQ quyền lực cao nhất, mọi người Spac trên
30 tuổi đều có thể tham gia hội nghị công dân. Mọi người thông qua hay phản đối
những vấn đề trong hội nghị bằng những tiếng thét chứ không được thảo luạn gì.
Khi biểu quyết những vấn đề quan trọng những người dự hội nghị chia thành hai
hàng, qua đó biết được tỷ lệ số người đồng ý hay phản đối. Tuy nhiên, hội nghị
công dân thường chỉ mang tính hình thức vì dễ xảy ra tiêu cực lại không được họp
thường xuyên mà phải tuỳ theo quyết định của Hai Vua.
- Về sau, do mâu thuẫn giữa hội đồng trưởng lão và hội nghị công dân ngày một
gay gắt nên một CQ có quyền hạn rất lớn được thành lập đó là Hội đồng 5 quan
giám sát-là đại biểu của tập đoàn quý tộc bảo thủ nhất, có quyền hành rất lớn như
giám sát vua, giám sát hội đòng trưởng lão Thực chất, nó là CQ lãnh đạo tối cao
xủa NN nhằm tập trung quyền lực vào tay tầng lớp quý tộc chủ nô.
- NN Spac đặc biệt chú trọng quân đôị. Lục quân Spac là đội quân thiện chiến.
Mọi ngưòi trong toàn đất nước đều chú ý phát triển quân đội, các bé trai được
huấn luyện từ năm 7 tuổi để trở thành chiến sĩ dũng cảm, nhanh nhẹn đến năm 20
tuổi được mặc quân phục và đến năm 60 tuổi mới được cởi bỏ bộ quần áo lính.
Trong quá trình phát triển của lịch sử Hy Lạp cổ đại, NN Spac là dinh luỹ của thế
lực chủ nô phản động nhất, chống lại những thành bang theo chính thể CH dân chủ
chủ nô. Quyền lực NN tập trung tối đa vào tay tập đoành quý tộc chủ nô và quyền
dân chủ của những người tự do bị hạn chế tới mức tối thiểu. Bởi vậy, NN Spac là
NN CH quý tộc chủ nô điển hình nhất.
phân hoá giai cấp ở tộc người Latin và tộc người Êtơrutxcơ và cuộc đấu tranh của
người Latin chống lại sự xâm lược của người Êtơrutxcơ. Xã hội người La Mã thời
kỳ này vẫn là chế độ quân sự bộ lạc, sau đó, XH dần bị phân hoá thành quý tộc
chủ nô, nô lệ, bình dân.
XH từng bước chuyển sang XH có giai cấp và nhà nước xuất hiện.
5.2 Tổ chức bộ máy NN La Mã (chính thể CH quý tộc sau đó chuyển sang
chính thể quân chủ chuyên chế chủ nô)
Cơ cấu nhà nước La Mã được hình thành trong mấy thế kỷ, đến TK 3 TCN mới
được hoàn chỉnh.
Chính thể CH quý tộc ở La Mã có những đặc điểm là ở TƯ các cơ quan chuyên
chính gồm : Nghị viện (viện nguyên lão), Đại hội nhân dân và các cơ quan chấp
chính.Nó thể hiện sâu sắc tính chất quý tộc của nhà nước La Mã. Đó là chính thể
CH quý tộc.
Nghị viện (viện nguyên lão) gồm 300 người và chỉ những người giàu có mới được
bầu vào nghị viện. Nghị viện là chính phủ, là cơ quan hành chính cấp cao nhất.
Mặc dù không có quyền lập pháp nhưng nghị viện có quyền soạn thảo tất cả các
dự thảo luật và nếu như nghị viện không đông ý thì đại hội nhân dân không thể
thông qua được luật hoặc bầu ra những quan chấp chính.
Đại hội công dân gồm có đại hội xăng-tu-ri và đại hội nhân dân.
Đại hội xăng-tu-ri là đại hội theo đơn vị quân đội của các đẳng cấp, có quyền hàn
lớn, giải quyết các vấn đề về chiến tranh, hoà bình, bầu ra các quan chức cao cấp
của NN.
Đại hội nhân dân là cơ quan lập pháp, mọi công dân đều có quyền tham gia đại hội
để giải quyết các vấn đề như những vấn đề liên quan đến lãnh thổ, các vấn đề liên
quan tới hôn nhân, gia đình, thừa kế và việc thực hiện các nghi lễ tôn giáo.
Đại hội nhân dân là đại hội chỉ mang tính hình thức, các chức vụ đều không có
lương và phải bỏ nhiều tiền để chiêu đãi, vì vậy, người nghèo khồn có điều kiện
vào những chức vụ trong bộ máy nhà nước.
Cơ quan chấp hành và điều hành những công việc hằng ngày là các cơ quan chấp
chính do đại hội nhân dân bầu ra.