Chương 1: ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA TÂM LÝ HỌC QUẢN LÝ - Pdf 16

Chương 1
ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU CỦA TÂM LÝ HỌC QUẢN LÝ.
I. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA TÂM LÝ HỌC QUẢN LÝ.
1. Khái niệm về tâm lý học quản lý
Tâm lý học là một khoa học nghiên cứu những quy luật của tâm lý
người. ngày nay tâm lý được vận dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực
như:
Tâm lý học : Tâm lý học lao động
Tâm lý học sư phạm
Tâm lý học sáng tạo
Tâm lý học quản lý
Tâm lý học quản lý là một chuyên ngành của tâm lý học, chuyên
nghiên cứu những vấn đề trong hoạt động quản lý, nhằm làm cho hoạt
động quản lý đạt được hiệu quả tối ưu.
Tâm lý học quản lý :
Tâm lý học quản lý kinh doanh,
Tâm lý học quản lý sản xuất
Tâm lý học quản lý quân sự
Tâm lý học quản lý y tế
Tâm lý học quản lý giáo dục
Tâm lý học quản lý hành chính
Hoạt động quản lý trong cơ quan quản lý hành chính nhà nước
có những đặc điểm riêng so với các tổ chức quản lý khác, vì vậy đòi
1
hỏi phải có chuyên ngành tâm lý học qủan lý chuyên biệt. Theo hướng
tiếp cận như vậy, có thể xem
Tâm lý học quản lý hành chính nhà nước là một phân ngành
của tâm lý học quản lý, chuyên nghiên cứu về những vấn đề trong tâm
lý trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước.
2. Đối tượng của tâm lý học quản lý :

tuyển chọn đánh giá sắp xếp cán bộ, trong công tác tư tưởng và công
tác kiểm tra.
Thực tế hiện nay có thể nghiên cứu những vấn đề sau
+ Những khó khăn thường gặp phải trong họat động của người
lãnh đạo
+ Xung đột tâm lý trong hệ thống xã hội, giúp cho việc tìm ra
những khâu có ý nghĩa nhất trong họat động.
+ Những vi phạm của người lãnh đạo đối với qui định về chức
vụ, sự lạm quyền
4. Ý nghĩa của việc nghiên cứu tâm lý học quản lý.
Về mặt lý luận:
Tâm lý học quản lý giúp cho nhà quản lý một hệ thống lý luận,
các qui luật chung nhất trong trong việc quản lý con người tránh được
những sai lầm trong tuyển chọn cán bộ trong giao tiếp trong họach
định kế họach quản lý.
Về mặt thực tiễn
- Giúp nhà quản lý hiểu được những người dưới quyền, giải
thích được những hành vi của họ, dự đoán truớc họ hành động như
thế nào trong tình huống sắp tới. Điều này rất cần thiết giúp cho việc
tuyển chọn, sắp xếp sử dụng con người hợp lý.
- Giúp cho nhà quản lý nắm được cách thức nhận xét đánh giá
con người một cách đúng đắn, khách quan, giúp cho nhà lãnh đạo
quản lý biết cách tác động mềm dẻo nhưng kiên quyết đến cấp dưới,
đến từng cá nhân và tâp thể phát huy tốt đa tiềm năng của họ trong
công việc thực hiện mục tiêu của tổ chức.
3
- Đối với nhân viên, cấp dưới, tri thức tâm lý học quản lý giúp họ
hiểu được tâm lý của đồng nghiệp, cấp trên, và bản thân mình, biết
cách ứng xử hợp lý, phát huy tối đa khả năng của mình trong tổ chức.
Hiểu được tâm lý quản lý sẽ hoàn thiện mình hơn.

nhiều. Chấp hành pháp luật phải nghiêm, phải chí công vô tư , vua tôi,
sang hèn đều phải tuântheo pháp luật.
+ Chính sách điều hành đất nước phải dựa vào ý dân, làm cho
dân giáu thì nước mới mạnh.
+ Dùng người phải dựa vào tài năng, không phân biệt nguồn gốc
xuất thân, lễ, nghĩa, liêm, sỹ là 4 điều cốt yếu mà người trị quốc phải
tu tỉnh và giữ gìn
Những tư tưởng về quản lý với những quan điểm về việc sử
dụng những yếu tồ tâm lý con người trong quản lý cũng xuất hiện sớm
ở phương đông qua các học thuyết sau:
1. Thuyết lễ trị của Khổng Tử
Khổng tử: (551-479TCN)Tư tưởng xuyên suốt trong học thuyết
của Khổng tử là đức trị. Với mong muốn xây dựng một xã hội phong
kíên có tôn tri trật tự từ trên xuống dưới, công bằng, nhân nghĩa và
thịnh trị, con người sống trọng tình cảm, giữ lễ nghĩa, ông đã xây dựng
học thuyết quản lý của mình nhằm phát huy những phẩm chất tốt đẹp
của con người. Lãnh đạo- cai trị cai trị dân theo nguyên tắc đức trị của
Khổng tử đòi hỏi. Người trên phải noi gương, kẻ dưới tự giác tuân
theo, lấy phép nhân trị làm nề tảng cho học thuyết của mình.
Trên cơ sở hiểu biết về nhân học và lịch sử, Khổng tử rất quan
tâm đến người quản lý. Ông khuyên những người cai trị phải tu thân
để trở thành người nhân, biết làm điều nhân, phát triển bằng nhân
tâm. Ba phẩm chất họ phải đạt được đó là: Nhân, Trí, Dũng.
Nhân là thương người, thương mình, lôi cuốn mọi người vào
công việc.
Trí là sáng suốt trong công việc, biết nghe phải trái, làm việc có
kế họach, chỉ thị rõ ràng, dám chịu trách nhiệm.
Dũng là ý chí, ý chí là gánh vác trách nhiệm trước cấp trên và
nhân dân, không đổ lỗi cho người khác
Ông cho rằng muốn thành công trong một lĩnh vực nào đấy, nhất

chủ trương dùng đức trị để cai trị dân, mơ ước về một xã hội bình
đẳng tốt đẹp, một chế độ quân chủ đứng đầu là nhà vua biết chăm lo
cải thiện đời sống của dân. Ông cho rằng cai trị là một nghề khó khăn,
phức tạp, trị nước là một nghề cao quý nên người cai trị phải được
tuyển chọn và đào tạo cẩn thận.
6
Ông nói: dân là đáng quí, sau đến xã tắc và cuối cùng mới là
vua. Theo ông xã hội lọan lạc là do chính quyền tồi tệ chứ không phải
do dân
3. Thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử
Hàn phi tử: đứng trên quan điểm pháp trị. Ông khen chính sách
đức trị là đẹp, ông lại coi nó là không thực tế quản lý đất nước theo
ông phải dựa vào pháp luật. Bởi vì pháp luật là công cụ điều khiển xã
hội. Pháp luật không phân biệt các tầng lớp khác nhau trong xã hội.
Ông cho rằng hình phạt là phương thức tất yếu để ngăn ngừa những
hành động có hại cho đất nước. Việc tuyển chọn người, dùng người
cai trị người phải dựa vào pháp, tuy nhiên pháp cũng phải biến đổi cho
phù hợp với thời thế. Ông đòi hỏi cao ở người cai trị dân, họ phải là
người biết kết hợp hài hoà giữa Pháp- thuật - thế
Về chữ thuật, ông giải thích hai nghĩa: là kỹ thuật, cách thức
tuyển dụng và kiểm tra năng lực của quan lại, tâm thuật là mưu mô để
che mắt người khác, không cho họ biết tâm ý của mình. Như vậy mới
trừ được gian, dùng được người.
Giải thích chữ thế: Hàn Phi Tử mở rộng quan điểm của mình về
nhà nước, ông cho rằng lịch sử xã hội lòai người luôn luôn biến đổi,
không có chế độ xã hội nào là vĩnh viễn, kẻ cầm quyền phải căn cứ
vào nhu cầu khách quan đương thời và xu thế của thời cuộc mà lập ra
chế độ mới.
Học thuyết pháp trị còn nêu lên nguồn gốc giàu nghèo trong xã
hội là do bất bình đẳng sinh ra.

Cách quản lý này đã tận dụng tối đa sức lao động của con
người.Con người làm việc vừa căng thẳng vừa vừa đơn điệu trong
những thao tác lặp đi lặp lại ngày này qua ngày khác, năm này qua
năm khác dễ sinh ra chán nản, mất đi hứng thú làm việc, đây đó xẩy ra
những trường hợp phá máy, lãng công rất tinh vi, đã buộc các nhà
khoa học phải suy nghĩ. Họ thấy thiếu sót của chnủ yếu của cách tổ
chức này là chưa thấy vai trò ý thức con người trong hệ thống sản
xuất và quản lý, chưa thấy được ãnh hưởng của môi trường chung
quanh đến tâm lý con người .
b) Nghiên cứu của nhà tâm lý học người Pháp H.Fayol
Có phương pháp nghiên cứu tương tự như F.Taylo nhưng họ đề
xuớng những nguyên tắc lao động hợp lý, lao động có khen thưởng và
8
trả lương lao động theo sản phẩm. Tuyển chọn công nhân phù hợp với
tính chất lao động
Hiệu quả nghiên cứu của công trình này.
+ Số lượng công nhân giảm từ 2-> 3 lần
+ Năng suất lao động tăng từ 100% -> 200%
Học thuyết Taylor và Fayol có ý nghĩa to lớn trong thực tiễn
quản lý lúc bấy giờ, nó đã khuyến khích các nhà quản lý đi tìm cách
thức tốt nhất để quản lý con người và đã góp phần thiết thực vào nâng
cao năng suất sản xuất và hiệu quả trong sản xuất công nghiệp. tuy
nhiên, do cùng xuất phát từ quan niệm triêt học về con nguời kinh tế,
từ quan niệm duy lý hay hợp lý trong hành vi của con người, họ đã
nhìn nhận con người một cách đơn giản, máy móc phiến diện. Chính
vì vậy họ không nhìn thấy khả năng sáng tạo của công nhân, coi
thường mối quan hệ giữa công nhân và người quản lý. Việc chuyên
môn hoá lao động bằng cách chia nhỏ quá trình sản xuất thành những
công đoạn nhỏ, công nhân không được tham gia vào toàn bộ quá trình
sản xuất, không được luân chuyển công việc khiến họ trở nên mệt

so sánh kết quả nhưng không rút ra được một kết luận nào cả
- Về sau người ta lựa chọn một số công nhân tương đối đồng bộ,
rồi chia ra nhóm làm việc ở hai cơ sở ngăn cách nhau hoàn toàn
Một nhóm thí nghiệm thay đổi ánh sáng trong lúc làm việc
Nhóm đối chứng; ánh sáng được giữ nguyên
Kết quả thực nghiệm: Năng suất lao động hai nhóm đều tăng. Sau
đó cả hai nhóm đều làm việc dưới ánh sáng tự nhiên như trước khi thí
nghiệm và năng suất cũng vẫn tăng. Cuối cùng người ta vẫn thấy rằng
năng suất của nhóm thí nghiệm luôn luôn tăng, mặc dù ánh sáng giảm
xuống chỉ bằng ánh sáng của trăng. Do đó người ta kết luận có yếu tố
tâm lý, quan hệ giữa người với người có ảnh hưởng rất lớn đến năng
suất lao động.
+ Tiếp đến là nghiên cứu phòng thí nghiệm lắp ráp rơ le
Các nhà nghiên cứu chọn hai công nhân và sau đó cho họ tự
chọn 4 công nhân theo ý mình tạo thành mốt nhóm lắp ráp rơ le điện
thoại gốm 16 linh kiện, các công nhân được khám sức khiỏe định kỳ
và có người theo dõi quan sát ghi nhận.
Thí nghiệm thực hiện từ 1927 – 1932. Trong quá trình đó điều
kiện làm việc được thay đổi như sau:
10
Công nhân được hưởng chế độ làm việc có thưởng
Thời gian nghỉ trưa kéo dài và có thay đổi
Nghỉ vẫn được hưởng lương
Ngày làm việc thu ngắn lại
Thứ bảy được nghỉ làm việc
Làm việc sau một chu kỳ thì tất cả các điều kiện thay đổi trên đều
bị bác bỏ, đến chu kỳ tiếp theo đều được lặp lại. Đến tháng 6 năm –
1932 sản xuất tăng 30% so với mức sản xuất đầu tiên. Mức sản xuất
như vậy tăng lên 16 chu kỳ và vẫn giữ mức cao hơn khi người ta bãi
bỏ tất cả những ưu tiên trên.

không phải là một cỗ máy sống, không phải là những bánh răng trong
cỗ máy mà là những thành viên của một nhóm có sự gắn với lợi ích
tập quán và hành vi. Trong quan hệ lẫn nhau người ta thường tuân
theo những quy tắc không chính thức, ví dụ như:
- Không nên làm việc quá mức như vậy sẽ bị đánh giá là kẻ chơi
trội
- Không nên làm việc quá ít vì đó là kẻ lợi dụng
- Không nên nói với cấp trên điều gì có hại cho một đồng nghiệp
trong nhóm, đó là kẻ mật thám.
- Không bao giờ nên sống xa cách với bạn đồng nghiệp của
mình hoặc ứng xử qua nghiêm khắc, quá nghiêm túc chức năng của
mình, nếu chức năng đó phân cách mình với đồng nghiệp, đó là kẻ lấy
lệ.
Những kết luận này xác nhận tầm quan trọng của các nhóm
không chính thức trong quản lý. Chúng cũng chứng minh rằng tiền bạc
là rất quan trọng, nhưng động cơ thực sự của con người chính là tình
cảm của con người.
Hai đại biểu M.Follet và E.Mayo những người đã lập ra học
thuyết quản lý cũng được coi là những người có công lớn cho sự ra
đời của tâm lý học quản lý với tư cách là một chuyên ngành của tâm lý
học ra đời vào những năm 30 của thế kỷ XX trên cơ sở trào lưu quản
lý theo khoa học.
Nghiên cứu sâu hơn khía cạnh tâm lý học hành vi nhà khoa học
hành vi người mỹ Mc Gregor (1906-1964) đã đóng góp cho sự phát
triển tâm lý học quản lý với hai thuyềt của mình đó là thuyết X và Y
12
Thuyết X : con người có bản chất tiêu cực :
- Con người vốn lười không thích làm việc và tìm cách né tránh
công việc
- Họ chỉ nhìn thấy tư lợi và thờ ơ lãnh đạm đối với mục tiêu của

năm.
Ở Việt nam bộ môn tâm lý học quản lý cũng được đưa vào giảng
dạy tạI trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc, sau đó dần dần đưa
vào trường Đảng khu vực. Hiện nay tâm lý học quản lý đang được
nghiên cứu và giảng dạy tại một số trường đại học. Bộ môn tâm lý học
quản lý hành chính Nhà nước đã được đưa vào chương trình giảng
dạy của học viện HCQG
III. CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÂM LÝ .
Khi nghiên cứu tâm lý học quản lý nhà nghiên cứu cũng dùng
các phương pháp nghên cứu tâm lý học nói chung và phương pháp
nghiên cứu tâm lý quản lý nói riêng:
A.Phương pháp nghiên cứu tâm lý nói chung
1. Phương pháp quan sát .
Nhà nghiên cứu trực tiếp đi thị sát quần chúng nhân dân, dùng
tai để nghe ý kiến của họ, dùng mắt để để nhìn mọi hiện tượng xã hội
nhằm thu thập những lượng thông tin chính xác, sống động tránh tình
trạng tam sao thất bản hoặc nghe những lời báo cáo sai sự thật .
Ví dụ một số công ti xí nghiệp lớn các ông chủ còn thuê một số
nhà chuyên môn tâm lý, xã hội học làm nhiệm vụ quan sát tại cổng
nhà máy, tại nơi làm việc để phát hiên ra những xúc cảm từng người.
Chính việc này đã làm giảm đi được tai nạn lao động trong nhà máy.
2. Phương pháp nghiên cứu qua kết quả, sản phẩm hoạt
động.
Đây là phương pháp nghiên cứu tâm lý gián tiếp thông qua sản
phẩm mà đối tượng nghiên cứu đã làm ra. Trong hoạt động quản lý đó
là: báo cáo, biên bản, kế hoạch, kết quả hoạt động có thể đánh giá các
đặc điểm tâm lý như năng lực chuyên môn, động cơ, thái độ với công
việc, ý chí, khả năng sáng tạo của đối tượng. Lưu ý, khi phân tích kết
quả hoạt động của người lãnh đạo cần tránh lẫn lộn giữa kết quả của
bản thân đó với kết quả của tâp thể

15
6. Phương pháp nghiên cứu tiểu sử hoạt động của những
nhà lãnh đạo, quản lý nổi tiếng.
Đó là nghiên cứu thành công và thất bại trong hoạt động quản lý,
lãnh đạo của những nhà lãnh đạo, quản lý nổi tiếng qua tiểu sử hoạt
động của họ. Phương pháp này làm góp phần làm phong phú thêm
những kinh nghiệm cho các nhà quản lý, lãnh đạo về cách thức giải
quyết các tình huống phức tạp, đa dạng trong thực tiễn quản lý. Thêm
vào đó nó giúp chúng ta trong việc xác định rõ những đặc tính
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status