BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài
Phân tích thực trạng việc làm và thu nhập
người dân của xã Hương Chữ, Hương Trà
1
MỤC LỤC
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP 1
Đề tài 1
Phân tích thực trạng việc làm và thu nhập người dân của xã Hương Chữ, Hương Trà.1
MỤC LỤC 2
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo những nghiên cứu gần đây, hơn 70% cư dân Việt Nam sống ở nông thôn, trong
đó gần 60% lao động trong nông nghiệp với 67% hộ thuần nông. Năm 2005, năng suất lao
động bình quân trong nông nghiệp chỉ bằng 1/5 trong công nghiệp và dịch vụ (tính theo GDP
bình quân đầu người), 90% hộ đói, nghèo trong tổng số hộ đói nghèo của cả nước là nông
dân. Tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn rất nghiêm trọng, có khoảng 7 triệu lao động
chưa có hoặc thiếu việc làm, mỗi năm lại bổ sung thêm 400.000 người đến tuổi lao động.
Đây cũng là thách thức lớn đối với chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn nói riêng,
phát triển đất nước nói chung. Hơn thế nữa việc làm lao động nông thôn nước ta hiện nay
còn bị chi phối bởi các điều kiện kinh tế xã hội khác sau :
- Trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), nền kinh tế nước ta
phải chấp nhận một “sân chơi” bình đẳng trong quan hệ kinh tế quốc tế - sẽ không có sự
phân biệt đối xử giữa hàng hoá, dịch vụ nội địa và nhập khẩu; phải mở cửa thị trường, bảo
hộ hạn chế, dỡ bỏ hàng rào thuế quan và tiến tới sự minh bạch trong dự báo chính sách
thương mại v.v Đây là những thách thức lớn đối với các ngành sản xuất và dịch vụ trong
nước, đặc biệt đối với sản xuất nông nghiệp.
- Công nghệ tiên tiến ngày càng thâm nhập vào lĩnh vực nông nghiệp, quy mô sản
xuất lớn và đại trà, tạo ra sức cạnh tranh khốc liệt làm cho các cơ sở sản xuất trong nước
trong đó có những hộ kinh doanh cá thể nhỏ, lẻ, manh mún hạn chế về trình độ công nghệ,
phương pháp quản lý dễ dàng lâm vào thế yếu, bị phá sản hoặc thu hẹp sản xuất. Quá trình
này sẽ dẫn tới sự cạnh tranh về cơ hội việc làm giữa lực lượng lao động mới, có trình độ
nhiên không thuận lợi, cơ sở hạ tầng còn thấp kém, chất lượng lao động còn thấp, năng suất
lao động chưa cao. Những yếu tố đã làm cho thu nhập người dân trong xã còn thấp, vì vậy
đời sống vật chất của họ còn gặp nhiều khó khăn. Thực trạng đó đặt ra một áp lực lớn cho
việc phát triển kinh tế - xã hội xã Hương Chữ nói riêng cũng như huyện Hương Trà tỉnh
Thừa Thiên Huế nói chung.
3
Cũng bởi lý do đó mà chúng tôi chọn đề tài “ Phân tích thực trạng việc làm và thu
nhập người dân xã Hương Chữ huyện Hương Trà tỉnh Thừa Thiên Huế ”. Mục đích
nghiên cứu của chúng tôi là đưa ra thực trạng về việc làm và thu nhập của xã Hương Chữ
nhằm giúp chúng ta có thể nhìn nhận một cách khái quát về vệc làm và đời sống của người
dân trong xã, từ đó có thể đưa ra một số biện pháp nhằm tạo thêm được nhiều việc làm cho
người dân đồng thời nâng cao thu nhập cho họ để họ có cơ hội cải thiện mức sống hiện tại.
Nội dung đề tài xác định được những vấn đề sau:
- Đánh giá thực trạng việc làm và thu nhập lao động của xã Hương Chữ
- Nguyên nhân ảnh hưởng đến việc làm và thu nhâp cảu lao đọng xã Hương Chữ
- Đưa ra một số giải pháp góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho lao động xã
- Kiến nghị một số chính sách đối với vấn đề tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho la
động xã
Để thực hiện được mục đích đó, trong quá trình thục hiện nghiên cứu đề tài chúng tôi
đã sử dụng một số biện pháp sau :
Phương pháp điều tra chọn mẫu : số mẫu được chọn trên 48 hộ dân theo tiêu chuẩn
giàu nghèo của hộ điều tra bao gồm hộ giàu, khá, trung bình và hộ nghèo. Theo các ngành
nghề dịch vụ các hộ bao gồm thuần nông, hộ nông kiêm và hộ chuyên ngành nghề dịch vụ.
Phương pháp tổng hợp tài liệu: được tiến hành trên cơ sở phân tổ thống kê theo các
tiêu thức khác nhau: cơ cấu thu nhập, mức thu nhập, đất nông nghiệp bình quân 1 lao động,
cơ cấu ngành nghề, dịch vụ.
Phương pháp phân tích tài liệu : Đề tài đã sử dụng phương pháp số tuyệt đối, số
tương đối, số bình quân, phương pháp so sánh và các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập và
việc làm của lao động, phân tích các vấn đề kinh tế xã hội và các vấn đề có liên quan khác
nhằm đáp ứng mục đích nghiên cứu đã đề ra.
Như vậy,về lượng nguồn lao động trong nông nghiệp khác ở chỗ nó không không chỉ
gồm những người trong độ tuổi lao động mà còn bao gồm nhưng người trên và cả dưới tuổi
quy định có khả năng và thực tế tham gia lao động .Về chất lượng gồm cả thể lực và trí lực
của người lao động,cụ thể là trình độ sức khoẻ trình độ nhận thức, trình độ chính trị, trình độ
văn hoá, nghiệp vụ và tay nghề lao động.
Nguồn nhân lực trong nông nghiệp có những đặc điểm riêng so với các nghành sản
xuất vật chất khác nhau,trước hết mang tính thời vụ cao là net đặc trưng điển hình tuyệt đối
không thể xoá bỏ,nó làm phức tạp thêm quá trình sử dụng các yếu tố nguồn lực trong nông
nghiệp.Là thứ lao động tất yếu ,xu hướng có có tính quy luật là không ngừng thu hẹp về số
6
lượngvà được chuyển một bộ phận sang các nghành khác, trước hết là công nghiệp với các
lao động trẻ, khoẻ có trình độ văn hoá,kỹ thuật.Vì thế nhưng lao động ở lại trong khu vực
nông nghiệp thường là những người có độ tuổi trung bình cao và tỉ lệ này có xu hướng tăng
lên.
Lao động nông nghiệp đòi hỏi kỹ thuật cao và rất khó tự động hoá, cơ giới hoá.Lao
động nông nghiệp tiếp xúc với cơ thể sống, đặc biệt là với gia súc cơ thể sống có hệ thần
kinh. Vì vậy những hành vi trong sản xuất nông nghiệp không phải linh hoạt, chính xác,khéo
léo mà còn phải cảm nhận tinh tế trước đối tượng. Ví dụ như trong công việc vắt sữa bò
không những đòi hỏi phải nặng nhẹ đúng kỹ thuật mà còn phải biết được phản ứng của dộng
vật trước ngoại cảnh thậm chí phải cảm nhận được phản xạ tâm lý của nó.
1.1.2-Việc làm.
Việc làm là một trong những vấn đề cơ bản nhất của mọi quốc gia nhằm góp phần
đảm bảo an toàn ổn định và phát triển xã hội. Hội nghị thượng đỉnh Copenhagen tháng 3
năm 1995 coi việc mở rộng việc làm là một trong những nội dung cơ bản nhất trong chiến
lược phát triển kinh tế xã hội của các nước trên thế giới đến năm 2010.
Theo điều 13 của nước CHXHCN Việt Nam năm 1994 ghi: “Mọi hoạt động tạo ra
nguồn thu nhập không bị pháp luật nghiêm cấm được coi là việc làm”
Với khái niệm trên,các hoạt động được xác định là việc làm bao gồm:
-Làm những công việc được trả công dưới dạng tiền hoặc hiện vật.
-Những công việc tự làm để mang lại lợi ích cho bản thân hoặc tạo ra thu nhập cho
như sau:
8
- Người đủ việc làm: là những người có điều kiện sử dụng hết thời gian lao động theo
quy định. Trong thống kê lao động-việc làm ở Việt Nam thì những người có đủ việc làm bao
gồm những người có số giờ làm việc trong tuần lễ tính đến thời điểm điều tra lớn hơn hoặc
bằng 40h hoặc những người có số giờ làm việc nhỏ hơn 40h nhưng lớn hơn hoặc bằng giờ
quy định đối với những người làm công việc nặng nhẹ, độc hại theo quy định hiện hành. Số
giờ quy định trên có thể thay đổi theo từng năm học hoặc từng thời kỳ.
- Người thiếu việc làm: Bao gồm những người mà tại thời điểm điều tra không sử
dụng hết thời gian lao động quy định và nhận được thu nhập từ công việc khiến họ có nhu
cầu làm thêm.
- Tình trạng thiếu việc làm còn gọi là bán thất nghiệp. Đây là hiện tượng thường thấy
ở lao động nông thôn làm việc mùa vụ, lao động ở khu vực thành thị không chính thức, lao
động ở các cở sở sản xuất kinh doanh đang gặp khó khăn, lao động nhà nuớc dôi dư.
- Người thất nghiệp: Là những người trong độ tuổi lao động, có sức lao động nhưng
chưa có việc làm, đang có nhu cầu làm việc nhưng chưa có việc làm.
Đối lập với việc làm, thất nghiệp là tình trạng có tính quy luật của nền kinh tế thị trường.
Có nhiều quan niệm khác nhau về thất nghiệp. Theo tổ chức lao động quốc tế ILO, thất
nghiệp là tình trạng tồn tại của những người lao động muốn có việc làm nhưng không tìm
được việc làm vì những lý do ngoài ý muốn của họ, do đó không có thu nhập.
Như vậy thất nghiệp là những người có khả năng lao động, có nhu cầu lao động
nhưng hiện tại không có việc làm, đang tích cực tìm việc hoặc đang chờ đợi trở lại làm việc.
Thực tế ở nước ta trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường, giải quyêt tình trạng
thất nghiệp luôn là vấn đề bức thiết. Dưới giác độ chính sách việc làm, để hạn chế thất
nghiệp, chúng ta vừa phải tạo ra nhiều việc làm mới vừa phải tránh tình trạng người lao động
đứng trước nguy cơ mất việc làm. Chính phủ cần có chính sách hỗ trợ, trợ cấp cho người bị
thất nghiệp.
Dân số không hoạt động kinh tế: Đó là gồm những người có độ tuổi từ 15 tuổi trở lên,
họ không tham gia hoạt động kinh tế là bởi vì:
9
ăn cho cây trồngvà thông qua sự phát triển của trồng trọt tạo điều kiện cho nghành chăn nuôi
phát triển. Do đó, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, quan trọng không thể thay thế được của
sản xuất nông nghiệp. Nếu con người biết sử dụng đất đai hơp lý và có hiệu quả thì sẽ làm
tăng sức sản xuất của đất đai từ đó làm tăng năng suất của cây tròng vật nuôi. Đất đai được
sử dụng một cách manh mún, phân tán không những gây khó khăncho sản xuất nông nghệp
mà còn ảnh hưởng tới việc làm của lao động nông thôn.
Thứ hai: Khí hậu thời tiết.
Nước ta là một nước nông nghiệp, hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ
và phụ thuộc rất lớn vào thời tiết khí hậu. Chính vì vậy, ảnh hưởng rất lớn tới kêt quả sản
xuất của lao động nông thôn.
Do điều kiện địa hình, địa mạo mà đặc điểm khí hậu, thời tiết của mỗi vùng không
giống nhau, tạo nên một hệ thống cây trồng, vật nuôi đa dạng ở mỗi địa phương khác nhau.
Nước ta thuộc vùng khí hậu nhiệt đới pha tính chất ôn đới, số giờ nắng trong năm khá cao và
nhiều đặc trưng khác rât thuận lợi cho việc trồng xen trồng gối, tăng vụ và thâm canh. Nhờ
nhũng ưu thế đó, nhiều nơi đã thực hiện gieo trồng được ba bốn vụ trong năm, tăng nhu cầu
sử dụng lao động.
Bên cạnh những thuận lợi trên, nền nông nghiệp nước ta cũng gặp phải nhiều khó
khăn ảnh hưởng xấu đén sản xuất nông nghiệp: lũ lụt, hạn hán, sâu bệnh…Làm ảnh hưởng
đến năng suất và chất lượng của cây trồng vật nuôi. Vì thế, tổ chức tạo việc làm cho lao động
nông thôn ở mỗi vùng, mỗi địa phương cần phải căn cứ vào yếu tố tự nhiên của địa phương
mình sao cho hiệu quả nhất.
12
Thứ ba: Dân số và lao động.
Dân số và sự phát triển xã hội là những yếu tố vận động theo những quy luật khác
nhau trong quá trình tái sản xuất xã hội nhưng lại có quan hệ hữu cơ với nhau. Một trong
những mối quan hệ quan trọng giữa dân số và lao động là vấn đề tăng trưởng lao động và cơ
hội tạo việc làm phù hợp71.89% dân số lao động nông thôn (tổng cục thống kê năm 2008).
Tốc độ tăng dân số tự nhiên ở khu vực nông thôn cao hơn thành thị nhưng đất đai có hạn làm
cho diện tích bình quân đầu người nói chung có xu hướng giảm xuống. Ở nhiều vùng nông
thôn, nông dân đã cố gắng thay đổi cơ cấu cây trồng, thực hiện tốt việc luân canh tăng vụ,
Chính sách nông nghiệp nông thôn là tổng thể các biện pháp kinh tế phi kinh tế của
nhà nước có liên quan đến nông nghiệp nông thôn nhằm tác động vào nông nghiệp nông
thôn theo những mục tiêu nhất định trong một thời hạn nhất định.
Ở Việt Nam từ những năm 1980 trở lại đây Đảng và nhà nước áp dụng hàng loạt
chính sách nông nghiệp nông thôn: Chính sách giao quyền sử dụng đất ổn định và lâu dài
đến hộ nông dân đã tạo ra sự yên tâm phấn khởi, khuyến khích người nông dân đầu tư lâu
dài vào sản xuất. Quyền tự chủ tính sáng tạo của nông dân được phát huy.
Các chính sách cho vay vốn đến các hộ nông dân vay vốn theo dự án, vay vốn tính
chất thông qua hội đồng nông dân, hội phụ nữ, Đoàn thanh niên đã tạo điều kiện mở rộng
nghành nghề tạo thêm nhiều việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân. Nhờ đó đời sống
nhân dân nhiều hộ đã đi lên, tỷ lệ hộ nghèo đã và đang giảm.
Các chính sách đầu tư với phương châm “nhà nước và nhân dân cùng làm” đã huy
động nguồn vốn của trung ương và địa phương nhất là nguồn vốn trong nhân dân vào xây
dựng cơ sở hạ tầng, giao thông nông thôn hệ thống điện, các công trình thủy lợi tưới tiêu, vì
thế năng suất cây trồng vật nuôi được nâng cao.
Như vậy, chính sách nông nghiệp đóng vai trò quan trọng và là yếu tố bao trùm tác
động mạnh mẽ, bảo đảm sự thành công của chiến lược phát triển kinh tế xã hội nông thôn.
14
Thứ bảy:giá cả nông sản.
Giá cả nông sản là nhân tố quyết định đến thu nhập của lao động nông nghieepj khi
khối lượng sản xuất như nhau.Tính chất mùa vụ và tính vùng của sản phẩm nông nghiệp ảnh
hưởng cực lớn đến cung nông sản làm cho giá cả của chúng thường bấp bênh.Vì vậy, xây
dựng cơ sở hạ tầng nông thôn như đường xá giao thông ,hệ thống thông tin liên lạc,cơ sở chế
biến nông sản tại chỗ sẽ góp phần ổn định giá cả hàng hóa ,ổn định thu nhập cho người nông
dân.
1.3- XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG NGUỒN LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP.
Qua những phân tích về tính chất của nguồn lao động nông nghiệp ta thấy lao động
trong lĩnh vực nông nghiệp không phải cố định mà nó luôn luôn biến đổi. Sự biến đổi của lao
động nông nghiệp do tác động của các nhân tố: Tự nhiên và cơ học. Nhân tố tự nhiên cho
thấy lao động nông nghiệp có xu hướng tăng lên do dân số tăng. Nhân tố cơ học cho thấy lao
(Không bao gồm lực lượng an ninh, quốc phòng)
Qua bảng số liệu trên ta thấy số lao động nước ta có xu hướng tăng dần từ 41,59 triệu
người năm 2004 lên con số 44,92 triệu người năm 2008. Số lượng lao động nông nghiệp
nước ta có xu hướng giảm dần qua các năm từ con số 23,03 triệu người ( chiếm 55,37%
tổng số lao động) năm 2004 xuống còn 21, 95 triệu người ( chiếm 48,87% tổng số lao động)
năm 2008.
16
Điều này phù hợp với quy luật biến đổi của nguồn lao động nông nghiệp như ta đã nói
ở trên. Số lao động tăng lên là do tỷ lệ gia tăng dân số nước ta vẫn còn khá cao (tỷ lệ tăng
dân số bình quân năm trong giai đoạn 1999-2009 là 1,2%/năm), kéo theo đó số người bước
vào độ tuổi lao động cũng tăng theo. Vì vậy tổng số lao động nước ta có xu hướng tăng.
Những năm gần đây chính phủ đã thực hiện nhiều chính sách nhằm thúc đẩy quá trình
công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và đã được những thành tựu to lớn, cơ sở hạ tầng
cũng được nâng cấp, nhiều ngành kinh tế quốc dân được phát triển đòi hỏi nhu cầu lao động
với số lượng lớn. Để đáp ứng nhu cầu đó một phần lao động nông nghiệp chuyển sang các
ngành kinh tế quốc dân để đáp ứng nhu cầu đó. Thêm vào đó nền kinh tế phát triển kéo theo
sự phát triển của khoa học kỹ thuật, chúng được áp dụng ngày càng nhiều vào trong nông
nghiệp nhằm nâng cao năng suất lao động dẫn đến hiện tượng dư thừa lao động trong nông
nghiệp buộc họ phải chuyển sang các ngành kinh tế khác. Với những lý do chính trên đã làm
cho số lao động trong nông nghiệp trong những năm qua có xu hướng giảm dần về cả mặt
tương đối lẫn tuyệt đối.
1.4- VẤN ĐỀ VIỆC LÀM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY.
So với nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam có nguồn lao động rất dồi dào và sung
sức với 46,7 triệu lao động, trong khi hàng năm bổ sung thêm hơn 1 triệu người đến tuổi lao
động. Tạo việc làm và sử dụng hiệu quả số lao động này đang là quan tâm của cả xã hội.
Để thực hiện tốt việc giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động chúng ta cần xác
định được các tiền đề quan trọng sau:
- Về phía Nhà nước cần có những chính sách, quy chế luật pháp tạo môi trường vĩ mô
thuận lợi cho sự phát triển kinh tế.
- Phát triển mạnh mẽ các ngành kinh tế để có thêm nhu cầu về lao động từ đó người
LAO ĐỘNG TRONG ĐỘ TUỔI NĂM 2008 PHÂN THEO VÙNG.
18
Chỉ tiêu
Tỷ lệ thất nghiệp(%) Tỷ lệ thiếu việc làm(%)
Chung
Thành
thị
Nông
thôn
Chung
Thành
thị
Nông
thôn
CẢ NƯỚC 2,38 4,65 1,53 5,10 2,34 6,10
Đồng bằng sông Hồng 2,29 5,35 1,29 6,85 2,13 8,23
Trung du và miền núi phía Bắc 1,13 4,17 0,61 2,55 2,47 2,56
Bắc Trung Bộ và duyên hải miền
Trung
2,24 4,77 1,53 5,71 3,38 6,34
Tây Nguyên 1,42 2,51 1,00 5,12 3,72 5,65
Đông Nam Bộ 3,74 4,89 2,05 2,13 1,03 3,69
Đồng bằng sông Cửu Long 2,71 4,12 2,35 6,39 3,59 7,11
Nguồn: Tổng cục thống kê 2008-http://www.gso.gov.vn
Một hạn chế lớn là chất lượng lao động còn thấp, mặc dù tỷ lệ lao động được đào tạo
đã tăng lên gần 35% nhưng trình độ, kỹ năng chuyên sâu của nhiều lao động Việt Nam chưa
thích ứng với yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động trong nước cũng như nước
ngoài. Một số lao động làm việc ở nước ngoài thiếu ý thức tổ chức, kỷ luật, vi phạm pháp
luật nước sở tại, gây ảnh hưởng không tốt đối với lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài.
Đứng trước tình hình kinh tế trong nước và thế giới hiện nay, Bộ Lao động - Thương
1.5- THỰC TRẠNG THU NHẬP CỦA DÂN CƯ NÔNG THÔN NƯỚC TA NHỮNG
NĂM GẦN ĐÂY.
Nền kinh tế nước ta đang chuyển dich nền kinh tế sang nền kinh tế thị trường, đẩy
mạnh quá trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước chính vì vậy thu nhập của người
lao động cũng được tăng lên đáng kể, cuộc sống của người dân từng bước được cải thiện. Về
thu nhập lần đầu tiên thu nhập đầu người của VN đã chạm con số 1.000 USD, giúp Việt Nam
thoát ra khỏi nhóm nước có thu nhập bình quân đầu người thấp nhất thế giới. Tuy nhiên với
mức thu nhập bình quân đầu người đó chỉ bằng 1/4 so với Thái Lan và khoảng 1/35 so với
Singapore. Với người lao động là cán bộ, công nhân, viên thu nhập bình quân một tháng của
lao động khu vực Nhà nước đạt 2,7 triệu đồng, tăng 28,6% so với năm trước, trong đó thu
nhập của lao động khu vực Nhà nước do trung ương quản lý đạt 3,4 triệu đồng, tăng 36%;
thu nhập của lao động khu vực Nhà nước địa phương quản lý đạt 2,2 triệu đồng, tăng 22,2%.
20
Về mặt số liệu là có tăng lên đáng kể nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu người lao động chi
trả cho cuộc sống. Với người lao động nông thôn thuần nông thì vẫn còn ở mức thấp chỉ vào
khoảng 450.000 đồng/ tháng. Với mức thu nhập này không đảm cuộc sống hằng ngày cho
họ. Thêm vào đó thiên tai, dịch bệnh trên gia súc, gia cầm xảy ra liên tiếp; giá cả hàng hoá
tiêu dùng, xăng dầu và vật tư nông nghiệp tăng cao đã tác động không nhỏ đến sản xuất và
đời sống của nông dân. Theo báo cáo của các địa phương, năm 2008 cả nước có 957,5 nghìn
lượt hộ thiếu đói và 4 triệu lượt nhân khẩu thiếu đói. So với năm 2007, số lượt hộ thiếu đói
tăng 32,3%, số lượt nhân khẩu thiếu đói tăng 32,7%. Tình trạng thiếu đói tập trung nhiều ở
các tỉnh vùng Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, Tây
Nguyên. Vì thế họ buộc phải làm thêm các ngành nghề phụ để nâng cao thêm thu nhập đảm
bảo thu nhập.
Đứng trước tình hình đó Chính phủ đề ra đến năm 2015, cả nước sẽ có trên 20%
trong tổng số gần 10.000 xã đạt chuẩn nông thôn mới, thu nhập của người dân nông thôn sẽ
tăng trên 1,5 lần, đồng thời giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 8%. Đến năm 2020, các tỷ lệ
trên sẽ là 50% số xã (tương đương khoảng 5.000 xã) đạt tiêu chuẩn nông thôn mới, thu nhập
dân cư tăng gấp 2 lần và tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn dưới 3%.
động có thể dùng để sản xuất kinh doanh hoặc ngành nghề dịch vụ trong năm.
1.6.2-Các chỉ tiêu bình quân:
Tổng số ngày công
+ Công bình quân 1 lao động/năm =
Tổng số lao động
Tổng diện tích canh tác
+Diện tích canh tác bình quân =
Tổng số lao động
Tổng thu nhập
+ Thu nhập bình quân =
Tổng số lao động
22
Tổng vốn đầu tư
+ Mức vốn đầu tư bình quân =
Tổng số lao động
CHƯƠNG II: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA XÃ HƯƠNG CHỮ,
HUYỆN HƯƠNG TRÀ , TỈNH THỪA THIÊN HUẾ.
2.1 -ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN.
2.1.1- Vị trí địa lý _Địa hình.
Hương Chữ là một xã đồng bằng và bán sơn địa, thuộc huyện Hương Trà có Quốc lộ
1 A và đường Tây Nam Huế đi qua. Cách trung tâm huyện 6 km về phía Nam và thành phố
Huế 10 km về Phía Bắc. Xã nằm trên nút đường giao thông quan trọng : Quốc lộ 1A và
đường Tây Nam thành phố Huế có tuyến đường tỉnh lộ 12B.
Phía Đông tiếp giáp với xã Hương An và xã Hương Sơ (Thành phố Huế).
Phía Tây giáp xã Hương Xuân.
Phía Nam giáp xã Hương Hồ và xã Hương An.
I. Đất nông nghiệp
1. Chia theo NĐ 64
2. Đất 5%
3. Vườn tạp
4. Bàu sen
5. Mộ
6. Đất không chia
II. Đất lâm nghiệp
III. Đất chuyên dùng
IV. Đất ở.
V. Đất chưa sử dụng ( đồi núi)
612,30
428,62
31,98
113,12
5,57
10,2
22,81
300,85
196,31
28,89
293,65
42,8
29,93
2,23
7,92
0,39
0,713