I. TÊN ĐỀ TÀI
“HIỆU TRƯỞNG CHỈ ĐẠO SỰ PHỐI HỢP GIỮA GIÁO VIÊN CHỦ
NHIỆM VỚI GIA ĐÌNH VÀ HỘI CHA MẸ HỌC SINH NHẰM NÂNG
CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC CHO HỌC SINH”
II. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Quá trình giáo dục về bản chất là một quá trình tổ chức cuộc sống (học tập,
lao động, sinh hoạt tập thể, vui chơi giải trí, ) cho học sinh. Là một quá trình
chuyển hoá tự giác, tích cực những yêu cầu chuẩn mực xã hội thành hành vi, thói
quen tương ứng ở người học dưới vai trò chủ đạo của người giáo viên.
Thực chất vai trò của nhà giáo dục là việc tổ chức hợp lý các điều kiện và
mọi ảnh hưởng tác động đến hoạt động của học sinh. Vai trò hoạt động của nhà
sư phạm và nhà trường trong hoàn cảnh môi trường xã hội, quan hệ xã hội ngày
càng đa dạng, phong phú. Đó không chỉ là việc tổ chức tốt giáo dục trong nhà
trường mà còn phải tổ chức phối hợp tất cả các tác động, các lực lượng của toàn
xã hội tạo ra rự thống nhất yêu cầu, môi trường giáo dục, phát huy mọi tiềm
năng của xã hội, nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp của các tác động xã hội đến quá
trình hình thành và phát triển nhân cách của học sinh và tập thể học sinh. Hiệu
quả của hoạt động giáo dục phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhiều điều kiện khách
quan và chủ quan của các chủ thể tham gia và quá trình giáo dục. Nhưng trong
quá trình thực hiện công việc này thì người giáo viên chủ nhiệm (GVCN) đóng
một vai trò vô cùng quan trọng trong việc tổ chức giáo dục học sinh.
Như chúng ta đã biết, người GVCN ngoài chức năng cơ bản của người giáo
viên là giảng dạy và giáo dục, còn có vị trí và chức năng cụ thể khác như: GVCN
lớp là người thay mặt Hiệu trưởng để quản lý toàn diện học sinh trong một lớp.
GVCN là cầu nối giữa Hiệu trưởng và GV khác, các tổ chức khác trong nhà
trường với học sinh và tập thể lớp chủ nhiệm. GVCN là người cố vấn cho các
hoạt động tự quản của tập thể học sinh và đặc biệt GVCN là người đại diện cho
nhà trường trong công tác phối hợp với gia đình, cha mẹ với học sinh và các lực
lượng xã hội nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục của lớp chủ nhiệm.
1
Nếu vấn đề này được trình bày thành công, có tính khả thi trong thực tiễn
thì việc áp dụng nó vào công tác giáo dục ở Trường THCS Hướng Hiệp của
GVCN lớp sẽ đạt kết quả cao trong công tác giáo dục cũng như việc thực hiện xã
hội hoá giáo dục ở xã nhà và giúp cho các Trường trung học cơ sở khác cùng
thực trạng nói trên có điều kiện tham khảo, áp dụng một số biện pháp vào đơn vị
mình. Đưa sự nghiệp giáo dục của Huyện nhà nói chung và xã Hường Hiệp nói
riêng ngày một đi lên.
III. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Quan điểm tiếp cận tổng hợp đối với quá trình sư phạm đòi hỏi phải tổ chức
đúng đắn và kết hợp chặt chẽ quá trình giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và
quá trình giáo dục xã hội thành một quá trình thống nhất, liên tục, hướng vào
việc phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh. Nhưng muốn làm tốt công tác
này, người giáo viên không những có kiến thức về giáo dục nhà trường, mà cần
phải có hiểu biết về giáo dục gia đình, giáo dục xã hội, tri thức và kỷ năng trong
việc tổ chức phối hợp giáo dục của nhà trường, gia đình và xã hội. Trong công
tác giáo dục việc phồi hợp này có một ý nghĩa hết sức quan trọng.
Trong chế độ chúng ta mục đích và nội dung giáo dục của nhà trường, gia
đình và xã hội thống nhất với nhau, đều nhằm đào tạo và giáo dục thế hệ trẻ trở
thành người có tài, có đức, có năng lực thực hành, năng động và sáng tạo thành
những người chủ tương lai của đất nước. Chính vì xuất phát từ tinh thần trách
nhiệm đối với dân tộc, tình thương yêu đối với con em mình mà nhà trường, gia
đình và xã hội phải phối hợp, liên kết chặt chẽ với nhau để chăm sóc, giáo dục
học sinh trở thành những con người có ích cho xã hội.
Mặt khác giáo dục nhân cách cho học sinh là một quá trình khó khăn, phức
tạp, lâu dài và liên tục, bao gồm các ảnh hưởng khác nhau của gia đình, nhà
trường và xã hội. Vì vậy nếu kết hợp nhau lại sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp, tạo
nên sự thống nhất và liên tục. Hơn nữa học sinh của chúng ta sinh sống và học
tập không phải chỉ có ở trường mà còn sống ở gia đình và xã hội, tạo điều kiện
để các em được giáo dục ở mọi nơi, mọi chổ, mọi lúc.
3
4
những yêu cầu xã hội vĩ mô (từ cộng đồng, nơi ở, nơi học tập, nơi công tác đến
môi trường địa phương, huyện, tỉnh, quốc gia, quốc tế ) Gia đình tiếp nhận,
sàng lọc, xử lý thông tinh, có vai trò định hướng giá tri đạo đức cho mỗi công
nhân, cho thế hệ trẻ là những thành viên trong gia đình. Gia đình là cầu nối giữa
cá nhân với cộng đồng xã hội từ vi mô đến vĩ mô nên có ảnh hưởng mạnh mã
sâu sắc và toàn diện với học sinh.
b. Đặc điểm giáo dục gia đình.
Giáo dục gia đình có những đặc điểm khác với giáo dục của nhà trường.
Trước hết, giáo dục gia đình có tính xúc cảm nhiều hơn so với bất kỳ lĩnh vực
giáo dục nào khác. Vì nó dựa trên tình thương yêu của cha mẹ đối với con cái và
tình cảm quyến luyến, tin cậy của con cái đối với cha mẹ. Sống trong gia đình trẻ
em được che chở, đùm bọc, thương yêu, nên những suy nghĩ, tình cảm, ước
muốn, lối sống của các em đều chịu ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài của gia đình.
Trong gia đình trẻ em thường chỉ bắt chước sự đánh giá của người lớn về các
vấn đề và phương diện khác nhau: hành vi, thói quen đạo đức, sự kiện chính trị,
xã hội.
Là một tế bào xã hội, gia đình dìu dắt con cái thích ứng dần vào đời sống xã
hội, mở rộng từng bước nhản quang và kinh nghiệm của trẻ em. gia đình còn là
một nhóm xã hội nhỏ không đồng nhất về lứa tuổi, giới tính,nghề nghiệp Điều
này cho phép trẻ em biểu hiện một cách rõ hơn những năng lực trí tuệ và tình
cảm của mình thuận lợi và nhanh chóng hơn các môi trường xã hội khác. Gia
đình thường để lại những dấu ấn sâu sắc trong nhân cách trẻ. Những phẩm chất,
nhân cách của cha mẹ, niềm tin, bầu không khí tâm lý, lối sống, truyền thống,
của gia đình thường để lại những dấu ấn sâu sắc và bền vững ở trẻ. Trong gia
đình những mối quan hệ thân thiết, gắn bó, đùm bọc, yêu thương lẫn nhau cũng
để lại những dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn trẻ.
Song những đặc điểm này của giáo dục gia đình có những mặt thuận lợi và
những mặt không thuận lợi trong việc giáo dục học sinh. Tình yêu thương sâu
sắc, rộng lớn của cha mẹ đối với con cái và sự kính yêu, tôn trọng của con cái
nhà trường và GVCN về vấn đề kiểm tra, đánh giá tình hình học tập, rèn luyện tu
6
dưỡng cũng như đại diện cho tiếng nói của quần chúng nêu lên các kiến nghị với
nhà trường.
Hội cha mẹ học sinh có chức năng là người tập hợp những đóng góp của gia
đình học sinh về mọi mặt, là người luôn theo dõi sát sao tình hình học tập, cũng
như rèn luyện các hành vi và phẩm chất đạo đức của học sinh trong lớp, ở trường
cũng như ở nhà. Luôn kịp thời góp ý, bàn bạc với giáo viên và cha mẹ học sinh
đễ giúp đỡ kịp thời, đồng thời hội còn góp phần tổ chức các hoạt động, phối hợp
các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường nhằm hổ trợ cho việc thực hiện mục
tiêu giáo dục của nhà trường. Ngoài ra hội còn thay mặt cha mẹ học sinh trong
lớp góp ý với giáo viên những vấn đề nảy sinh trong quá trình dạy học và giáo
dục học sinh ở trường mà cha mẹ học sinh ngại không dám nói.
Hội cha mẹ học sinh là tổ chức nhằm liên kết, phối hợp giáo dục của nhà
trường với gia đình để tạo ra sự thống nhất nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục học
sinh trong và ngoài nhà trường, quản lý chặt chẻ thời gian hoạt động của HS
Hội cha mẹ học sinh có nhiệm vụ quán triệt mục tiêu giáo dục, nhiệm vụ
năm học tới các bậc phụ huynh. Truyền đạt những yêu cầu, nội dung giáo dục và
tổ chức hoạt động của học sinh ngoài nhà trường, ở gia đình theo kế hoạch của
lớp, trường đặt ra. Hội có nhiệm vụ tổ chức, trao đổi kinh nghiệm giáo dục, giúp
nhau có những biện pháp, hình thức tổ chức cho con em tự học ở nhà có kết quả.
Ngoài ra hội cha mẹ học sinh còn có nhiệm vụ liên hệ với các tổ chức xã
hội, đoàn thể quần chung, cơ sở sản xuất ở địa phương để giúp đở hoạt động của
nhà trường, của lớp học.
Hội có thể giúp đở nhà trường, GVCN tổ chức hoạt động học tập, hoạt động
giáo dục của học sinh cac lớp.
Hội còn có nhiệm vụ huy động các lực lượng xã hội giúp trường về mọi
măt, có thể là xây dựng, sửa chữa trường lớp bàn ghế, trang thiết bị chăm sóc
giúp đỡ thầy cô giáo của nhà trường như tổ chức ngày Nhà Giáo Việt Nam, giúp
đỡ các thầy cô giáo có hoàn cảnh đặc biệt
2. Thực trạng của nhà trường trong việc giáo dục nhằm nâng cao chất
lượng dạy và học cho học sinh.
Trực tiếp giáo dục, giảng dạy cho học sinh là tập thể các thầy cô giáo, anh
chị Tổng phụ trách và đặc biệt gần gủi nhất với các em là giáo viên chủ nhiệm.
Nhà trường là nơi đào tạo thế hệ trẻ, là nơi giảng dạy văn hóa, giáo dục đạo đức
cho học sinh nhưng bên cạnh đó cần phải có sự phối hợp của gia đình cũng như
xã hội. Phần nhiều các bậc phụ huynh học sinh ở đây chưa thực sự quan tâm đến
con em từ việc dạy dỗ con em học hành đến việc giáo dục đạo đức cho con cái.
Việc giảng dạy và giáo dục học sinh còn khoán trắng cho nhà trường. Vì vậy,
giáo viên chủ nhiệm các thầy cô đã tự nhận thấy trách nhiệm nặng nề của mình
là không những giảng dạy văn hóa cho học sinh mà còn phải giáo dục đạo đức
9
cho học sinh để các em trở thành một học sinh có kiến thức tốt, có phẩm chất
đạo đức tốt.
3. Thực trạng của giáo viên chủ nhiệm lớp trong việc phối hợp với gia
đình và hội cha mẹ học sinh:
Bên cạnh những thành tựu không thể phủ nhận được mà phạm vi đề tài
này không đề cập đến của GVCN với việc phối hợp với gia đình học sinh, thì
việc phối hợp đó còn có những mặt hạn chế sau:
Đa số GVCN chỉ thực hiện nhiệm vụ giảng dạy gói gọn trong nhà trường,
trên lớp học. Họ chưa xác định được ý nghĩa của việc phối hợp với gia đình học
sinh là nhiệm vụ chủ yếu của GVCN.
Vấn đề họp phụ huynh chỉ tổ chức họp vào đầu năm, giữa và cuối năm.
Trong các cuộc họp chỉ nói vấn đề học của con em, vắn đề đậu nộp, chứ ít nói
đến mục tiêu, kế hoạch của nhà truờng. Không nêu lên được vị trí, chức năng của
gia đình trong việc phối hợp với nhà trường để giáo dục học sinh. Chưa bàn sâu
về nhiệm vụ, nội dung thống nhất giữa nhà trường, gia đình trong từng tháng,
từng giai đoạn. Chưa thống nhất, phân công nhiệm vụ của gia đình và nhà trường
để cùng bàn bạc đề ra những biện pháp giáo dục thống nhất, phù hợp. Cho nên
một số cha mẹ học sinh quan niệm công việc giáo dục là “Trăm sự nhờ thầy” cho
biết cách vận động quần chúng có uy tín đối với học sinh và cha mẹ học sinh.
GVCN chưa khách quan công bằng trong việc đánh giá quá trình học tập, rèn
luyện của học sinh.
Những vấn đề hạn chế này là do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan tạo
nên. Nhưng điều cốt lõi dẫn đến tình trạng này là do phía nhà trường, GVCN
chưa có kế hoạch cụ thể, khoa học để tạo điều kiện cho sự phối hợp nói trên
được tiến hành và hoạt động một cách có chất lượng.
Do vậy muốn làm tốt công tác giáo dục học sinh nói chung và công việc
phối hợp giữa GVCN với gia đình và Hội cha mẹ học sinh ở trường THCS
Hướng Hiệp nói riêng cần có những biện pháp cơ bản cụ thể và khoa học phù
hợp với thực trạng này.
11
B- MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LÀM TỐT
CÔNG TÁC PHỐI HỢP VỚI GIA ĐÌNH VÀ HỘI CHA MẸ HỌC SINH
TRONG CÔNG TÁC GIÁO DỤC HỌC SINH.
I. Biện pháp phối hợp giáo dục của GVCN với gia đình học sinh
Việc phối hợp với cha mẹ học sinh là nhiệm vụ chủ yếu của GVCN. Song
muốn cho việc phối với cha mẹ học sinh đem lại kết quả tốt, thì nhà trường và
GVCN cần phải làm cho cha mẹ hiểu rõ nội dung, yêu cầu biện pháp giáo dục
học sinh để gia đình biết cách phối hợp. Mặt khác nhà trường phải cung cấp hoặc
giúp cha mẹ học sinh nắm được các tri thức và kinh nghiệm giáo dục trong gia
đình.
Việc phối hợp với cha mẹ có thể được tiến hành bằng các biện pháp sau:
1/ Tổ chức họp cha mẹ học sinh theo định kì: có thể tổ chức họp theo từng
tháng, hai tháng một lần. Trong các cuộc họp đó phải thông báo cho cha mẹ hiểu
rõ được các yêu cầu, mục tiêu kế hoạch của nhà trường, của lớp, nêu lên vai trò,
vị trí chức năng của gia đình trong việc phối hợp với nhà trường để giáo dục học
sinh.
2/ Thông báo kết quả học tập rèn luyên tu dưỡng của học sinh trong lớp nói
chung và từng học sinh nói riêng. Đánh giá sự tiến bộ hoặc khó khăn của từng
pháp này phải tiến hành một cách chủ động, có kế hoạch với tất cả học sinh trong
lớp chứ không phải chỉ đối với các học sinh cá biệt.
Sữ dụng phương pháp này giáo viên không những biết tình hình cụ thể về
học sinh, mà còn nắm được phong tục, truyền thống của gia đình học sinh, điều
kiện sống, học tập của học sinh tất cả những điều này sẽ giúp ích sất nhiều cho
GVCN trong công tác giáo dục học sinh.
7/ GVCN và phụ huynh cần phải gặp gỡ trao đỗi trực tiếp với nhau. Phương
pháp này khác với phương pháp thăm gia đình học sinh ở chổ phụ huynh học
sinh có thể đến trường gặp gỡ trao đổi với GVCN hoặc đến nhà giáo viên trao
đổi để nắm được tình hình của con em ở trường.
8/ GVCN phải tổ chức tư vấn giáo dục. Đây là một phương pháp tuy còn
mới song có thể mang lại hiệu quả cao. Người đứng ra làm công tác tư vấn có
13
thể là GVCN hoặc phụ huynh học sinh có lý luận, kinh nghiệm, có điều kiện về
thời gian và tận tình với công việc. Họ có thể làm cố vấn để giúp giáo viên hoặc
cha mẹ học sinh để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong công tác giáo dục
trẻ.
9/ GVCN phải tổ chức cho cha mẹ báo cáo điển hình. Phương pháp này yêu
cầu GVCN phải chọn các phụ huynh học sinh là những người có con chăm
ngoan, học giỏi, có nhiều thành tích xuất sắc trong học tập, rèn luyện và yêu cầu
họ báo cáo kinh nghiện để cac phụ huynh khác học tập làm theo. Song lưu ý đây
không phải chỉ là cha mẹ có các con ngoan học giỏi mà là những người có học
vấn, hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau như: Đặc điểm tâm sinh lý trẻ, giáo dục
gia đình,
10/ Tổ chức các buổi hội thảo, mời chuyên gia nói chuyện trao đổi về
phương pháp, cách thức giáo dục học sinh. Đây các buổi hội thảo mang tính chất
toàn trường hoặc từng khối lớp. Đó là các chuyên gia về các lĩnh vực về tâm lý
học và v học, không những cung cấp cho cha mẹ học sinh những kiến thức cơ
bản về giáo dục con em trong gia đình mà còn giúp cho nhà trường có thể thực
hiện tốt công tác kết hợp với gia đình nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả
thay mặt nhà trường báo cáo nhiệm vụ, kế hoạch năm học, nêu lên những yêu
cầu đối với gia đình và hội cha mẹ học sinh, ban đại diện hội cha mẹ học sinh
(tạm thời) nếu có, giải pháp phối hợp với nhà trường trong việc giáo dục học
sinh, sau đó cha mẹ học sinh sẽ bầu ra ban đại diện chính thức. Thành viên của
ban đại diện cha mẹ học sinh phải là những người có trình đội văn hoá, có hiểu
biết xã hội, nhiệt tình, có uy tín, tinh thần trách nhiệm cao, có thời gian và điều
kiện hoạt động ở khu vực trường, lớp
Trong cuộc họp cha mẹ học sinh đầu năm học, GVCN nên mời đại diện
BGH đến dự, phụ trách Đoàn - Đội của nhà trường, các giáo viên khác điều
này sẻ có tác động rất lớn đến phụ huynh học sinh, làm tăng mức quan trọng của
buổi họp cũng như làm cho hội cha mẹ học sinh thấy được trách nhiệm của mình
đối với con em, đối với nhà trường.
Trong buổi họp đầu tiên cần dành một thời gian nhất định để giới thiệu các
bậc cha mẹ học sinh và các em học sinh trong lớp. Nhưng tuyệt đối không được
15
nhắc đến những đặc điểm gây ấn tượng không tốt, không có lợi, gây mặc cảm,
hoặc làm cho các bậc cha mẹ bị xúc phạm.
* Thứ ba. Ban đại diện chính thức sẽ bàn với GVCN để thực hiện những chức
năng, nhiệm vụ của hội cha mẹ học sinh. Việc kết hợp giữa GVCN với hội cha
mẹ học sinh phải được tiến hành thường xuyên, liên tục.
Ban đại diện cần nắm vững hoàn cảnh, điều kiện các bậc phụ huynh về
nhân lực, tài lực để có sự phân công hợp lý, phát huy hết tiềm năng của hội cha
mẹ học sinh trong việc tổ chức các hoạt động của học sinh ở gia đình và ngoài
lớp học. GVCN cần phải xem hội cha mẹ học sinh là một thành phần, một lực
lượng tham gia đánh giá, nhận xét học sinh của lớp học và là một thành viên của
ban giáo dục ở cộng đồng nơi gia đình học sinh cư trú.
* Thứ tư. Muốn phát huy tốt của hội cha mẹ học sinh trong công tác giáo dục
học sinh đòi hỏi trước hết GVCN phải là người nắm vững phương pháp vận
động quần chúng trong giáo dục, biết cách vận động quần chúng có uy tính đối
với học sinh và cha mẹ học sinh. GVCN phải là người khách quan, công bằng
sinh đạt giải nhất nhì thực hành môn Hoá Học lớp 8,9
+ Cấp Tỉnh: 01 học sinh đạt giải khuyến khích thực hành môn Hoá học lớp 8,
vêvs hội khoẻ phù Đổng có 04 huy chương (02 huy chương bạc, 02 huy chương
đồng)
3. Năm học 2008 – 2009.
* Chất lượng giáo dục:
- Hạnh kiểm: + Tốt : 244 học sinh đạt : 72,6%
+ Khá : 79 học sinh đạt : 23,5%
17
+ Trung bình: 13 học sinh chiếm: 3,9%
- Học lực: + Giỏi : 25 học sinh đạt: 7,4%
+ Khá : 85 học sinh đạt: 25,3%
+ Trung bình: 226 học sinh chiếm: 67,3%
* Công tác mũi nhọn: Trong học kỳ I vừa qua, đội tuyển học sinh giỏi nhà
trường đã tham gia thi học sinh giỏi thực hành môn Hoá học và Sinh Học đã đạt
được; 02 giải nhất Hoá Học lớp 8, 01 giải nhì môm Hoá học lớp 9 và 01 giải nhì
môn Sinh học. Ngoài ra nhà trường tiếp tục bồi dưỡng đội tuyển dự thi sắp tới,
và đang bồi dưỡng học sinh giỏi từ khối 8.
VII- KẾT LUẬN
Trên đây là tất cả những vấn đề cần thiết và cấp bách đối với nhà Trường
THCS Hướng Hiệp ,mà trong quá trình quản lý cũng như thâm nhập thực tế, tôi
nhận thấy cần phải có đối với các GVCN trong công tác giáo dục học sinh.
Muốn nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh Trung học cơ sở thì chúng
ta đã thấy nhiều vấn đề, nhiều giải pháp đã bàn đến. Song, chúng ta cần kết hợp
chặt chẽ, nhuần nhuyễn, liên tục các giải pháp đẽ nêu ở trên thì hiệu quả giáo dục
cho học sinh ngày một đi lên. Đặc bịêt chú trọng ở đây là vai trò quản lý, chỉ đạo
của Hiệu trưởng và công tác của giáo viên chủ nhiệm, đóng vai trò then chốt, cốt
lõi nó bao trùm lên tất cả các giải pháp mà chúng ta đã nêu ra. Tuy nhiên do thời
gian hạn hẹp, khả năng tìm hiểu, nghiên cứu còn hạn chế nên bản thân tôi chỉ
mạnh dạn đưa ra những vấn đề mà mình tâm đắc, đã thực hiện thành công, có kết
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tõm lý học lứa tuổi.
Của Lê Văn Hồng - Lê Ngọc Lan - Nguyễn Văn Thông . Nhà xuất bản đại học
Quốc gia Hà Nội năm 1997.
2. Giáo dục hệ thống gía trị đạo đức và nhân văn cho học sinh THCS
Của Hà Nhật Thăng. Nhà xuất bản giáo dục năm 1998
3. Đổi mới phương pháp dạy học:
Của tác giả Trần Kiều – Nhà xuất bản giáo dục năm 1998.
4. Các tập san về giáo dục thời đại
5. Các chuyên đề Thế giới trong ta
6. Các tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lý Trung học cơ sở
7. Nghị Quyết của Ban chấp hành đảng Cộng Sản Việt Nam
8. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ III cho giáo viên THCS
20
MỤC LỤC
Số thứ tự Nội dung Trang
1 Tên đề tài 1
2 Lý do chọn đề tài 1
3 Cơ sở lý luận 3
1. Vai trò và đặc điểm của giáo dục gia đình 4
a/Vai trò của gia đình 4
b/Đặc điểm của gia đình 5
2. Vai trò, vị trí, chức năng và nhiệm vụ của Hội cha mẹ
học sinh
6
4 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 8
5 Phần nội dung 9
A- Thực trạng 9
b) Hạn chế: 5. Đánh giá, xếp loại:
Sau khi thẩm định, đánh giá đề tài trên, HĐKH Trường :THCS Hướng Hiệp đã đi đến
thống nhất xếp loại :
Những người thẩm định: Chủ tịch HĐKH
(Ký, ghi rõ họ tên) (Ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên)
II. Đánh giá, xếp loại của HĐKH Phòng GD&Đ Đakrông
Sau khi thẩm định, đánh giá đề tài trên, HĐKH Phòng GD&ĐT Đakrông thống nhất
xếp loại:
Những người thẩm định: Chủ tịch HĐKH
(Ký, ghi rõ họ tên) (Ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên)
22