ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
------- -------
TRẦN ANH DÂN
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CỦA LÃNH ĐẠO
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VỀ VIỆC PHỐI HỢP GIỮA
NHÀ TRƯỜNG, GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC
Ở THÀNH PHỐ THÁI BÌNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2009
1
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
------- -------
TRẦN ANH DÂN
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CỦA LÃNH ĐẠO
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VỀ VIỆC PHỐI HỢP GIỮA
NHÀ TRƯỜNG, GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC
Ở THÀNH PHỐ THÁI BÌNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS. Hà Nhật Thăng
HÀ NỘI - 2009
3
LỜI CẢM ƠN
Để đạt tới kết quả tốt đẹp như hôm nay tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc tới Ban lãnh đạo, các thầy cô giáo Trường đại học Giáo dục. Sở giáo dục
tỉnh Thái Bình, Hội đồng giáo dục, các trường THPT, các lực lượng giáo
13. KT-XH Kinh tế-xã hội
14. LLGD Lực lượng giáo dục
15. NCKH Nghiên cứu khoa học
16. PHHS Phụ huynh học sinh
17. THPT Trung học phổ thông
18. QL Quản lý
19. QLGD Quản lý giáo dục
20. QLPH Quản lý phối hợp
21. QLXH Quản lý xã hội
22. UBND Uỷ ban nhân dân
23. VH-KT-XH Văn hóa-kinh tế-xã hội
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
1. Lý do chọn đề tài. 1
2. Mục đích nghiên cứu. 2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu. 3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu. 3
5. Giả thuyết khoa học. 3
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. 3
7. Phương pháp nghiên cứu. 4
5
8. Giới hạn và phạm vi đề tài. 4
9. Cấu trúc của luận văn. 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ PHỐI HỢP GIỮA NHÀ
TRƯỜNG VỚI GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC
1.1. Khái quát lịch sử nghiên cứu. 6
1.2. Một số khái niệm công cụ. 10
1.2.1 Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường. 10
2.1. Khái quát tình hình kinh tế, xã hội, GD-ĐT thành phố Thái Bình. 39
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên. 39
2.1.2. Tình hình KT-XH. 39
2.1.3 Tình hình GD-ĐT ở tỉnh Thái Bình. 40
2.2. Thực trạng việc phối hợp và quản lý phối hợp giữa nhà trường, gia
đình và xã hội ở các trường THPT tại thành phố Thái Bình.
42
2.2.1. Khái quát về điều tra thực trạng. 42
6
2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng của nhà trường gia đình và xã hội đến kết
quả giáo dục học sinh
43
2.2.3. Nhận thức vai trò của việc phối hợp và quản lý việc phối hợp
giáo dục giữa nhà trường với gia đình và xã hội.
48
2.2.4. Thực trạng việc phối hợp và quản lý phối hợp giáo dục học sinh
THPT giữa nhà trường với gia đình và xã hội ở thành phố Thái Bình.
54
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
69
Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG
VỚI GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI CỦA TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
70
3.1. Nguyên tắc xây dựng biện pháp. 70
3.1.1. Xuất phát từ những quy luật của giáo dục. 70
3.1.2. Phải xuất phát từ mục tiêu quản lý giáo dục THPT. 71
3.1.3. Các biện pháp phải phù hợp với thực tiễn và có tính khả thi cao. 71
3.1.4. Các giải pháp phải đồng bộ. 72
3.1.5. Phải phát huy được tiềm năng của xã hội, phát huy được tính
tích cực tự giác của các lực lượng xã hội.
định “Bản chất của con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”. Lý luận
của tâm lý học, giáo dục học cũng khẳng định trong quá trình phát triển nhân
cách, con người luôn bị tác động của 4 yếu tố: Bẩm sinh di truyền; hoàn cảnh
tự nhiên, đặc biệt là quan hệ xã hội; tác động của giáo dục và hoạt động của
cá nhân. Vì vậy, muốn nâng cao hiệu quả, chất lượng giáo dục đòi hỏi các nhà
quản lý giáo dục phải tuân theo các quy luật phát triển và phải có những giải
pháp phát huy được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng giáo dục trong toàn
xã hội tham gia vào quá trình giáo dục.
Thế kỷ XXI thế kỷ của hội nhập, bùng nổ tri thức, sự phát triển của
khoa học - công nghệ. Con người, nhất là học sinh phổ thông thường xuyên bị
tác động đan xen của các tác động đa phương, đa chiều rất phức tạp, đôi khi
trái ngược nhau, vì vậy giáo dục nhà trường cần phải phối hợp chặt chẽ với
gia đình và xã hội để hạn chế tối đa những tác động đó, đào tạo ra những con
người phát triển toàn diện nhân cách.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã quyết định đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã
hội. Muốn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa thắng lợi phải phát triển
giáo dục - đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát
triển nhanh và bền vững. Điều này được thể hiện rõ trong Nghị quyết Hội
nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII “Thực sự coi giáo
dục là quốc sách hàng đầu… Giáo dục đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng,
8
của Nhà nước và của toàn dân… Mọi người chăm lo cho giáo dục, các cấp ủy
và tổ chức Đảng, các cấp Chính quyền và các đoàn thể nhân dân, các tổ chức
kinh tế, xã hội, các gia đình và cá nhân đều có trách nhiệm tích cực góp phần
phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo, đóng góp trí tuệ, nhân lực, vật lực, tài
lực cho giáo dục đào tạo” [1, tr36].
Như vậy muốn phát triển tài nguyên con người, nâng cao chất lượng
giáo dục nhà trường thì phải kết hợp giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội,
4. Nhiệm vụ nghiên cứu.
4.1. Hệ thống hoá cơ sở lý luận về quản lý phối hợp giáo dục giữa nhà trường,
gia đình và xã hội.
4.2. Tìm hiểu thực trạng việc phối hợp và quản lý phối hợp giáo dục giữa nhà
trường với gia đình và xã hội của lãnh đạo trường THPT ở thành phố Thái
Bình.
4.3. Đề xuất một số biện pháp quản lý phối hợp giáo dục giữa nhà trường, gia
đình và xã hội của lãnh đạo trường THPT ở thành phố Thái Bình.
5. Giả thuyết khoa học.
Hiệu quả, chất lượng giáo dục học sinh nói chung, học sinh THPT
thành phố Thái Bình nói riêng chưa cao, mặc dù đội ngũ thầy cô giáo đã có
nhiều cố gắng, nỗ lực không nhỏ. Phải chăng có nhiều nguyên nhân, trong đó
có sự chưa thống nhất tác động giữa nhà trường, gia đình và xã hội, chưa phát
huy được sức mạnh tổng hợp, sự đồng thuận trong quá trình thực hiện mục
tiêu, nhiệm vụ giáo dục.
Nếu xác định đúng những yếu tố ảnh hưởng đến việc phối hợp các lực
lượng giáo dục, đề xuất được các biện pháp quản lý phối hợp giữa nhà trường
với gia đình và xã hội phù hợp với quy luật giáo dục và quản lý giáo dục, phát
10
huy được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng giáo dục thì sẽ nâng cao hiệu
quả, chất lượng giáo dục học sinh trong giai đoạn hiện nay.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
- Lý luận: Làm sáng tỏ cơ sở của việc quản lý phối hợp. Đề ra một số
biện pháp quản lý phối hợp giữa nhà với gia đình và xã hội trong hoạt động
giáo dục.
- Về thực tiễn: Đánh giá thực trạng việc phối hợp và quản lý phối hợp
của lãnh đạo trường THPT. Kết quả nghiên cứu giúp các trường THPT biết
quản lý, huy động sức mạnh tổng hợp của xã hội nhằm thực hiện mục tiêu
nâng cao hiệu quả, chất lượng giáo dục của nhà trường.
7. Phương pháp nghiên cứu.
với gia đình và xã hội của trường THPT ở thành phố Thái Bình.
12
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ PHỐI HỢP GIỮA NHÀ
TRƯỜNG VỚI GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC
Để giải quyết vấn đề trong nội dung luận văn ở chương I, chúng tôi sẽ
trình bày lịch sử nghiên cứu và một số khái niệm công cụ cho việc nghiên cứu
đề tài về quản lý phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục
học sinh THPN nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục tỉnh nhà.
1.1. Khái quát lịch sử nghiên cứu.
1.1.1 Trên thế giới.
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Hoạt
động quản lý có vai trò hết sức to lớn, đảm bảo cho việc thực hiện thành công
mục đích lao động, tăng hiệu quả lao động. Sự phân công, hợp tác lao động là
nhằm đạt hiệu quả, nâng cao năng suất. nhưng hiệu quả chỉ có thể thực sự có
khi có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý. Mác đã từng khẳng
định: Bất cứ lao động xã hội hay lao động chung nào mà tiến hành trên một
quy mô khá lớn đều phải có sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá
nhân... Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc
thì phải có nhạc trưởng.
Loài người đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau. Đánh dấu
sự khác biệt giữa giai đoạn này với giai đoạn khác có rất nhiều yếu tố, một
trong những yếu tố không thể thiếu được là sự khác biệt về hình thức quản lý.
Một hình thức quản lý mới tiên tiến hơn hình thức quản lý cũ đem đến cho xã
hội một diện mạo mới trên tất cả các mặt của đời sống. Nghiên cứu về hoạt
13
động quản lý là một lĩnh vực quan trọng, là cơ sở để hình thành những
phương thức quản lý mới.
Ở phương Đông cổ đại, nhất là ở Trung Hoa và ấn Độ ... đã xuất hiện
tư tưởng quản lý từ rất sớm. Những tư tưởng về phép trị nước của Khổng Tử
rồng Châu Á: Nhật Bản, Singapo, Trung Quốc... ở thế kỷ XX.
1.1.2 Ở Việt Nam
Khoa học quản lý ở Việt Nam tuy được nghiên cứu muộn, nhưng tư
tưởng về quản lý cũng như “Phép trị nước an dân” đã có từ lâu đời. Trong
“Bình ngô đại cáo” Nguyễn Trãi viết: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”... qua
đó chúng ta cũng thấy rằng các ông vua hiền tài đất Việt từ xa xưa đã biết lấy
dân làm gốc trong việc quản lý đất nước.
Nhiều công trình nghiên cứu gần đây về khoa học quản lý của các nhà
nghiên cứu và các giáo sư giảng dạy các trường đại học... viết dưới dạng giáo
trình, sách tham khảo, phổ biến kinh nghiệm... đã được công bố. Đó là các tác
giả: Nguyễn Quốc Chí, Đặng Phạm Thành Nghị, Trần Quốc Thành, Đặng Bá
Lãm, Nguyễn Gia Quý, Bùi Trọng Tuân,... Các công trình nghiên cứu của các
tác giả trên đã giải quyết được vấn đề lý luận rất cơ bản về khoa học quản lý:
như khái niệm quản lý, bản chất của hoạt động quản lý, thành phần cấu trúc,
chức năng quản lý, chỉ ra các phương pháp và nghệ thuật quản lý...
Cũng như đối với các ngành quản lý khác, quản lý giáo dục luôn là vấn
đề được các nhà nghiên cứu hết sức quan tâm. Đặc biệt là trong sự nhận thức
sâu sắc vai trò của giáo dục đối với tương lai phát triển của mỗi quốc gia, mỗi
dân tộc thì điều này càng có ý nghĩa. Các công trình nghiên cứu giáo dục như
“Cơ sở khoa học quản lý giáo dục” của tác giả Nguyễn Minh Đạo, “Những
khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục” của tác giả Nguyễn Ngọc Quang,
“Quản lý, quản lý giáo dục tiếp cận từ những mô hình” của tác giả Đặng Quốc
15
Bảo, “Lý luận quản lý giáo dục” của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, “Những giá
trị về tổ chức và quản lý” của tác giả Vũ Văn Tảo,… thực sự là những công
trình nghiên cứu về quản lý giáo dục, mang lại hiệu quả nhất định cho công
tác quản lý giáo dục nói chung và công tác quản lý trong nhà trường nói riêng.
Bên cạnh những công trình mang tính phổ quát đó, công tác quản lý
trong nhà trường phổ thông cũng là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu đi sâu
tìm hiểu. Đặc biệt trong những năm gần đây nhiều luận văn tiến sỹ, thạc sỹ đã
Phạm Thị Minh Tâm “Một số biện pháp tổ chức phối hợp các lực lượng giáo
dục trong công tác giáo dục cho học sinh trường THPT”; Nguyễn Tiến Dũng
“Một số biện pháp quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm phòng
chống tệ nạn xã hội trong các trường chuyên nghiệp ở thị xã Bắc Ninh". Riêng
với đề tài: “Biện pháp quản lý của lãnh đạo trường THPT về việc phối hợp
giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục" vẫn còn là một vấn đề
mới, những công trình nghiên cứu một cách đầy đủ chỉ là từng mặt của vấn
đề. Do đó khi chúng tôi lựa chọn đề tài này để nghiên cứu từ ban đầu đã thấy
khó khăn là có quá ít tài liệu để tham khảo. Hơn nữa khi nghiên cứu nó trong
điều kiện nền kinh tế thị trường đang rất bề bộn, nhà trường đang đứng trước
những câu hỏi chưa có những lời giải: Có phải là sản phẩm của cơ chế thị
trường hay không? hay vẫn là bao cấp của nhà nước?...
Song với tư cách là một người có tâm huyết với sự nghiệp giáo dục, về
lý luận cũng như thực tiễn đã hướng tới đi sâu nghiên cứu đề tài trên để thấm
nhuần hơn vấn đề, rút ra được những bài học kinh nghiệm cho bản thân và
cho đồng nghiệp có thể vận dụng vào thực tiễn một cách sáng tạo, phù hợp.
1.2. Một số khái niệm công cụ.
1.2.1 Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường.
1.2.1.1. Khái niệm “Quản lý”.
17
Quản lý (QL) là một trong những hoạt động cơ bản nhất của con người
xét trên nhiều phạm vi cá nhân, tập đoàn, quốc gia hoặc nhóm quốc gia. Hoạt
động QL xuất hiện khi loài người hình thành hoạt động nhóm. Qua lao động,
để duy trì sự sống, đòi hỏi sự phối hợp hoạt động giữa các cá nhân con người.
Hoạt động QL là một hiện tượng tất yếu phát triển cùng với sự phát triển của
xã hội loài người nhằm đoàn kết nhau lại tạo nên sức mạnh tập thể, thống nhất
thực hiện một mục đích chung.
- Theo Các Mác: “Bất cứ một lao động mang tính chất xã hội trực tiếp
hay lao động cùng nhau, được thực hiện ở quy mô tương đối lớn, đều cần đến
mức độ nhiều hay ít sự quản lý, nhằm thiết lập sự phối hợp giữa những công
thực hiện những chương trình mục đích hoạt động”. [40, tr19].
Trong sự tác động qua lại giữa hệ thống và môi trường thì quản lý được
hiểu là đảm bảo hoạt động của hệ thống trong điều kiện có sự biến đổi liên tục
của hệ thống và môi trường, là sự chuyển hệ thống đến trạng thái mới thích
ứng với hoàn cảnh mới. “Quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục
đích đến tập thể người, thành viên của hệ, làm cho hệ vận hành thuận lợi và
đạt mục đích dự kiến”.
- Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý nhằm phối hợp sự nỗ lực của
nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu
của xã hội”. [30 tr32].
- Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả hoạt động của những người
cộng sự khác nhau cùng chung tổ chức.
- Quản lý là những tác động có mục đích lên những tập thể người, thành
tố cơ bản của hệ thống xã hội.
- “QL là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, lựa chọn
trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối
tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định
19
và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định”; “QL là tác động có mục đích,
có kế hoạch của chủ thể QL đến tập thể những người lao động nhằm thực hiện
được những mục tiêu dự kiến”. [46, tr 24]
- Có thể nói bản chất của hoạt động QL một hệ thống là nhằm làm cho
hệ thống đó vận động theo mục tiêu đã đặt ra và tiến đến các trạng thái có tính
chất lượng mới. Trong QL có chăm sóc, giữ gìn sự ổn định, có sửa sang, sắp
xếp, đổi mới để phát triển; Tuy nhiên hệ thống có sự ổn định mà không có
phát triển thì tất yếu cũng sẽ dẫn đến suy thoái. Ngược lại hệ thống phát triển
mà không ổn định ắt sẽ dẫn đến rối ren. Như vậy trong QL có cả sự ổn định
và sự phát triển.
Nói về Nhà nước và QL Nhà nước trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí
Minh ta có thể thấy Người thể hiện một quan điểm khoa học, rõ ràng, minh
Trong các nước phát triển người ta vận dụng lý luận quản lý giáo dục
bắt nguồn từ lý luận quản lý xã hội. Trong cuốn sách nổi tiếng “Con người
trong quản lý xã hội” A.Gafanaxép (Viện sĩ Liên Xô) chia xã hội thành 3 lĩnh
vực: “Chính trị - Xã hội”, “Văn hoá - Tư tưởng” và “Kinh tế” và từ đó có 3
loại quản lý: “Quản lý chính trị - xã hội” , “Quản lý văn hoá - tư tưởng” và
“Quản lý kinh tế”. Quản lý giáo dục nằm trong quản lý văn hoá - tư tưởng
[13, tr97]. Trong cuốn “Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục” thì
M.I.Kôndakov viết: “Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh thì chúng ta
không hiểu quản lý nhà trường (công việc nhà trường) là hệ thống xã hội - sư
phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có khoa
học và có hướng chủ thể quản lý trên cơ sở các mặt của đời sống nhà trường
để bảo đảm sự vận hành tối ưu xã hội - kinh tế và tổ chức sư phạm của quá
trình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên” [14, tr94].
21
Theo P.V. Khuđôminxki (nhà lý luận Xô Viết): Quản lý giáo dục là tác
động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của các chủ thể quản
lý ở các cấp khác nhau đến các khâu của hệ thống (từ Bộ giáo dục đến nhà
trường) nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục Cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ
trẻ, đảm bảo phát triển toàn diện cho thế hệ trẻ, bảo đảm phát triển toàn diện
và hài hoà của họ.
- Ở Việt Nam:
Theo Phó giáo sư Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là hệ thống những tác
động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm
cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện
được các tính chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm
hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự
kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”.
Theo Giáo sư Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường
lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là nhà trường vận hành
theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối
quản lý giáo dục.
Có thể nói rằng QLGD chính là một quá trình tác động có định hướng
của nhà QLGD (chủ thể) trong việc vận hành những nguyên lý, phương pháp
chung nhất của khoa học QL vào lĩnh vực GD nhằm đạt được những mục tiêu
giáo dục đề ra. Thực chất đó là những tác động khoa học (KH) đến nhà
trường, làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch quá trình
dạy học - giáo dục theo mục tiêu đào tạo. Chủ thể của QLGD là trung tâm
thực hiện các tác động có mục đích của giáo dục, ra quyết định, điều hành và
kiểm tra các hoạt động của hệ thống giáo dục theo mục tiêu đề ra. Đối tượng
của QLGD bao gồm nguồn nhân lực của giáo dục, cơ sở vật chất - kỹ thuật
(CSVC - KT) của giáo dục và các hoạt động có liên quan đến việc thực hiện
23
chức năng của giáo dục. Đó chính là những đối tượng chịu sự tác động của
CBQL (chủ thể) để thực hiện và biến đối phù hợp với ý chí của chủ thể QL đã
đề ra.
Tóm lại, QLGD là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng giáo
dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát
triển XH. Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của QLGD, trong
đó đội ngũ GV và HS là đối tượng QL quan trọng nhất nhưng đồng thời là
chủ thể trực tiếp QL quá trình giáo dục.
Các chức năng của Quản lý và Quản lý Giáo dục
Để có thể hiểu được một cách khoa học, lôgic chức năng QLGD, trước
hết hãy thử nghiên cứu xem chức năng của QL là gì.
- Chức năng QL là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ đích của chủ
thể QL lên đối tượng và khách thể QL, là tập hợp các nhiệm vụ khác nhau mà
chủ thể QL phải tiến hành trong quá trình QL. Các chức năng của QL giữ vị
trí then chốt, gắn liền với nội dung hoạt động, điều hành ở mọi cấp. Chúng
được xem là một thể thống nhất những hoạt động tất yếu của chủ thể QL nảy
sinh từ sự phân công, chuyên môn hoá trong hoạt động QL nhằm thực hiện
mục tiêu, nhiệm vụ đề ra. Thông qua các chức năng QL người ta xác định các
lệch lạc trong quá trình hệ thống vận hành để từ đó đề ra các biện pháp xử lý
kịp thời, thích hợp.
- Cũng như các lĩnh vực khác trong đời sống XH, QLGD vừa mang
những chức năng QL chung như nêu trên lại vừa có những chức năng cơ bản
mang tính đặc thù của riêng mình. Đó chính là sự thể hiện việc thực hiện các
chức năng QL Nhà nước đối với toàn bộ hệ thống GD. Nội dung QL Nhà
nước về GD bao gồm việc xây dựng, ban hành và chỉ đạo việc thực hiện chiến
lược, qui hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển GD, ban hành và tổ chức thực
25