Một số giải pháp quản lý phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong giáo dục học sinh tiểu học ở quận 8, thành phố hồ chí minh - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
VÕ THỊ TRÚC MAI

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nghệ An, 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
VÕ THỊ TRÚC MAI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Thái Văn Thành
Nghệ An, 2014
LỜI CẢM ƠN

Để đạt tới kết quả tốt đẹp như hôm nay tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
tới Ban lãnh đạo, các thầy cô giáo Trường đại học Vinh, Phòng giáo dục& Đào
tạo Quận 8- Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng giáo dục, các trường Tiểu học,
các lực lượng giáo dục ở Quận 8- Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập, nghiên cứu và làm luận văn.
Xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo đã tham gia giảng dạy,
hướng dẫn giúp đỡ lớp Cao học Quản lý giáo dục khoá XX - Trường đại học
Vinh học tại trường Đại học Sài Gòn.
Lời cảm ơn đặc biệt xin dành cho thầy giáo PGS. TS. Thái Văn Thành,
người trực tiếp hướng dẫn một cách tận tình chu đáo và tạo mọi điều kiện để tôi
hoàn thành được luận văn với tất cả tinh thần trách nhiệm và lòng nhiệt tình.
Sau cùng tôi xin cảm ơn các đồng nghiệp, tất cả bạn bè những người
thân đã luôn quan tâm ủng hộ trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và hoàn
thành luận văn này./.
Thành Phố Hồ chí Minh, Tháng 2 năm 2014

PHẦN MỞ ĐẦU
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ PHỐI HỢP CỦA NHÀ
TRƯỜNG VỚI GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC HỌC SINH TIỂU
HỌC……………………………………………………………………………………………………….…………….…
1.1.LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 5
1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài 5
1.1.2. Các nghiên cứu ở trong nước 6
1.2. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI 8
1.2.1. Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường 8
1.2.1.1.Khái niệm “Quản lý” 8
1.2.1.2.Khái niệm “Quản lý giáo dục” 10
1.2.1.3.Khái niệm “Quản lý nhà trường” 11
1.2.2.Khái niệm về các lực lượng giáo dục 14
1.2.3.Khái niệm về phối hợp giáo dục 15
1.2.4.Khái niệm về quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục 16
1.3.CÔNG TÁC PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VỚI GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI
TRONG GIÁO DỤC HỌC SINH TIỂU HỌC 17
1.3.1.Vị trí, vai trò của việc tổ chức kết hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội
trong việc quản lý và giáo dục học sinh tiểu học 17
1.3.1.1. Việc kết hợp tốt giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong giáo dục phát
huy được sức mạnh tổng hợp trong việc quản lý giáo dục học sinh tiểu học 18
1.3.1.2. Phối hợp nhuần nhuyễn ba môi trường giáo dục tạo được sự thống nhất
trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục 18
1.3.2.Nội dung, phương pháp, hình thức của sự phối hợp giữa nhà trường với gia
đình và xã hội trong việc giáo dục học sinh 19
1.4.MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC PHỐI HỢP GIỮA NHÀ
TRƯỜNG VỚI GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC HỌC SINH TH 21
1.4.1.Sự cần thiết phải quản lý phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội
trong giáo dục học sinh ở trường TH 21
1.4.1.1. Kết hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong giáo dục quản lý học

2.2.2.Nội dung và giải pháp phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội tại các
trường tiểu học ở quận 8, thành phố Hồ Chí Minh 42
2.3.THỰC TRẠNG VIỆC QUẢN LÝ CÔNG TÁC PHỐI HỢP GIỮA NHÀ
TRƯỜNG VỚI GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC HỌC SINH TẠI
CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC Ở QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 47
2.3.1.Nhận thức về vai trò của hoạt động quản lý sự phối hợp giữa nhà trường với
gia đình và xã hội 47
2.3.2.Thực trạng quản lý kế hoạch, chương trình phối hợp giữa nhà trường với gia
đình và xã hội 49
2.3.3.Quản lý tổ chức thực hiện hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình và
xã hội 51
2.3.4.Quản lý kiểm tra, đánh giá sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội
trong công tác giáo dục học sinh 53
2.4.NGUYÊN NHÂN CỦATHỰC TRẠNG VIỆC QUẢN LÝ CÔNG TÁC PHỐI
HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VỚI GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC
HỌC SINH TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC Ở QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH 56
3.1.CÁC NGUYÊN TẮC ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 63
3.1.1.Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 63
3.1.2.Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 64
3.1.3.Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 64
3.1.4.Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 64
3.2.CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ PHỐI HỢP GIÁO DỤC GIỮA NHÀ TRƯỜNG
VỚI GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC HỌC SINH TIỂU HỌC Ở
QUẬN 8- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 65
3.2.1.Nâng cao nhận thức cho các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường về
sự cần thiết phối hợp các lực lượng xã hội để giáo dục học sinh 65
3.2.2.Kế hoạch hóa việc quản lý hoạt động phối hợp nhằm thực hiện mục tiêu, nội
dung, giải pháp hoạt động giáo dục 72
3.2.3.Tổ chức và chỉ đạo công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội

các đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế xã hội, các gia đình và mọi cá nhân đều
có trách nhiệm tích cực góp phần phái triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo.
Như vậy thực chất của vấn đề xã hội hóa giáo dục là sự phối hợp của ba môi
trường: Nhà trường, gia đình và xã hội nhằm khai thác mọi tiềm năng để đóng góp
cho sự nghiệp giáo dục.
2
- Lý do về mặt thực tiễn:
Hiện nay chất lượng giáo dục nước nhà đang là mối quan tâm chung của toàn
xã hội. Những chủ trương, đường lối của Đảng và nhà nước về công tác xã hội hóa
giáo dục được đưa ra rất kịp thời, đúng đắn đã tạo ra được những bước tiến mới
trong sự nghiệp giáo dục của đất nước.
Ý thức về tầm quan trọng của giáo dục đối với người dân ngày càng được
hình thành rõ nét, chất lượng đào tạo và hiệu quả giáo dục ngày càng được nâng
cao. Cả nước đã hoàn thành phổ cập giáo dục Tiểu học, nhiều tỉnh thành đã đạt
chuẩn phổ cập giáo dục Trung học cơ sở.
Việc thiết lập mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội đã tạo được sự
liên kết thống nhất trong việc giáo dục trẻ, huy động được sự đóng góp về nhân lực,
vật lực, tài lực cho giáo dục. Đồng thời nâng cao vai trò, trách nhiệm của các tổ
chức chính trị xã hội, đoàn thể trong việc hoàn thành và đạt chuẩn phổ cập giáo dục
Tiểu học, phổ cập Tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục Trung học cơ sở. Đảm
bảo huy động tỉ lệ trẻ ra lớp, chống lưu ban, bỏ học.
Tuy vậy, hiện nay có nhiều phụ huynh nhận thức chưa đúng vai trò, tầm
quan trọng của sự nghiệp giáo dục đối với cuộc cách mạng to lớn mà toàn Đảng,
toàn dân đang phấn đấu thực hiện. Do đó họ không quan tâm đúng mức đến việc
dạy học ở trường, khoán trắng việc giáo dục con em cho các thầy cô giáo, cho
nhà trường. Mỗi gia đình đều muốn con em mình học giỏi và ngoan
nhưng lại không hỗ trợ tích cực cho nhà trường. Để xoá bỏ tư tưởng trên, nhà
trường phải có trách nhiệm giải thích, thuyết phục để mỗi gia đình đều nhận thức
được trách nhiệm của mình đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo nói chung và
con em mình nói riêng.

đến đề tài.
6.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Quan sát, khảo sát thực tế.
4
- Thống kê số liệu, phân tích thực trạng.
- Tổng kết kinh nghiệm.
- Điều tra cơ bản bằng phiếu hỏi.
- Lấy ý kiến chuyên gia (qua trao đổi, tọa đàm).
6.3. Phương pháp thống kê toán
Trong luận văn này, tác giả sử dụng phương pháp thống kê toán nhằm xử lý
số liệu.
7. Đóng góp của luận văn
- Hệ thống nguồn tài liệu liên quan đến vấn đề quản lý phối hợp giữa nhà
trường với gia đình và xã hội trong giáo dục học sinh Tiểu học ở quận 8, Thành phố
Hồ Chí Minh.
- Đề xuất một số giải pháp phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội
trong giáo dục học sinh Tiểu học ở quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Một số kiến nghị trong việc quản lý phối hợp giữa nhà trường với gia đình
và xã hội trong giáo dục học sinh Tiểu học ở quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
8. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
chính của luận văn được trình bày trong ba chương sau:
Chương 1. Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý phối hợp giữa nhà trường với
gia đình và xã hội trong giáo dục học sinh tiểu học.
Chương 2. Cơ sở thực tiễn của đề tài.
Chương 3. Một số giải pháp quản lý phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã
hội trong giáo dục học sinh Tiểu học ở quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ PHỐI HỢP GIỮA

con người sẽ điều khiển được công việc, hoặc cá nhân hay tập thể một cách sáng
suốt. Những người không biết làm như vậy sẽ mắc sai lầm trong công việc.
Tư tưởng về quản lý con người và những yêu cầu về người đứng đầu cai trị
dân còn tìm thấy trong quan điểm của nhà triết học cổ đại Hy Lạp Platôn (427- 347
TrCN). Theo ông, muốn trị nước thì phải biết đoàn kết dân lại, phải vì dân. Người
đứng đầu phải ham chuộng hiểu biết, thành thật, tự chủ, biết điều độ, ít tham vọng
về vật chất, đặc biệt là phải được đào tạo kỹ lưỡng.
Vào thế kỷ thứ XVII, có những nhà nghiên cứu về quản lý tiêu biểu như:
Rober Owen (1771 - 1858), Charles Babbage (1792 - 1871), F. Taylo (1856 - 1915)
người được coi là “cha đẻ” của “Thuyết quản lý theo khoa học”
Do những lợi ích lớn lao của quản lý mà sang thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
xuất hiện hàng loạt các công trình nghiên cứu với nhiều cách tiếp cận khác nhau về
quản lý như: Tính khoa học và nghệ thuật quản lý, làm thế nào để việc ra quyết định
quản lý đạt hiệu lực cao, những động cơ để thúc đẩy một tổ chức phát triển
Thành công trong quản lý đã tạo ra một số hiện tượng nhảy vọt thần kỳ trong phát
triển kinh tế - xã hội, như sự xuất hiện các con rồng Châu Á: Nhật Bản, Singapo,
Trung Quốc ở thế kỷ XX.
1.1.2. Các nghiên cứu ở trong nước
Khoa học quản lý ở Việt Nam tuy được nghiên cứu muộn, nhưng tư tưởng về
quản lý cũng như “Phép trị nước an dân” đã có từ lâu đời. Trong “Bình ngô đại cáo”
Nguyễn Trãi viết: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” qua đó chúng ta cũng thấy
rằng các ông vua hiền tài đất Việt từ xa xưa đã biết lấy dân làm gốc trong việc quản
lý đất nước.
Nhiều công trình nghiên cứu gần đây về khoa học quản lý của các nhà nghiên
cứu và các giáo sư giảng dạy các trường đại học viết dưới dạng giáo trình, sách
7
tham khảo, phổ biến kinh nghiệm đã được công bố. Đó là các tác giả: Nguyễn
Quốc Chí, Đặng Phạm Thành Nghị, Trần Quốc Thành, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Gia
Quý, Bùi Trọng Tuân, Các công trình nghiên cứu của các tác giả trên đã giải
quyết được vấn đề lý luận rất cơ bản về khoa học quản lý: như khái niệm quản lý,

một đề tài nghiên cứu khoa học của các nhà giáo dục. Những nhà giáo dục đã đi sâu
vào đề tài này phải kể đến: GS -TS Hà Thế Ngữ, GS -TS Đức Minh, GS-TS Đặng
Vũ Hoạt đã đề cập đến vai trò, vị trí, ý nghĩa cực kỳ quan trọng của sự phối hợp
giữa nhà trường với gia đình và xã hội để nâng cao hiệu quả giáo dục học sinh.
Trong các giáo trình Giáo dục học của Phạm Cốc - Đức Minh vào những năm 70,
sau đó là của Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt - Nxb giáo dục (1989) vấn đề này cũng
được đưa vào một số giáo trình khác như giáo dục gia đình của PGS - TS Phạm
Khắc Chương - Nxb giáo dục - (1997).
1.2. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1. Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
1.2.1.1. Khái niệm “Quản lý”
Ngày nay, nhiều người thừa nhận rằng quản lý trở thành một nhân tố của
sự phát triển xã
hội. Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trong mọi
lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan với mọi người. C.Mác coi quản lý là một đặc
điểm vốn có, bất biến về mặt lịch sử của đời sống xã hội. Ông viết “bất cứ lao
động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một qui mô khá
lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân. Sự
chỉ đạo đó phải là những chức năng chung, tức là những chức năng phát sinh từ
sự khác nhau giữa sự vận động chung của cơ thể sản xuất với những vận động cá
nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó”, “Một nhạc sĩ
độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần có một nhạc
trưởng”. [8]. Như vậy C.Mác đã chỉ ra bản chất quản lý là một hoạt động lao
động để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu quan trọng trong quá trình
phát triển của xã hội loài người. Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến ở mọi
nơi, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và các liên quan đến mọi người. Đó là một hoạt
9
động bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dự trên sự phân công và hợp tác để làm
một công việc nhằm đạt một mục tiêu chung.
Theo Taylor PH.W(1856-1915),định nghĩa “Quản lý là biết được chính xác

cũng có thể nói như thế về quản lý giáo dục”. Ở khái niệm về quản lý giáo dục
ông đã đưa ra hai nhóm khái niệm quản lý giáo dục tương ứng: một cho quản lý
một nền (hệ thống) giáo dục đó là quản lý vĩ mô và một cho quản lý một nhà
trường là quản lý vi mô [18].
Đối với cấp vĩ mô ông cho rằng “quản lý giáo dục được hiểu là những tác
động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của
chủ thể quản lý đến tất cả các mắc xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các
hệ thống giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục
tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục.”
[18].
“Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của
chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trồi (chỉ khả năng mới của
hệ thống mà khi các phần tử đứng riêng rẽ thì không thể tạo ra được) của hệ
thống; sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa
hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm sự công bằng
với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động.”
Đối với cấp vi mô ông cho rằng “quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống
những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp
quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể
học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường
nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường”.
Quản lý giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá
trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ
đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân
cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường.
Khái quát lại, nội hàm của khái niệm quản lý giáo dục chứa đựng những
11
nhân tố đặc trưng cơ bản sau:
- Phải có thể chế quản lý giáo dục, ở tầm vĩ mô là quản lý nhà nước mà cơ
quan trực tiếp quản lý là Bộ, Sở, Phòng Giáo Dục và Đào Tạo, ở tầm vi mô là

dựng vốn tự có hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm
hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ. Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch
đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới.” [30, tr10].
Theo giáo sư Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối
giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận
hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục. Mục tiêu đào tạo đối
với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [16 tr30]
Bản chất Quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy và học, làm sao đưa
hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác dần dần tới mục tiêu giáo dục.
Quản lý nhà trường là một hoạt động thực hiện trên cơ sở những quy luật
chung của quản lý, đồng thời có những nét riêng mang tính đặc thù của giáo dục.
Quản lý nhà trường khác với quản lý xã hội khác, nó được quy định với bản
chất lao động sư phạm của người giáo viên, bản chất của quá trình dạy học và quá
trình giáo dục, trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là chủ thể sáng tạo chủ
động vừa là đối tượng quản lý. Sản phẩm của các hoạt động trong nhà trường là
nhân cách người học sinh được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng và rèn
luyện, phát triển theo yêu cầu phát triển của xã hội.
Thực chất quản lý giáo dục, suy cho cùng là tạo điều kiện thuận lợi cho các
hoạt động trong nhà trường vận hành theo đúng mục tiêu. Trường học là một thành
tố của hệ thống giáo dục nên quản lý trường học cũng được hiểu như một bộ phận
của quản lý giáo dục. “Thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt
Nam xã hội chủ nghĩa mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hoá đường lối đó
thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nước.”
Như vậy, quản lý nhà trường chính là quản lý giáo dục trong một phạm vi
xác định đó là đơn vị giáo dục là nhà trường. Do đó quản lý nhà trường là vận dụng
13
tất cả các nguyên lý chung của quản lý giáo dục để đẩy mạnh mọi hoạt động của
nhà trường theo mục tiêu đào tạo.
- Đối tượng của quản lý nhà trường
Dưới góc độ giáo dục học, hoạt động dạy học được xem là hoạt động trung

trưng cho trường học, do vậy quản lý nhà trường chính là quản lý hoạt động dạy
học của nhà trường nhằm đưa nhà trường đạt được hiệu suất cao nhất, chất lượng
cao nhất với mục đích cuối cùng là làm sao đáp ứng cao nhất nhu cầu học tập của
nhân dân, đáp ứng yêu cầu phát triển nhân cách toàn diện cho người học ở mọi cơ
sở GD, đào tạo ra những công dân có ích cho xã hội.
1.2.2. Khái niệm về các lực lượng giáo dục
Quá trình giáo dục học sinh luôn bị tác động của nhiều yếu tố khách quan và
chủ quan, bên ngoài và bên trong. Có thể hiểu rằng có bao nhiêu mối quan hệ ở
trong nhà trường, gia đình và xã hội mà học sinh tham gia hoạt động thì có bấy
nhiêu sự tác động đến quá trình giáo dục học sinh. Đó chính là 3 lực lượng giáo dục
cơ bản tác động đến quá trình giáo dục hình thành và phát triển toàn diện nhân cách
học sinh là nhà trường, gia đình và xã hội. Mỗi lực lượng có tầm quan trọng, có
nhiệm vụ, có phương pháp và tính ưu việt riêng.
- Nhà trường là: một tổ chức xã hội đặc thù với cấu trúc tổ chức chặt chẽ, có
nhiệm vụ chuyên biệt là giáo dục, đào tạo các thế hệ phát triển nhân cách theo
những định hướng của xã hội.
- Quá trình thể hiện chức năng trên là quá trình tổ chức các hoạt động dạy,
học, giáo dục theo hệ thống chương trình nội dung được tổ chức một cách chặt
chẽ, bài bản.
- Gia đình: “Gia đình là tế bào của xã hội, là tập hợp của những người cùng
chung sống là một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, họ gắn bó với nhau bằng quan hệ
hôn nhân về dòng máu, thường gồm vợ chồng, cha mẹ, con cái”.
Gia đình hạnh phúc dựa trên nguyên tắc cơ bản là mọi người đều phải yêu
thương quý mến nhau, giúp đỡ nhau trong công việc gia đình và xã hội giữ đúng tư
cách là trách nhiệm của mình trong gia đình.
15
- Các lực lượng xã hội bao gồm: Các cơ quan nội chính, các tổ chức chính trị
xã hội, các tổ chức kinh tế, các đoàn thể quần chúng, các cơ quan chức năng.
Trong các lực lượng giáo dục, nhà trường có vai trò chủ đạo trong việc giáo
dục học sinh vì:

Để thực hiện mục tiêu giáo dục học sinh, việc phối hợp giữa nhà trường với
gia đình và xã hội có một ý nghĩa đặc biệt vì đó là những môi trường trực tiếp ảnh
hưởng đến sự hình thành nhân cách của học sinh TH. Trong việc kết hợp sự tác
động của các môi trường ấy vai trò của nhà giáo dục là rất quan trọng vì vậy: “Nhà
giáo dục phải có tầm nhìn, phải có kế hoạch, có chiến lược, phải hiểu đối tượng dự
định tiếp cận và huy động thì mới có thể đạt được những điều mong muốn".
Bản chất của quá trình phối hợp giáo dục là sự thỏa thuận chung để đi đến
nhất trí chung về nhận thức, mục tiêu, nội dung, phương thức thực hiện. Đó là quá
trình xây dựng kế hoạch, xác định cơ chế hoạt động, đóng góp theo khả năng có sự
cố gắng tối đa các thành viên tham gia nhằm góp phần thực hiện mục tiêu của xã
hội về giáo dục, trong đó có trách nhiệm, quyền lợi về giáo dục của các thành viên
được hưởng thụ.
1.2.4. Khái niệm về quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục
Trong nhà trường, hoạt động quản lý bao gồm nhiều nội dung, trong đó quản
lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục cho học sinh là một trong những nội
dung quan trọng.
Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục là một lĩnh vực quản lý rất khó
khăn, phức tạp đòi hỏi người quản lý phải có năng lực quản lý vững vàng, toàn
diện; khả năng vận dụng các biện pháp quản lý linh hoạt và phải luôn là tấm gương
sáng về đạo đức nhà giáo.
Quản lý sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội nhằm giáo dục
toàn diện cho học sinh về bản chất là quá trình tổ chức quản lý việc phối hợp giáo
17
dục của nhiều thành viên cùng tham gia tạo ra sự thống nhất chung của các thành
viên, nhằm huy động hợp lý nhất khả năng của các thành viên phù hợp với mục
tiêu, nội dung, kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục toàn diện của nhà trường.
Mục tiêu của quản lý phối hợp giáo dục là làm cho quá trình giáo dục vận
hành đồng bộ, hiệu quả, tạo ra bầu không khí hăng hái và thuận lợi để nâng cao chất
lượng giáo dục học sinh trong nhà trường, gia đình và ở khắp mọi nơi ngoài xã hội.
Quản lý phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội là sự kết hợp, tác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status