ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Khoa Sư phạm
Bùi Đức Thảo
Biện pháp tổ chức phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong
công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông huyện Mỹ Đức,
Hà Tây hiện nay
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Mã số:
60 14 05
HÀ NỘI – 2008
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng đã có những thành quả vô
cùng lớn lao về mọi mặt. Kết quả của sự nghiệp đổi mới đã khẳng định đường
lối đổi mới và định hướng tiến hành CNH-HĐH đất nước, xây dựng một xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh là phù hợp với cách mạng Việt Nam. Đảng
ta luôn coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, coi con người là vốn
quý nhất, đầu tư cho con người không chỉ là đầu tư cho phát triển, mà còn có
tác dụng trực tiếp tới kết quả của CNH-HĐH, lấy việc phát huy nguồn lực con
người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước. Con
người có hoàn thiện và phát triến, thì xã hội mới phồn thịnh và văn minh. Như
vậy con người cần phải được hoàn thiện cả ba mặt: Trí lực; thể lực; tâm lực.
Trong đó cần nhấn mạnh đến việc phát triển tâm lực vì tâm lực là nội lực của
nhân cách và một trong ba thành tố của tâm lực là giá trị đạo đức, tư tưởng,
nhà trường tất yếu sẽ không phát huy được sức mạnh chung, không toàn diện
đầy đủ và do đó chất lượng không cao.
Như vậy, chăm lo giáo dục thế hệ trẻ đáp ứng những yêu cầu giai đoạn
phát triển mới của đất nuớc là nhiệm vụ của toàn xã hội và sự tổ chức phối
hợp của nhà trường với gia đình và xã hội là một nguyên tắc cơ bản đảm bảo
sự thành công của công tác giáo dục nói chung, giáo dục đạo đức nói riêng.
Từ lý do trên, là cán bộ quản lý trong trường trung học phổ thông, tôi
lựa chọn vấn đề nghiên cứu “Biện pháp tổ chức phối hợp giữa nhà trường
với gia đình và xã hội trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
huyện Mỹ Đức, Hà Tây hiện nay ".
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nền giáo dục Việt Nam với mục đích là giáo dục đào tạo con người
phát triển toàn diện, đặc biệt gắn hai mặt đức, tài khi quan điểm lấy đức làm
gốc như quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được quán triệt trong “Sự
nghiệp đào tạo giáo dục con người công dân chân chính nói chung, thế hệ trẻ
nói riêng”. Song làm thế nào để nhà trường, gia đình và xã hội cùng thực hiện
được mục đích, đó là một vấn đề phức tạp, khó khăn và luôn luôn có ý nghĩa
thời sự cuốn hút sự quan tâm của các nhà khoa học.
3
Vì vậy, vấn đề phối hợp ba lực lượng “Nhà trường, gia đình và xã hội
nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh ” đã trở thành một đề
tài nghiên cứu khoa học của các nhà giáo dục. Những nhà giáo dục đã đi sâu
vào đề tài này phải kể đến: GS -TS Hà Thế Ngữ, GS -TS Đức Minh, GS-TS
Đặng Vũ Hoạt đã đề cập đến vai trò, vị trí, ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với
sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội để nâng cao hiệu quả giáo
dục học sinh.
Trong các giáo trình giáo dục học của Phạm Cốc - Đức Minh vào
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu văn kiện.
- Nghiên cứu tài liệu kinh điển.
- Nghiên cứu sách báo tạp chí, các công trình sản phẩm nhằm hệ thống
hoá những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
7.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Quan sát khảo sát thực tế.
- Tổng kết kinh nghiệm.
- Điều tra cơ bản bằng phiếu hỏi.
- Lấy ý kiến chuyên gia qua trao đổi toạ đàm.
7.3. Phương pháp thống kê toán học
- Sử dụng thống kê (bảng số liệu, biểu đồ)
- Sử dụng lý thuyết toán học (các phương tiện của lý thuyết tập hợp, lô
gíc) và phương pháp lô gíc học.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc tổ chức phối hợp giữa nhà trường
với gia đình và xã hội trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh
Chương 2: Thực trạng công tác tổ chức phối hợp giữa nhà trường với gia
đình và xã hội nhằm giáo dục đạo đức cho học sinh THPT Huyện Mỹ Đức, Hà Tây
Chương 3: Một số biện pháp tổ chức phối hợp giữa nhà trường với gia
đình và xã hội trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh THPT huyện Mỹ
Đức, Hà Tây
6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan của vấn đề nghiên cứu
tiêu cực thiếu văn hoá, mất đạo đức của một bộ phận trong cộng đồng dân cư,
trong xã hội đã làm ảnh hưởng đến nhà trường đặc biệt là trường THPT.
Đứng trước thực tế này, GDĐĐ cho học sinh là vấn đề rất bức xúc, đã
được Đảng, nhà nước quan tâm và được nhiều nhà giáo dục nghiên cứu.
Chúng ta có thể tìm hiểu qua các tác giả như: Phạm Minh Hạc, Đặng Quốc
Bảo, Hà Nhật Thăng, Phạm Khắc Chương, ...
Tóm lại, trước đòi hỏi của việc xây dựng con người Việt Nam thời kỳ
CNH - HĐH đất nước, Nhà nước đã có 2 chương trình nghiên cứu trong vòng
10 năm, ở chu kỳ 1 (1990 – 1995) là Đánh giá thực trạng CNVN thời kỳ bước
vào thực hiện đổi mới (mã số KX – 07). Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của
chương trình ở chu kỳ 1, chu kỳ 2 (1996-2000) với nội dung là Xác định nhân
cách con người Việt Nam thời kỳ CNH - HĐH. Đây là chương trình KH CN cấp Nhà nước do GS. VS Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm. Kết quả nghiên
cứu của chương trình được trình bày trong tác phẩm “Về phát triển toàn diện
con người thời kỳ CNH - HĐH”, NXB Chính trị Quốc gia 2001.
Trong tác phẩm này có chương 7 trình bày mô hình về đạo đức con
người Việt Nam thời kỳ CNH - HĐH (từ trang 153 - 179). Đó là một chương
trình nghiên cứu khoa học quan trọng có ý nghĩa định hướng cho việc xác
định mục tiêu, nội dung GDĐĐ các cấp học, ngành học của người lao động
thời kỳ CNH - HĐH nhằm phát triển nguồn lực người - yếu tố quyết định sự
phát triển KT - XH của nền kinh tế tri thức những thập niên đầu thế kỷ 21.
8
Tiếp tục cụ thể hoá chương trình nghiên cứu trên biến nó thành hiện
thực có hiệu quả phải kể đến việc thiết kế mục tiêu GDĐĐ ở tiểu học, môn
GDCD ở THCS và THPT và chương trình hoạt động GD NGLL ở phổ thông
và đã thể hiện trong nội dung của SGK và SGV ở các cấp học phổ thông do
PGS.TS Hà Nhật Thăng làm trưởng tiểu ban, xây dựng chương trình và chủ
tịch hội đồng bộ môn là của Bộ Giáo dục - Đào tạo phụ trách.
Quản lý là một quá trình tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng
nhằm điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con
người để đạt tới mục đích, đúng với ý chí của nhà quản lý và phù hợp với quy
luật khách quan bằng các phương pháp thích hợp.
Xem xét nội hàm của những khái niệm quản lý nêu trên, ta thấy quản
lý là một dạng hoạt động xã hội và tồn tại với tư cách là một hệ thống bao
gồm chủ thể, khách thể và phương tiện quản lý.
Mục đích và phương tiện là cặp phạm trù trong mối quan hệ biện chứng
của mọi hoạt động, vì thế để thực hiện được từng mục tiêu cụ thể nhằm đạt
được
mục đích quản lý cần phải có phương tiện quản lý thích hợp.
Bản chất của QL là họat động lao động để điều khiền lao động, một
hoạt động tất yếu và vô cùng quan trọng của XH loài người. Nó bắt nguồn từ
lao động và tồn tại với tư cách là một loại lao động điều khiển mọi hoạt động
XH về kinh tế, chính trị, văn hoá, GD,… Các loại hình lao động ngày càng
phong phú, phức tạp thì hoạt động QL ngày càng có vai trò quan trọng có
những chức năng đặc biệt và phải luôn được thay đổi phù hợp, thích ứng với
lao động xã hội. Do vậy người ta thường nói: “QL là nghiệp xưa nhất nhưng
cũng là nghề mới nhất”.
Quản lý có phạm vi tác động lên khách thể rất rộng, do đó ngày nay nó
được xem là nhân tố quan trọng nhất trong các nhân tố quyết định sự thành
công của sự phát triển KT- XH (vốn, nguồn lực lao động, khoa học kỹ thuật,
tài nguyên và quản lý).
10
Như vậy: Có nhiều khái niệm quản lý tuy khác nhau song các định
nghĩa đều đề cập tới bản chất của hoạt động quản lý. Bởi lẽ, bất kỳ lao động
nào của xã hội hay cộng đồng ở một quy mô tương đối lớn đều cần một chừng
nhận đạo đức là một hình thái ý thức xã hội thì đạo đức của mỗi cá nhân mỗi
cộng đồng mỗi tầng lớp giai cấp trong xã hội cũng phản ánh ý thức chính trị
của họ đối với các vấn đề đang tồn tại.[17, tr.153]
+ Theo Phạm Khắc Chương: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội
phản ánh những tồn tại xã hội, phản ánh những quan hệ XH hiện thực trên cơ
sở kinh tế. Sự phát triển của ĐĐ xã hội từ thấp đến cao như những nấc thang
giá trị của văn minh con người trên cơ sở phát triển của sức sản xuất vật chất
và thông qua sự đấu tranh gạn lọc, kế thừa mà nội dung ĐĐ ngày càng phong
phú và hồn nhiên hơn”.[13]
Theo từ điển tiếng việt: “Đạo đức là những tiêu chuẩn, những nguyên
tắc qui định hành vi quan hệ của con người đối với nhau và đối với XH, là
những phẩm chất tốt đẹp của con người theo những tiêu chuẩn đạo đức của
một giai cấp nhất định”.[40]
Khi bàn về ĐĐ chúng ta không thể không nói đến các quan điểm ĐĐ
của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người quan niệm đạo đức là Nhân – Nghĩa – Trí Dũng - Liêm. Đó là ĐĐ cách mạng, đạo đức mới XHCN luôn vì lợi ích chung
của Đảng, của dân tộc và của lòng người. Theo Người, đạo đức là thống nhất
giữa tư tưởng và cách sống.
Theo chiều dài lịch sử, đã có rất nhiều quan điểm về đạo đức, nhưng chỉ
có quan điểm của chủ nghĩa Mác – LêNin là khoa học nhất, tiến bộ nhất. Chủ
nghĩa Mác- LêNin cho rằng đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, có nguồn
gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng, nó phản ánh và chịu sự chi
phối của tồn tại xã hội, khi tồn tại xã hội được thay đổi thì ý thức xã hội cũng
thay đổi theo, như vậy đạo đức là một phạm trù mang tính vĩnh hằng nhưng
mang lại những đặc điểm của giai cấp, của dân tộc và thay đổi chuẩn mực trong
từng giai đoạn lịch sử.
Vậy đạo đức là một hiện tượng xã hội phản ánh các mối liên hệ hiện
thực của cuộc sống con người. Thông thường trong cuộc sống mỗi người phải ý
13
14
Giáo dục đạo đức là quá trình hình thành những quan điểm cơ bản,
những nguyên tắc chuẩn mực của xã hội, nhờ vậy mà con người có khả năng
lựa chọn, đánh giá đúng đắn các hiện tượng đạo đức trong cộng đồng cũng
như tự đánh giá các hành vi của bản thân mình. Công tác GDĐĐ góp phần
vào việc hình thành và phát triển nhân cách con người phù hợp với với đối
tượng giáo dục trong môi trường kinh tế xã hội nhất định.
Ngày nay, khi xã hội phát triển, đời sống tương đối ổn định thì nhưĩng
dấu hiệu suy thoái ĐĐ lại xuất hiện ngày càng nhiều thể hiện dưới nhiều hình
thức khác nhau. Chính vì vậy mà việc GDĐĐ cho học sinh THPT là việc làm
cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Đó là quá trình tác động có mục đích, có kế
hoạch nhằm giúp cho nhân cách của mỗi HS được phát triển vẹn toàn, có
những hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ, hình thành và phát
triển ý thức, tình cảm, niềm tin, thói quen đạo đức cho học sinh .
GDĐĐ trong trường phổ thông là một bộ phận của quá trình giáo dục
tổng thể có quan hệ biện chứng với các quá trình bộ phận khác như giáo dục
trí tuệ, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động và giáo dục
hướng nghiệp giúp cho học sinh hình thành và phát triển nhân cách toàn diện.
Quá trình GDĐĐ cũng như các quá trình giáo dục khác đều có các thành tố có
quan hệ với nhau trong hệ thống cấu trúc nhất định và vận động. Các thành
tố cơ bản của giáo dục và người được giáo dục, mục đích giáo dục, nội dung
giáo dục, phương pháp và phương tiện giáo dục, kết quả giáo dục...
Về nhiệm vụ GDĐĐ là làm sao cho mỗi con người được GD
nhanh chóng tiếp cận được với mục tiêu, do vậy GD phải tăng cường GD ý
thức ĐĐ tình cảm đạo đức, khơi dậy ở HS những rung động, cảm xúc với
hiện thực xung quanh biết yêu thương với những thái độ và hành vi đúng đắn,
biết phản đối, căm ghét những hiện tượng tiêu cực, vô đạo đức, vô lương
tâm, làm
cùng
chung sống là một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, họ gắn bó với nhau bằng quan
hệ hôn nhân về dòng máu, thường gồm vợ chồng, cha mẹ, con cái” [13, tr.4].
16
Quan hệ con người với gia đình là yếu tố đặc biệt trong sự hình thành
nhân cách. Gia đình do con người sáng tạo ra, song gia đình lại là môi trường
xã hội đầu tiên, có tác dụng tiếp nhận chọn lọc, điều chỉnh hình thành hệ
thống giá trị xã hội, trước hết là hệ thống đạo đức văn hoá của dân tộc và
nhân loại. Gia đình hạnh phúc dựa trên nguyên tắc cơ bản là mọi người đều
phải yêu thương quý mến nhau, giúp đỡ nhau trong công việc gia đình và xã
hội.
- Các lực lượng xã hội bao gồm: Các cơ quan nội chính, các tổ chức
chính trị xã hội, các tổ chức kinh tế, các đoàn thể quần chúng, các cơ quan
chức năng...[37, tr.7].
Trong các lực lượng giáo dục, nhà trường có vai trò chủ đạo trong việc
giáo dục đạo đức học sinh vì:
* Nhà trường có chức năng thực hiện mục tiêu giáo dục đào tạo nhân cách
* Nhà trường có nội dung giáo dục và phương pháp giáo dục được
chọn lọc và tổ chức chặt chẽ.
* Nhà trường có LLGD mang tính chất chuyên nghiệp.
* Môi trường giáo dục trong nhà trường có tính chất sư phạm, có tác
động tích cực trong quá trình GD ĐĐ học sinh.
Tuy nhiên nếu nhà trường có sự liên hệ, phối hợp với gia đình và các
LLXH...sẽ có những tác động đồng thời tạo ra hiệu quả cao đối với quá trình
GDĐĐ học sinh.
1.2.6. Khái niệm về biện pháp
- Theo định nghĩa triết học của V.I. Lê nin thì biện pháp là cách thức,
gian, có tác động trực tiếp đến việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ.
+ Phối hợp giữa gia đình và các LLXH sao cho gia đình phát huy được
tác dụng định hướng, tổ chức cho trẻ tham gia vào các hoạt động xã hội vì xã
hội là môi trường giáo dục rất tốt cho trẻ. Bên cạnh đó gia đình còn giúp trẻ
có nhận thức đúng và không bị các tệ nạn xã hội lôi cuốn. Mặt khác LLXH vô
cùng đông đảo tạo ra một môi trường rộng lớn có ảnh hưởng tự phát hoặc
tự
18
giác rất mạnh mẽ đối với cuộc sống hàng ngày của trẻ.
1.3. Nguyên tắc phối hợp các lực lượng giáo dục
Việc phối hợp giữa nhà trường với gia đình và các lực lượng xã hội cần
theo
một số nguyên tắc sau:
- Phối hợp phải tận dụng, phát huy được toàn bộ tiềm năng trong và ngoài
nhà trường cả về trí tuệ, kinh nghiệm, sức người, cơ sở vật chất trang thiết
bị
nhằm thực hiện mục tiêu GDĐĐ trong giai đoạn hiện nay.
- Phối hợp phải tôn trọng tính đặc thù về chức năng nhiệm vụ của các
tổ
chức XH và cá nhân những người tham gia.
- Phải đảm bảo tính thống nhất từ nhận thức, mục tiêu, chương trình kế
hoạch hoạt động và khác nhau ở biện pháp, hình thức, thời gian, không gian
hoạt động GD.
- Phối hợp là nhằm khép kín không gian và thời gian tạo cơ hội thuận
lợi nhất cho học sinh được học tập, rèn luyện, phát huy tính tích cực rèn luyện
của học sinh
1.4. Vai trò việc tổ chức phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội
đình và xã hội có ý nghĩa rất lớn, đây là những môi trường trực tiếp ảnh
hưởng đến sự hình thành rèn luyện nhân cách của học sinh phổ thông nói
chung và học sinh THPT nói riêng
1.4.3. Tạo ra môi trường sư phạm lành mạnh, hạn chế được những tác động
tiêu cực trực tiếp tới quá trình hình thành nhân cách học sinh
Trong điều kiện hiện nay, cùng với những yếu tố tích cực, mặt trái mặt
tiêu cực của cơ chế thị trường đang ảnh hưởng đến QTGD của nhà trường.
Việc tìm kiếm giải pháp thống nhất nhà trường, gia đình và xã hội chính là tạo
ra sức mạnh tổng hợp và đồng bộ trong toàn xã hội hạn chế tối đa những ảnh
hưởng tiêu cực, ngăn chặn những thủ đoạn tội lỗi của những kẻ bất lương từ
20
đó xây dựng một môi trường lành mạnh tạo ra những tác động tích cực cho
quá trình GDĐĐ học sinh.
Việc định hướng cho học sinh THPT về các giá trị chuẩn mực đạo đức
hạn chế những ảnh hưởng không lành mạnh là rất cần thiết. Yêu cầu đó không
chỉ là trách nhiệm của nhà trường mà cần đặt ra cho các bậc cha mẹ mọi
người dù ở trong hay ngoài ngành giáo dục.
1.5. Những yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả của việc tổ chức phối hợp
1.5.1. Mục tiêu giáo dục phổ thông và những định hướng giáo dục đạo đức cho
học sinh trung học phổ thông trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá
1.5.1.1. Mục tiêu giáo dục phổ thông
- Theo luật giáo dục và nghị quyết TW 2: “ Mục tiêu của giáo dục phổ
thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm
mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt nam xã
hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học
sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và
bảo vệ tổ quốc”.
Trên nền tảng đạo đức trên, chúng ta cụ thể hoá thành nhiệm vụ GDĐĐ cho
học sinh THPT như sau:
+ Làm cho học sinh thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Mác-Lênin, tư tưởng
và đạo đức cách mạng của Hồ Chủ Tịch, tính chân lý khách quan, giá trị nhân
văn, nhân đạo, nhân bản của thế giới quan và tư tưởng đó. Coi đó là kim chỉ
nam cho tư tưởng và hành động của mình.
+ Trên cơ sở đó bằng sự tiếp cận với cuộc đấu tranh cách mạng của
nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng trên con đường xây dựng và bảo vệ tổ
quốc Việt Nam XHCN để củng cố niềm tin, xây dựng lẽ sống, lý tưởng sống
theo định hướng XHCN.
+ Thấm nhuần chủ trương, chính sách của Đảng, biết sống và làm việc
theo pháp luật, sống có kỷ cương, sống có văn hoá trong nhà trường cũng như
trong cộng đồng dân cư và nơi công cộng.
22
+ Nhận thức ngày càng sâu sắc về những nguyên tắc, yêu cầu chuẩn
mực, giá trị đạo đức, biến những giá trị đạo đức xã hội thành ý thức tình cảm,
ý chí, hành vi, thói quen, thành phẩm chất đạo đức cá nhân thể hiện trong
cách sống và làm việc, trong quan hệ ứng xử giữa con người với con người,
con người với tự nhiên, làm điều thiện, tránh điều ác.
1.5.1.3. Những định hướng giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông trong
giai đoạn mới
Bác Hồ đã nói: “Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức.
Đức là đao đức cách mạng đó là cái gốc rất quan trọng. Nếu không có đạo
đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng”.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X cũng khằng định: “Coi
trọng bồi dưỡng cho HS, sinh viên khát vọng mãnh liệt xây dựng đất nước giàu
mạnh, gắn liền lập nghiệp bản thân với tương lai của cộng đồng, của dân tộc,
học sinh đã khẳng định tầm quan trọng của đạo đức trong QTGD.
Trong giai đoạn mới hiện nay, GD nhân cách là nhiệm vụ và là mục
tiêu cơ bản của sự nghiệp GD nói chung, của trường THPT nói riêng đáp ứng
yêu cầu ngày càng cao của xã hội. Đó là GD cho học sinh, sinh viên, lòng yêu
nước, yêu CNXH, có bản lĩnh vững vàng, có tư duy sáng tạo và năng lực thực
hành giỏi có ý chí học tập, rèn luyện để lập thân, lập nghiệp, tiếp bước các
thế
hệ đi trước, góp phần đưa đất nước đến hưng thịnh, phú cường.
1.5.2. Trình độ nhận thức của thầy cô giáo, gia đình học sinh và các tổ
chức xã hội về phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội nhằm giáo
dục đạo đức cho học sinh
Trong sự phát triển của nguồn nhân lực cho đất nước Việt Nam
đang
đổi mới hiện nay yêu cầu cấp bách là nâng cao chất lượng nhân lực, đào tạo
và bồi dưỡng nhân tài nhằm tạo ra những mẫu nhân cách phù hợp với xã hội
mới. Để xây dựng được những con người có phẩm chất cơ bản đó cần có sự
24