MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đạo đức là một mặt quan trọng, là nhân tố cốt lõi trong nhân cách của mỗi
con người. Chính vì vậy việc hình thành nhân cách nói chung, giáo dục và rèn
luyện phẩm chất đạo đức nói riêng cho thế hệ trẻ luôn là nhiệm vụ hàng đầu
của nhà trường trong mọi thời đại.
Thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay thừa hưởng rất nhiều ưu việt của một thời
đại mới, thông minh, năng động, ham hiểu biết, dám nghĩ, dám làm Song,
nhiều năm qua trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường và toàn cầu hoá hội
nhập kinh tế quốc tế, ở nước ta đã “biểu hiện nhiều hiện tượng đặc biệt đáng
lo ngại đó là trong một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái về
đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập
thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước” [1. tr.26]. Vấn đề đạo
đức của thế hệ trẻ hiện nay đang trở thành mối quan tâm chung, nghị quyết
Trung ương II khoá VIII và chương trình nghiên cứu cấp nhà nước về con
người Việt Nam KX- 07 đã đề cập rất rõ.
Trường THPT, cấp học cuối cùng của hệ thống giáo dục phổ thông có sứ
mạng rất lớn trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục “ Mục tiêu giáo dục đào
tạo con người Việt nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ,
thẩm mỹ và nghề nghiêp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng phẩm chất và năng lực của công dân
đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc” [3,tr.8]. Đặc biệt ở cấp học này
phải đào tạo ra những thanh niên lứa tuổi từ 16 đén 18 có tri thức phổ thông
toàn diện vững chắc, có phẩm chất đạo đức, có hệ thống các năng lực cần thiết
để chuẩn bị bước vào đời. Tuy nhiên trong thực tiễn nhiều năm gần đây sự phát
triển ồ ạt của quy mô, số lượng học sinh THPT không tỷ lệ thuận với chất
lượng văn hoá, chất lượng đạo đức. Có rất nhiều biểu hiện của sự xuống cấp
trong đạo đức học sinh THPT. Đây là vấn đề đang được ngành Giáo dục - Đào
tạo và cả xã hội quan tâm tìm cách giải quyết.
11
Vấn đề giáo dục đạo đức học sinh trở nên vô cùng quan trọng. Nhất là
22
các lực lượng giáo dục hiện nay, hy vọng chắc chắn sẽ mang lai những hiệu
quả, chuyển biến tích cực nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ cho học sinh ở
trường THPT Văn Giang tỉnh Hưng Yên trong thời gian tới.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu: Quá trình GDĐĐ cho học sinh
4.2. Đối tượng nghiên cứu: Những biện pháp tổ chức phối hợp nhà trường với
gia đình và xã hội nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ cho học sinh
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Tìm hiểu những vấn đề lý luận: Về tổ chức phối hợp giữa nhà trường gia
đình và xã hội trong GDĐĐ cho học sinh.
5.2. Tìm hiểu thực trạng: Việc tổ chức phối hợp giữa nhà trường gia đình và
xã hội trong GDĐĐ cho học sinh ở trường THPT Văn Giang.
5.3. Đề xuất một số biện pháp: Tổ chức phối hợp giữa nhà trường với gia đình
và xã hội trong GDĐĐ cho học sinh ở trường THPT Văn Giang - Hưng Yên.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu văn kiện
- Nghiên cứu tài liệu kinh điển
- Nghiên cứu sách báo tạp chí, các công trình, sản phẩm liên quan.
- Phân tích, tổng hợp khái quát các tài liệu lý luận về tổ chức phối hợp
giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong GDĐĐ cho học sinh.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1. Phương pháp quan sát:
Quan sát các hoạt động giáo dục để thu thập số liệu tìm ra nét đặc thù
của công tác tổ chức phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong
GDĐĐ cho học sinh, phân tích những điều đã làm được, chưa làm được, phát
hiện điều mới.
6.2.2. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi:
Thu thập ý kiến của các đối tượng cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh,
được đặt ra từ xa xưa và luôn đổi mới phù hợp với những yêu cầu mới của
đời sống xã hội.
Từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nền giáo dục Việt
Nam với mục đích giáo dục, đào tạo con người phát triển toàn diện, đặc biệt
gắn hai mặt “đức”, “tài” khi quan điểm lấy “đức” làm gốc như quan điểm của
Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã được quán triệt trong sự nghiệp đào tạo giáo dục
con người công dân chân chính nói chung, thế hệ trẻ nói riêng. Song, làm thế
nào để nhà trường, gia đình và xã hội cùng thực hiện được mục đích đó là một
vấn đề phức tạp khó khăn luôn luôn có ý nghĩa thời sự cuốn hút sự quan tâm
của các nhà khoa học. Vì vậy, vấn đề phối hợp ba lực lượng “ Nhà trường, gia
đình và xã hội nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh ” đã trở
thành một đề tài nghiên cứu khoa học của nhiều nhà giáo dục. Những nhà giáo
dục đã đi sâu vào đề tài này phải kể đến: Hà Thế Ngữ, Đắc Minh, Đặng Vũ
Hoạt đã đề cập đến vai trò, vị trí, ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự phối
hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội để nâng cao hiệu quả giáo dục học
sinh. Nhiều công trình nghiên cứu gần đây về khoa học quản lý của các nhà
nghiên cứu và các giáo sư giảng dạy trường đại học viết dưới dạng giáo
trình, sách tham khảo, phổ biến kinh nghiệm đã được công bố. Đó là các tác
giả: Nguyễn Quốc Chí, Đặng Phạm Thành Nghị, Trần Quốc Thành, Đặng Bá
Lãm, Nguyễn Gia Quý, Bùi Trọng Tuân, Các công trình nghiên cứu của các
tác giả trên đã giải quyết được vấn đề lý luận rất cơ bản về khoa học quản lý:
55
như khái niệm quản lý, bản chất của hoạt động quản lý, thành phần cấu trúc,
chức năng quản lý, chỉ ra các phương pháp và nghệ thuật quản lý
Với tư cách là một người quản lý của nhà trường THPT về lý luận cũng
như thực tiễn đã hướng tôi đi sâu nghiên cứu đề tài để trước hết, giúp mình
hoàn thành trách nhiệm được giao, thứ nữa là rút ra được những bài học kinh
nghiệm cho đồng nghiệp có thể vận dụng vào thực tiễn một cách sáng tạo phù
hợp trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh.
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
- Tính ngay thẳng và lòng trung thực
- Tính nguyên tắc và sự kiên tâm
- Tính khiêm tốn và sự lễ độ
- Tính hào hiệp và sự tế nhị
- Tính tiết kiệm và giản dị
- Lòng dũng cảm và phẩm chất anh hùng
1.2.2. Giáo dục đạo đức
1.2.2.1. Giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội, là quá trình tác động có mục đích, có
kế hoạch, ảnh hưởng tự giác, chủ động đến con người đưa đến sự hình thành
và phát triển nhân cách.
Theo nghĩa rộng, giáo dục là toàn bộ tác động của gia đình, nhà trường,
xã hội bao gồm cả dạy học và các tác động giáo dục khác đến con người.
Theo nghĩa hẹp, giáo dục có thể xem như là quá trình tác động đến tư
tưởng, đạo đức, hành vi của con người (giáo dục đạo đức, giáo dục lao động,
giáo dục lối sống, hành vi…)
1.2.2.2. Giáo dục đạo đức
GDĐĐ về bản chất là quá trình biến hệ thống các chuẩn mực đạo đức, từ
những đòi hỏi bên ngoài xã hội đối với cá nhân, thành những đòi hỏi bên trong
của cá nhân, hình thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của đối tượng giáo dục.
77
Theo PGS- TS Phạm Viết Vượng: “GDĐĐ là quá trình tác động tới học
sinh để hình thành cho họ ý thức, tình cảm và niềm tin đạo đức và mục đích
cuối cùng là tạo lập được những thói quen hành vi đạo đức”.
GDĐĐ là hình thành cho con người những quan điểm cơ bản, những
nguyên tắc chuẩn mực đạo đức cơ bản của xã hội, nhờ đó con người có khả
năng lựa chọn đánh giá suy nghĩ, hành vi của bản thân. Vì thế công tác GDĐĐ
góp phần vào việc hình thành phát triển nhân cách con người mới phù hợp với
từng giai đoạn phát triển của xã hội.
Giáo dục đạo đức cho học sinh THPT là một công việc của toàn xã hội,
- Tổ chức là một hệ thống: “ Tổ chức là một cơ cấu liên kết những cá
nhân trong một hệ thống nhằm thực hiện mục tiêu của hệ thống dựa trên những
nguyên tắc và quy tắc nhất định” [38, tr. 178].
- Tổ chức là một hoạt động quản lý: Trong 4 chức năng quản lý tổ chức
là chức năng quan trọng nhất.
Tổ chức là một quá trình sắp xếp, tác động và điều khiển các nhiệm vụ
và nguồn lực để đạt được các mục tiêu đã vạch ra. [27, tr.187].
Trong đề tài này tổ chức được được dùng với tư cách là một hoạt động
quản lý.
1.2.5. Khái niệm phối hợp
Là sự tác động vào các đối tượng tạo ra mối liên hệ tác động hướng đích
có tính thống nhất,tập trung để huy động sức mạnh tổng hợp của các đối tượng
nhằm đạt được mục đích .
1.3. Mục tiêu giáo dục phổ thông và những định hướng giáo dục đạo đức
cho học sinh THPT
1.3.1. Mục tiêu giáo dục phổ thông
- Theo luật giáo dục năm 2005 sửa đổi năm 2009: “ Mục tiêu của giáo
dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể
chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người
Việt nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn
99
bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây
dựng và bảo vệ tổ quốc”.
- “Giáo dục THPT nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết
quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu biết
thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học đại học, cao đẳng,
THCN học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” [3, tr.21].
1.3.2. Mục tiêu, nhiệm vụ và những định hướng GDĐĐ cho học sinh THPT
hiện nay
Mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh.
tích cực rèn luyện trong học tập, nghiên cứu khoa học, lao động sản xuất, hoạt
động xã hội để chuẩn bị cho ngày mai lập nghiệp.
GDĐĐ trong nhà trường là một bộ phận vô cùng quan trọng của quá
trình sư phạm. GDĐĐ nhìn chung bao gồm những nội dung sau:
Trang bị cho đối tượng giáo dục những hiểu biết về niềm tin, về các
chuẩn mực và quy tắc đạo đức.
Giáo dục ý thức về mục đích cuộc sống bản thân, giáo dục ý thức về lối
sống cá nhân, giáo dục ý thức về các mối quan hệ trong gia đình, trong tập thể
và ngoài xã hội, giáo dục ý thức về cuộc sống lao động sáng tạo, về nghĩa vụ
lao động và bảo vệ Tổ quốc
Những nội dung cơ bản trong giáo dục đạo đức cho học sinh trung
học phổ thông.
Nội dung GDĐĐ là xây dựng hành vi và thói quen đạo đức phù hợp với
các chuẩn mực xã hội, tạo lập cho học sinh ý chí đạo đức vững vàng.
Theo GS-TS Phạm Minh Hạc thì chuẩn mực đạo đức của con người Việt
Nam thời kỳ CNH- HĐH có thể xác định một cách tương đối thành 5 nhóm
phản ánh các mối quan hệ chính mà con người phải giải quyết:
1111
- Nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện nhận thức tư tưởng chính trị như:
Có lý tưởng XHCN, yêu quê hương, đất nước,tự cường, tự hào dân tộc, tin
tưởng vào Đảng và nhà nước.
- Nhóm chuẩn mực đạo đức hướng vào sự hoàn thiện bản thân như: tự
trọng, tự tin, tự lập, giản dị, tiết kiệm, trung thành, siêng năng, hướng thiện,
biết kiềm chế, biết hối hận.
- Nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện quan hệ với mọi người và dân tộc
khác: Nhân nghĩa, hiếu thảo, khoan dung, vị tha, hợp tác, bình đẳng, lễ độ, tôn
trọng mọi người, thuỷ chung, giữ chữ tín.
- Nhóm chuẩn mực liên quan đến xây dựng môi trường sống như: Xây
dựng hạnh phúc gia đình. giữ gìn bảo vệ tài nguyên môi trường tự nhiên, xây
dựng xã hội công bằng, dân chủ, bình đẳng Mặt khác có ý thức chống lại
đang dần được chuẩn hoá và trình độ ngày càng cao, những điều kiện về vật
chất trang thiết bị và tiềm năng trí tuệ của xã hội cần được huy động vào
QTGD của nhà trường.
* Việc tổ chức phối hợp giữa nhà trường gia đình và xã hội là nguyên tắc
quan trọng tạo ra sự thống nhất thực hiện mục tiêu giáo dục, thực hiện các
chuẩn mực đạo đức của học sinh.
Thực tiễn hiện nay cho thấy việc phối hợp nhà trường gia đình và xã hội
thường nhằm mục đích huy động nguồn lực tổng hợp để khắc phục những khó
khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị (trường, lớp, mua sắm thêm đồ dùng dạy
học, sửa chữa bàn ghế ) hoặc hỗ trợ một số hoạt động của giáo viên, học
sinh
Trong quá trình thực hiện mục tiêu, nội dung giáo dục, khi gặp những
trường hợp học sinh chưa ngoan, sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã
hội cũng được đặt ra song cần thường xuyên, liên tục và xuất phát từ mục tiêu,
nội dung giáo dục toàn diện.
1313
Để thực hiện mục tiêu GDĐĐ học sinh, việc phối hợp giữa nhà trường,
gia đình và xã hội có một ý nghĩa đặc biệt. Vì đó là những môi trường trực tiếp
ảnh hưởng đến sự hình thành, rèn luyện nhân cách của học sinh phổ thông nói
chung và học sinh THPT nói riêng. Trong việc kết hợp sự tác động của các môi
trường ấy vai trò của nhà giáo dục là rất quan trọng.Vì vậy: “Nhà giáo dục phải
có tầm nhìn, phải có kế hoạch, có chiến lược, phải hiểu đối tượng dự định tiếp
cận và huy động thì mới có thể đạt dược những điều mong muốn”
* Tạo ra môi trường sư phạm lành mạnh, hạn chế được những tác động
tiêu cực trực tiếp tới quá tŕnh h́nh thành nhân cách học sinh.
Trong điều kiện hiện nay, cùng với những yếu tố tích cực, mặt trái, mặt
tiêu cực của cơ chế thị trường đã và đang ảnh hưởng đến QTGD của nhà
trường. Nhiều phần tử xấu vì lợi nhuận, vì đồng tiền đã bất chấp pháp luật, trà
đạp lên truyền thống đạo lí làm hư hỏng tâm hồn thế hệ trẻ. Thậm chí chúng
lôi kéo các em vào vòng tội lỗi bằng mọi thủ đoạn.
1.5.1. Nhận thức về vai trò của nhà trường gia đình và xã hội trong GDĐĐ
cho học sinh
Trong sự phát triển của nguồn nhân lực cho đất nước Việt Nam đang đổi
mới hiện nay, yêu cầu cấp bách là nâng cao chất lượng nhân lực, đào tạo và bồi
dưỡng nhân tài, nhằm tạo ra những mẫu nhân cách phù hợp với xã hội mới. Đó
là nguồn lao động có học vấn kiến thức đa ngành, vừa có kiến thức chuyên sâu
và có năng lực sáng tạo, có sức khoẻ, đồng thời phải có những phẩm chất đạo
đức cần thiết như lòng nhân ái, sự đồng cảm với con người, sự quan tâm đến
lợi ích của cộng đồng, dân tộc hài hoà với lợi ích của cá nhân, gia đình. Để xây
dựng được những con người có phẩm chất cơ bản đó cần có sự hợp tác, sự kết
hợp nhịp nhàng, đồng bộ, hỗ trợ cho nhau giữa ba môi trường giáo dục nhà
trường, gia đình, xã hội. Sự phối hợp ấy phải trở thành một quá trình thống
nhất liên tục, tác động mạnh mẽ vào việc phát triển nhân cách toàn diện của
trẻ.Tuy nhiên, để thực hiện được sự phối hợp trên, trình độ nhận thức của thầy,
cô giáo, gia đình học sinh và các tổ chức xã hội khác đóng vai trò quan trọng.
Khi nào học có nhận thức đầy đủ, đúng đắn và đạt tới một mức độ cho phép thì
sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội mới đạt được hiệu quả cao
1515
trong giáo dục nói chung và trong GDĐĐ nói riêng. Các chủ thể của quá trình
phối hợp cần nhận thức những vấn đề sau:
1.5.2. Vai trò chủ động của nhà trường
Điều 45, Điều lệ trường phổ thông có ghi: “Nhà trường phải chủ động phối
hợp thường xuyên và chặt chẽ với gia đình và xã hội để xây dựng môi trường
giáo dục thống nhất nhằm thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục” [8,tr.24].
Một điều phải khẳng định: Nhà trường là môi trường giáo dục tốt nhất, có
đủ điều kiện nhất trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục. Nhà trường là nơi
để lại dấu ấn đậm nét nhất trong mỗi cuộc đời của chúng ta. Ai cũng trải qua
những năm tháng cắp sách tới trường, kỉ niệm về trường lớp, bạn bè, thầy cô
chắc chắn là những kỉ niệm đẹp nhất theo suốt cả cuộc đời họ. Xuất phát từ đó,
mà trong thời gian qua, chúng tôi đã hết sức chú ý đến việc xây dựng tập thể sư
tránh hiện tượng các em không có việc làm, dễ bị nhiễm những thói hư tật xấu,
tệ nạn xã hội.
1.6. Những đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT
1.6.1. Đặc điểm chung về tâm sinh lý lứa tuổi học sinh THPT
Học sinh THPT ở tuổi vị thành niên (16-18 tuổi) các em đang trong giai
đoạn phát triển mạnh về thể lực, tâm lý, sinh lý đang là thời kì chuyển tiếp từ
trẻ con sang tuổi người lớn. Đây là thời kỳ trẻ gia nhập tích cực vào cuộc sống
xã hội, qua đó hình thành phẩm chất của người công dân.
Đặc điểm của sự phát triển nhân cách của học sinh THPT là tự ý thức
gắn liền với nhu cầu nhận thức và ðánh giá các phẩm chất tâm lý, đạo đức
trong nhân cách của mình cả trên bình diện các mục đích và nguyện vọng cụ
thể trong cuộc sống. Họ đánh giá mình không phải theo cái hiện tại mà hướng
1717
tới tương lai. Nét đặc trưng của sự phát triển các phẩm chất đạo đức là sự tăng
cường vai trò của các niềm tin đạo đức, ý thức đạo đức trong hành vi. Cuộc
sống học tập, lao động xã hội trong các tập thể lành mạnh có yêu cầu cao và có
tác dụng tích cực đến các thành viên, thường cải tạo được ý thức và hành vi
của những học sinh đó. Cũng ở lứa tuổi này, học sinh THPT có nhu cầu mạnh
mẽ về tình bạn, tình yêu. Bên cạnh đó, họ cũng đang tự xây cho mình những
quan điểm riêng và đang quyết định viễn cảnh, kế hoạch cho cuộc sống của
bản thân.
1.6.2. Đặc điểm về đạo đức học sinh THPT hiện nay
Trong thời kì khoa học công nghệ và thông tin phát triển mạnh mẽ, thế
hệ thanh niên học sinh cũng biến đổi sâu sắc và mạnh mẽ. Có nhiều nét chung
trong các giá trị đạo đức truyền thống của xã hội, song cũng có những nét mới
in dấu ấn của thời đại. Có thể thấy được một số đặc điểm nổi bật sau đây:
+ Đây là lứa tuổi giàu ước mơ, hoài bão nhưng đa số lại lưu tâm đến
những nhu cầu thiết thực và phân hoá theo nhiều định hướng khác nhau. Cụ thể:
Số đông học sinh có ý chí tiếp tục học tập, chiếm lĩnh tri thức khoa học để tiến
thân, lập nghiệp. Một bộ phận học sinh mong muốn sớm có công việc. Một bộ
Trường có đội ngũ giáo viên tâm huyết với nghề, đạt chuẩn và trên
chuẩn cao là lực lượng nòng cốt quyết định tới công tác GDĐĐ cho học sinh.
Trường luôn nhận được sự quan tâm lớn của tỉnh, của huyện và các xã
trong khu vực tuyển sinh.
1919
2.1.2.2. Khó khăn
Môi trường bên ngoài rất phức tạp ảnh hưởng lớn đến GDĐĐ cho học
sinh.
Một số xã thuộc khu vực tuyển sinh của Nhà trường nằm trong vùng dự
án ECOPAK đang là điểm nóng của giải phóng mặt bằng nên tác động không
nhỏ tới học sinh.
2.2. Thực trạng việc tổ chức phối hợp nhà trường với gia đình và xã hội
trong giáo dục đạo đức cho học sinh
2.2.1. Khái quát về khảo sát thực trạng
Nhiệm vụ khảo sát thực trạng:
- Đánh giá thực trạng đạo đức học sinh và nguyên nhân dẫn đến những
hiện tượng đó.
- Tìm hiểu các biểu hiện của về ảnh hưởng của nhà trường, gia đình và
xã hội đến đạo đức học sinh và nhận thức về vai trò của vịêc tổ chức phối hợp
giữa nhà trường gia đình và xã hội nhằm giáo dục đạo đức học sinh.
-Thăm dò những hình thức, phương pháp phối hợp giữa nhà trường, gia
đình và xã hội nhằm giáo dục đạo đức học sinh có hiệu quả.
Nội dung khảo sát:
Để thực hiện mục tiêu đánh giá thực trạng, khi thực hiện đề tài, tôi đã
tiến hành điều tra bằng phiếu hỏi 636 người gồm CMHS, giáo viên THPT, Cán
bộ QLGD và với các thành phần có ảnh hưởng trực tiếp cụ thể:
Bảng 2.1. Đối tượng khảo sát thực trạng
ST
T
Đối tượng khảo sát Tổng số Nam Nữ
tượng: cùng sống trong một phường, một tổ dân phố, cùng học một trường,
một lớp mà học sinh này thì hư hỏng, học sinh kia thì chăm ngoan, hiện tượng
đó có nguyên nhân quan trọng từ giáo dục gia đình. Vì mọi tính cách của con
cái phải được bắt nguồn từ cái nôi, từ trong vòng tay cha mẹ, dưới mái ấm gia
2121
đình. Những học sinh ngoan có lẽ do nề nếp vững chắc của gia đình, sự quan
tâm, dạy dỗ của gia đình đối với con cái tốt hơn.
+ Giáo dục nhà trường chưa đúng lúc, chưa kịp thời chưa có phương
pháp giáo dục phù hợp. Đặc biệt trong công tác quản lý học sinh, nhà trường
chỉ quản lý học sinh trong thời gian ở trường còn ngoài giờ học thì nhà trường
không quản lý được, nên dễ hiểu vì sao số học sinh yếu kém về đạo đức lại có
nhiều biểu hiện vi phạm đạo đức ngoài thời gian ở trường, ở lớp.
+ Bị ảnh hưởng của tiêu cực xã hội, môi trường xã hội gần gũi nhất luôn
luôn để lại ấn tượng, hình ảnh sâu đậm nhất với các em, nếu môi trường đó có
những tệ nạn xã hội thì các em bị tiêm nhiễm, bị ảnh hưởng.
+ Một nguyên nhân bao trùm lên tất cả là mối quan hệ giữa nhà trường,
gia đình và xã hội thiếu sự phối hợp đồng bộ. Sự kết hợp giữa nhà trường và
chính quyền địa phương chưa được quan tâm đúng mức. Thực tế cho thấy
nhiều thầy, cô giáo chưa trao đổi với cha mẹ học sinh về khuyết điểm của học
trò và ngược lại cha mẹ học sinh phó mặc con cái cho thầy cô, vẫn còn quan
điểm “Trăm sự nhờ Thầy”. Từ đó dần dần thiếu thông tin hai chiều để kịp thời
giáo dục đạo đức học sinh.
Một số nhận định ban đầu về đạo đức học sinh:
Nhìn tổng thể học sinh có đạo đức tốt nhiều hơn học sinh có đạo đức yếu
kém về đạo đức, những hiện tượng tích cực trong học đường vẫn là chủ yếu.
Những biểu hiện tốt đang chiếm ưu thế, đang được sự quan tâm của nhà
trường, gia đình và toàn xã hội. Những biểu hiện không lành mạnh trong học
đường cũng đang có chiều hướng gia tăng do những tác động tiêu cực của kinh
tế thị trường, của sự bùng nổ thông tin và mở rộng giao lưu quốc tế còn thiếu
sự quản lý chặt chẽ của các cơ quan chức năng, thiếu sự giám sát và phối hợp
7. Tổ chức Đoàn TNCS 5.66 41.50 9.43 27.35
Qua bảng 2.2 có thể rút ra nhận xét:
- Xét ở góc độ ảnh hưởng với kết quả điều tra cho thấy nhận định của
người lớn về khả năng tác động đến GDĐĐ của học sinh rất tản mạn và có ảnh
hưởng không cao. Nếu xét mức độ tích cực của các loại ảnh hưởng (Gia đình,
nhà trường, xã hội ) ta thấy: Giáo viên chủ nhiệm và gia đình được xác định
là có ảnh hưởng lớn nhất đến GDĐĐ học sinh. Sau đó đến bạn bè thân rồi giáo
viên bộ môn và tập thể lớp.
- Xét ở mức độ ảnh hưởng, điều quan tâm là ảnh hưởng thường xuyên
đến đạo đức của học sinh lại là bạn bè thân (40.56%). Sau đó mới đến giáo
viên chủ nhiệm (35.84%), giáo viên bộ môn (34,90%), tập thể lớp (33,96%)
gia đình (29.24%)
Điều đặc biệt quan trọng ảnh hưởng đến học sinh là bạn bè thân, đây
chính là lực lượng có ảnh hưởng thường xuyên nhất đối với trẻ. Do vậy, trong
các biện pháp GDĐĐ học sinh cần chú ý tới việc xây dựng tập thể học sinh
2323
thành lực lượng tác động có hiệu quả. Mặt khác cần trang bị cho các bậc cha
mẹ, thầy cô giáo phương pháp tiếp cận trẻ em để có ảnh hưởng giáo dục tốt
hơn đến học sinh, để “lành mạnh hoá” các quan hệ bạn bè của học sinh.
Nguyên nhân ảnh hưởng tới hành vi không lành mạnh ở học sinh THPT:
Một trong những băn khoăn của xã hội là những biểu hiện không lành
mạnh trong lối sống, hành vi đạo đức ở học sinh nói riêng, thế hệ trẻ nói chung
và xu hướng gia tăng của những hiện tượng không lành mạnh. Vì vậy, chúng
tôi đặc biệt quan tâm đến những nguyên nhân của những hiện tượng không
lành mạnh theo cách đánh giá của các đối tượng khảo sát hay nói cách khác
đây là những biểu hiện tích cực của gia đình, nhà trường và xã hội tới đạo đức
học sinh.
Bảng 2.3. Nguyên nhân ảnh hưởng đến hành vi
không lành mạnh ở học sinh THPT
(Tính theo tỷ lệ phần trăm so với đối tượng điều tra 304 người)
động tiêu cực hoặc chuyển thành mặt tích cực thành tác động tích cực.
Trong loại nguyên nhân vì quản lý, chúng ta thấy: Chưa có giải pháp
phối hợp toàn xã hội là nguyên nhân phổ biến quan trọng nhất (29.79%) rồi
mới đến nguyên nhân bộ phận, cục bộ như: Gia đình và xã hội buông lỏng giáo
dục đạo đức, điều hành pháp luật chưa nghiêm, nhiều đoàn thể xã hội chưa
quan tâm tới giáo dục đạo đức, chưa có giải pháp giáo dục phù hợp: Điều đáng
mừng là nếu trước đây, khi điều tra cho rằng do đời sống khó khăn là nguyên
nhân trực tiếp quan trọng ảnh hưởng đến giáo dục nói chung và chất lượng
giáo dục đạo đức nói riêng, thì hiện nay chỉ có một số người (14.38%) coi đây
là nguyên nhân phổ biến dẫn đến xuống cấp của đạo đức ở xã hội, ở nhà
trường.
Bảng 2.4. Nhận thức của các đối tượng khảo sát về ý nghĩa sự phối
hợp và tổ chức phối hợp.
(Điều tra đánh giá của 486 cán bộ QLGD và CMHS)
STT Mức độ nhận thức ý nghĩa của sự phối hợp ý kiến đánh giá
SL %
1 Rất cần thiết
354 84.3
2525