Trang 1
Tên đề tài: PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC CÁC TIẾT DẠY THỰC HÀNH
MÔN CÔNG NGHỆ BẬC THCS.
I. Đặt vấn đề.
Môn Công nghệ là môn học mang nhiều tính kĩ thuật, thực tiễn gần gũi với
đời sống . Vì vậy việc học tập phải kết hợp chặt chẽ giữa lí thuyết với thực hành.
Việc dạy học môn Công nghệ phải kết hợp tốt hai phương pháp trên , một mặt
giúp học sinh cũng cố kiến thức, mặt khác để hình thành kĩ năng và tư duy công
nghệ, tập cho các em biết vận dụng kiến thức vào thực tế, qua đó gây thêm sự
hứng thú và lòng say mê học tập.
Môn Công nghệ trong chương trình THCS được chia thành hai phần đó là
Công nghệ I ( các lớp 6, 7, 8 ) và công nghệ 2 ( các môđul lớp 9). Mỗi phần thời
lượng phân phối cho các tiết lí thuyết và thực hành lại khác nhau . Công nghệ I
khoảng 70% lí thuyết , 30% thực hành ; Công nghệ II khoảng 70% thực hành,
30% lí thuyết. Bên cạnh đó mục đích yêu cầu các tiết thực hành đối với phần
Công nghệ I và Công nghệ II cũng khác nhau. Với thời lượng các tiết thực hành
như trên xét về điều kiện cơ sở vật chất của trường THCS Hướng Hiệp nói riêng,
các trường THCS ở trên địa bàn nói chung còn nhiều hạn chế. Trường chưa có
phòng học bộ môn, giáo viên phụ trách thiết bị hầu hết là kiêm nhiệm, giáo viên
dạy môn Công nghệ đôi lúc không đúng chuyên môn. Vì vậy việc tổ chức tốt
các tiết dạy thực hành đối với môn Công nghệ là rất khó khăn. Đối với điêù kiện
như trên làm thế nào để tổ chức tốt các tiết dạy thực hành môn Công nghệ ?
Với những lí do nêu trên nội dung mà tôi trình bày trong đề tài này sẽ góp
phần giải quyết một số các vấn đề sau :
- Giáo viên tổ chức các giờ dạy thực hành có hiệu quả.
- Tạo thói quen tác phong làm việc theo quy trình cho học sinh.
- Các tiết dạy thực hành đạt được mục đích , yêu cầu của bài học.
- Học sinh có kĩ năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tế.
- Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, tự giác của học sinh trong học
tập .
- Hình thành kĩ năng tác phong làm việc có khoa học cho học sinh.
riêng là rất khó khăn vì cơ sở vật chất còn thiếu thốn. Cụ thể như
phòng học bộ môn chưa có, đồ dùng phục vụ cho học sinh học tập ở
trên trang cấp chỉ đáp đủ cho cơ số bốn ( 4 nhóm học sinh) ; trong lúc
Trang 3
đó học sinh lại đông (Trung bình 30 em/lớp). Mặt khác các đồ dùng,
thiết bị dạy học có chất lượng không cao, các vật liệu tiêu hao nhà
trường chưa có điều kiện mua sắm bổ sung kịp thời. Thiết bị chưa đủ
đảm bảo cho việc thực hiện bài thực hành cho nhiều học sinh tham gia,
các dụng cụ thiết bị cũng như vật liệu để thực hành còn thiếu nhiều
chủng loại, đặc biệt các thiết bị được cấp về có chất lượng không cao,
có thiết bị chỉ sử dụng một lần đã hư hỏng hoặc không dùng được nữa
bởi chỉ có giá trị dùng 01 lần.
Địa phương lại là một xã khó khăn, điều kiện sinh hoạt còn tương
đối khó khăn vì vậy một số nội dung trình bày trong chương trình SGK
còn quá xa lạ đối với học sinh (như: phần nấu ăn ở lớp 6, lớp 9), các
trang thiết bị điện cũng như các đồ dùng trong gia đình ít, sự hiểu biết
thực tế còn hạn chế.
III. Đối tượng, phương pháp nghiên cứu
1. Đối tượng nghiên cứu.
- Học sinh trường THCS Hướng Hiệp.
- Các tiết thực hành bộ môn Công nghệ THCS theo PPCT năm học 2007-
2008.
2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thực nghiệm.
- Phương pháp so sánh.
- Lấy ý kiến đồng nghiệp.
IV. Nội dung nghiên cứu:
1. Thực trạng :
Chương trình Công nghệ THCS gồm có hai phần là Công nghệ I và Công
nghệ II, số tiết thực hành theo PPCT mới áp dụng từ năm học 2007 - 2008 như
* Đối với học sinh:
- Các em còn ngại môn học, không có hứng thú học tập bởi vì đây
là môn học có nội dung “khô, cứng” không hấp dẫn, một phần các em
nhận thức chưa đúng môn học, một phần nữa xem đây là môn học phụ .
- Đây là môn học được xây dựng dưới dạng định hướng và kỷ năng
nghề, đơn vị kiến thức còn mới lạ và mang tích chất thực hành nên các
em gặp nhiều khó khăn trong việc hiểu biết, nắm bắt kiến thức và vận
dụng vào thực hành.
Trang 5
- Học sinh chưa được được tiếp xúc với thực nghiệm nên những
dụng cụ thực nghiệm quả là mới mẻ, có thể nói đối với các em đó
giống như là những thứ đồ chơi mới lạ. Do đó quá trình thực hành của
học sinh để hoàn thành một công đoạn hay một sản phẩm trong một tiết
học đạt được theo yêu cầu kĩ thuật theo mục tiêu, nội dung chương
trình đặt ra gặp nhiều khó khăn.
* Đối với giáo viên:
- Một số giáo viên được phân công giảng dạy môn Công nghệ
không đúng chuyên môn nên không tâm huyết với bộ môn, không thành
thạo và rất ngại chuẩn bị và sử dụng thiết bị thực hành. Mặt khác khi
thanh tra, thao giảng , thi giáo viên dạy giỏi thường không dự những
môn dạy không đúng chuyên môn nên tâm lí để đầu tư cho bài soạn,
chuẩn bị thiết bị .
- Do sự phân công công tác nên nhiều khi một khối lớp lại có nhiều
giáo viên cùng giảng dạy( mỗi giáo viên chỉ dạy 1 đến hai lớp) nên
việc chuẩn bị đồ dùng thực hành lại mất nhiều thời gian của nhiều giáo
viên ( nhiều khi chỉ dạy 1 tiết/1 lớp nhưng lại chuẩn bị mất 1 buổi).
2. Các giải pháp .
Có thể nói rằng đê có ngay phòng học bộ môn hoặc cho một nhóm bộ môn
không phải là đơn giản với các trường trên địa bàn nói chung và trường THCS
Hướng Hiệp nói riêng . Trong khi việc giảng dạy các tiết thực hành đối với các
* Ưu điểm :
-Xếp bàn nhanh (đối với lớp học có 4 dãy bàn thì chỉ cần dịch hai bàn lại sát
nhau là được) đỡ mất thời gian chuẩn bị cũng như xếp lai bàn trở lại vị trí như cũ
cho các tiết học tiếp theo.
Bàn HS Bàn HS Bàn HS Bàn HS
Bàn HS Bàn HS
Bàn HS Bàn HS
Bảng đen
Bàn GV
Lối đi
Trang 7
- Tạo được một lối đi dọc và các lối đi ngang để giáo viên đễ theo dõi và hướng
dẫn học sinh thực hành.
* Nhược điểm:
Khi giáo viên hướng dẫn thực hành chung cho cả lớp số học sinh ngồi
quay lưng lại với bảng đen phải quay lui , quay tới nhiều lần gây sự lộn xộn
trong lớp học.
+ Cách 2: Bố trí hai dãy bàn dọc
Cửa vào
* Ưu điểm :
- Tạo ra các lối đi ngang dọc thuận tiện cho GV theo dõi hướng dẫn HS trong
quá trình thực hành.
- Học sinh không cần quay lui khi giáo viên hướng dẫn chung cho cả lớp .
* Nhược điểm:
- Mất thời gian chuẩn bị cho việc xếp bàn ghế.
- Mất thời gian xếp lại bàn ghế cho tiết học sau.
Trong hai cách nêu trên theo tôi đối với các tiết thực hành ngay tại trên lớp
nên chọn cách 1, cách 2 dành cho những trường đã có phòng học bộ môn.
dây điện dùng cho các tiết thực hành phần điện như sau:
Khoảng 30m dây điện (dây đôi)lõi nhiều sợi, 6 ổ điện , một phích cắm điện.
Dây điện được chia thành 7 đoạn , đoạn dài nhất ( làm đường dây chính) khoảng
12 đến 15m; 6 đoạn ngắn mỗi đoạn 2,5m ( các đường dây nhánh), có thể mô tả
hệ thống dây trên bằng sơ đồ sau:
C
a
c
đ
ư
ờ
n
g
d
â
y
n
h
á
n
h
Đường dây chính
Trang 9
Với bộ dây này khi xếp bàn theo dãy bàn ngang hay dọc ta cũng có thể sử
dụng thuận tiện . Mỗi nhóm sẽ sử dụng nguồn điện từ một ổ điện tương ứng.
Trong quá trình thực hành giáo viên chú ý theo dõi HS làm việc nếu có sự cố
mất an toàn xảy ra GV chỉ cần rút phích cắm điện là được.
mất ít thời gian ( khoảng 20 – 30 phút/bài ) nhưng mang lại hiệu quả cao.
Định lượng thời gian cho các bài thực hành trong 1 tiết học được phân phối
như sau:
+ Đối với bài thực hành thực hiện trong 1 tiết học:
Tiến
trình
bài dạy
Ổn định
Giới
thiệu
mục tiêu
Giới
thiệu nội
dung TH
Hướng
dẫn ban
đầu
Học sinh
thực
hành
Giáo viên
nhận xét
sơ bộ KQ
TH
Thu dọn
và kiểm
tra dụng
cụ thực
hành
Dặn dò
Thu dọn
và kiểm
tra dụng
cụ thực
hành
Dặn dò
Thời
gian
1’ 1’ 8’ 20’ 15’ 0’ 0’ 0’
Tiết 2:
Tiến
trình
bài dạy
Ổn định
Giới
thiệu
mục tiêu
Giới
thiệu nội
dung TH
Hướng
dẫn ban
đầu
học sinh
thực
hành
Giáo viên
nhận xét
sơ bộ KQ
TH
+ Khối lớp 8: Tiết 21, tiết 26, tiết 29, tiết 34, tiết 35, tiết 42, tiết 43, tiết 48.
+ Khối lớp 9: Khi chưa học trái buổi hoặc không đổi tiết để ghép 2 tiết
thực hành liền nhau thì tất cả các bài thực hành học sinh đều không hoàn thành
ngay tại trên lớp.
* Năm học 2009- 2009 và cho đến nay:
+ Khối lớp 8 có 21 tiết thực hành tôi đều tổ chức được cho học sinh học ngay
tại trên lớp, đa số học sinh đều thực hiện được nội dung trong tiết học đưa ra .
+ Khối lớp 9 có 24 tiết thực hành (tổ chức học trái buổi cho tất cả các lớp) kết
quả đạt được rất cao: Có 80% học sinh đều đạt điểm khá, giỏi khi thực hành.
Kết quả khảo sát về kĩ năng thực hành ( không phải là điểm TB của môn học)
của học sinh qua các năm học như sau:
Năm
học
Khối
lớp
Số
lượng
học
sinh
Mức độ thực hành đạt được
Tốt Khá T. Bình Yếu Kém
SL % SL % SL % SL % SL %
Trang 12
2007-
2008
8 61 08 15 31 06 01
9 92 15 20 49 08 0
2008-
2009
8 93 17 30 42 04 0
trước.
- Đã tham mưu cùng chuyên môn nhà trường sắp bố trí học trái buổi
cho bộ môn Công nghệ lớp 9 hợp lí.
VII. Đề nghị.
- Môn Công nghệ là một môn học có phần khô cứng, tỷ lệ thực hành
khá cao, lại là môn mà đòi hỏi người dạy phải trang bị rất nhiều kỹ
năng khác nhau từ kỹ năng sử dụng khoan, kỹ năng sử dụng các loại
dụng cụ điện, đến kỹ năng sử dụng cưa, đục, bào; sự khéo léo trong
cắm hoa trang trí nhà ở, kĩ năng là đất, chăm sóc cây trồng, … Chính
vì vậy giáo viên trực tiếp giảng dạy nên phải là giáo viên được đào tạo
đúng chuyên ngành.
- Mặt khác đặc thù của bộ môn đòi hỏi khá nhiều về điều kiện cơ sở
vật chất như: trang bị các dụng cụ, trang thiết bị, nên nhà trường cần
có sự đầu tư thường xuyên bổ sung cho môn học.
- Các giáo viên trực tiếp giảng dạy môn học này để đạt được thành
công thì cần phải tuân thủ việc chuẩn bị thật kỹ trước khi lên lớp. Khi
đến bài thực hành có 2 tiết liên tục cần tham mưu với chuyên môn nhà
trường sắp xếp thời khoá biểu để thực hiện hết bài dạy trong 1 buổi
học.
Trang 14
- Đối với chuyên môn nhà trường:
+ Nên tiếp bố trí học trái buôỉ đối với môn Công nghệ lớp 9; Đối
với lớp 6 các bài thực hành 2 tiết liên tục nên tạo điều kiện đổi tiết
cho giáo viên để dạy hết bài trong 1 buổi học tránh sự gián đoạn bài
thực hành khi công việc đang làm dỡ.
+ Không nên bố trí nhiều giáo viên cùng dạy môn Công nghệ trong
1 khối mà chỉ nên bố trí 1 giáo viên dạy 1 khối ( chuẩn bị thiết bị 1 lần
nhưng lại dạy được cả 3 lớp) để đở mất thời gian chuẩn bị thiết bị thực
hành cho nhiều người.
+ Chuyên môn, tổ trưởng chuyên môn nên tăng cường dự giờ thăm
Một số vấn đề đổi mới
phương pháp dạy học môn
Công nghệ THCS
Nhà xuất bản
giáo dục
2
Phạm Tất Dong, Hà
Để, Phạm Thị
Thanh, Trần Mai
Thu.
2005 Giáo dục hướng nghiệp 9
Nhà xuất bản
giáo dục
Trang 16
3
Nguyễn Thị Thu
Hà, Nguyễn Văn
Khôi, Nguyễn Thị
Hạnh, Trần Quý
Hiển.
2005
Tài liệu bồi dưỡng thường
xuyên cho giáo viên THCS
chu kì III – Môn Công nghệ
quyển 1
Nhà xuất bản
giáo dục
4
Đổ Ngọc Hoàn,
Nguyễn Thị Hạnh,
Thu
2004
Sách giáo khoa, sách giáo
viên công nghệ 8
Nhà xuất bản
giáo dục
8
Nguyễn Minh
Đường, Trần Mai
Thu
2005
Sách giáo khoa, sách giáo
viên công nghệ 9
Nhà xuất bản
giáo dục
9 Trần Kiều 2004
Bước đầu đổi mới kiểm tra
đánh giá kết quả học tập các
môn học học sinh lớp 8
Nhà xuất bản
giáo dục
10 Lê Quán Tần 2007
Tài liệu phân phối chương
trình THCS – Môn Công
nghệ
Nhà xuất bản
giáo dục
Trang 17
IX. Mục lục.
Trang