Cơ sở lý luận của hoạt động xuất khẩu và tổng quan về hoạt động xuất khẩu của Việt Nam từ khi mở cửa thị trường cho đến nay - Pdf 16

- 1- Nhóm 2- kinh tế quốc tế
Bài tập nhóm
Cơ sở lý luận của hoạt động xuất khẩu
và tổng quan về hoạt động xuất khẩu
của Việt Nam từ khi mở cửa
thị trường cho đến nay
- 2- Nhóm 2- kinh tế quốc tế
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU VÀ
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM TỪ KHI
MỞ CỬA THỊ TRƯỜNG CHO ĐẾN NAY.
I.Cơ sở lý luận của hoạt động xuất khẩu:
1. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động xuất khẩu:
a. Khái niệm
Hoạt động xuất khẩu là sự
trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa
các nước thông qua hành vi
mua bán.Sự trao đổi đó là một
hình thức của mối quan hệ xã
hội và phản ánh sự phụ thuộc
- 3- Nhóm 2- kinh tế quốc tế
lẫn nhau về nền kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá riêng biệt của các
quốc gia khác nhau trên thế giới.
Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu có một vị trí và vai trò vô cùng to lớn
trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi một quốc gia nói chung và công nghiệp
nói riêng. Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận lớn và là phương
tiện thúc đẩy phát triển nền kinh tế.Nhà nước ta luôn coi trọng và thúc đẩy các
ngành kinh tế hướng theo xuất khẩu.
b. Đặc điểm
- Xuất khẩu hàng hoá thể hiện sự kết hợp chặt chẽ và tối ưu các khoa học
quản lý kinh tế với các nghệ thuật kinh doanh, giữa nghệ thuật kinh doanh với các
yếu tố khác của từng quốc gia như yếu tố luật pháp, kinh tế văn hoá. Hơn nữa,

hoá.
Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, trong mục tiêu kế hoạch 5 năm 2001-
2005 có nói: “tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Chuyển dịch nhanh cơ cấu
kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ”.Như vậy, để
làm được điều đó tât yếu phải cần một lượng vốn lớn để thực hiện. Cho nên vốn là
một nhân tố không thể thiếu được, là vấn đề sống còn với tiến trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.Bởi vì khi có một lượng vốn lớn chúng ta có thể xây
dựng cơ sở hạ tầng, nhập khẩu máy móc thiết bị, kỹ thuật công nghệ sản xuất hiện
đại phục vụ cho phát triển kinh tế.
Để có được một lượng
vốn cho nhập khẩu có thể
được hình thành từ nhiều
nguồn như: liên doanh đầu
tư nước ngoài với nước ta;
vay nợ, viện trợ, tài trợ;
- 5- Nhóm 2- kinh tế quốc tế
hoạt động du lịch, dịch vụ; xuất khẩu hàng hoá,lao động Nhưng vẫn quan trọng
hơn cả là xuất khẩu hàng hoá.Bởi vì các nguồn vốn đầu tư nước ngoài, vay nợ,
viện trợ tuy quan trọng nhưng rồi cũng phải trả bằng cách này hoặc cách khác.
Ngoại tệ thu được qua các hoạt động du lịch, dịch vụ hiện nay chỉ là rất nhỏ so với
nhu cầu về vốn của tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Xuất khẩu
lao động không ổn định đang có xu hướng giảm dần.Do vậy, nguồn ngoại tệ quan
trọng nhất chi dùng cho nhập khẩu chính là từ xuất khẩu.
- Đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển:
Việc coi thị trường và đặc biệt là thị trường quốc tế là hướng quan trọng để tổ
chức sản xuất chính là xuất phát từ nhu cầu của thị trường thế giới để tổ chức sản
xuất.Điều này tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất
phát triển.Sự tác động đến sản xuất thể hiện ở chỗ:
+ Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển thuận lợi. Chẳng hạn,
khi phát triển ngành dệt xuất khẩu sẽ tạo cơ hội đầy đủ cho việc phát triển ngành

này làm cho hoạt động xuất khẩu cùng với các mối quan hệ kinh tế quốc tế khác
làm cho nền kinh tế nước ta gắn chặt với nền kinh tế thế giới và tham gia vào phân
công lao động quốc tế. Chính nhờ thông qua xuất khẩu và các quan hệ đối ngoại
khác nhau mà hiện nay nước ta đã thiết lập mối quan hệ thương mại với hơn 140
nước trên thế giới, ký các hiệp định thương mại với hơn 70 nước là thành viên của
tổ chức kinh tế của thế giới và khu vực.
- 7- Nhóm 2- kinh tế quốc tế
II.Tổng quan về hoạt động xuất khẩu của Việt Nam từ khi mở cửa thị trường
cho đến nay:
Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của
nước ta đã gia tăng nhanh chóng trong
những năm qua.
Từ năm 1995, sau khi Mỹ bỏ cấm vận, giữa
Việt Nam và Mỹ thiết lập quan hệ bình
thường,Việt Nam gia nhập Hiệp hội Các
nước Đông Nam Á, số nước và vùng lãnh thổ nhập khẩu hàng hoá từ Việt Nam đã
tăng nhanh.
Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá đã tăng từ 2,4 tỷ USD trong năm 1990 lên
trên 5,4 tỷ USD năm 1995, lên gần 14,5 tỷ USD năm 2000, lên gần 32,5 tỷ USD
năm 2005, lên trên 39,8 tỷ USD trong năm 2006 và có khả năng đạt 47,5 tỷ USD
trong năm 2007.
Tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu so với GDP cũng tăng nhanh từ 30,8% năm 1990
lên 46,5% năm 2000, lên 61,3% năm 2005, lên 65% năm 2006 và 67% năm 2007 -
thuộc loại cao so với các nước (đứng thứ 4 trong khu vực ASEAN, đứng thứ 5 ở
châu á và thứ 8 trên thế giới).
Kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người cũng tăng từ 36,4 USD năm 1990,
lên 75 USD năm
1995, lên 186,8 USD
năm 2000, lên 391
USD năm 2005, lên

Như vậy, bên cạnh việc mở rộng thị trường, theo phương châm đa dạng hoá,
đa phương hoá, việc xác định các thị trường trọng điểm là hết sức cần thiết để
giảm chi phí vận chuyển, tiếp thị quảng cáo
Tuy nhiên, việc "bỏ trứng vào một giỏ"cũng là điều nên tránh và việc mở
rộng thị trường để tăng lượng tiêu thụ, phòng tránh những rủi ro khi xảy ra ở một
thị trường nào đó (chẳng hạn như việc kiện bán phá giá).
Thứ ba, trong các thị trường trên có một số thị trường truyền thống, thị
trường tiềm năng, thị trường mới, thì kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam còn thấp,
như Indonesia, Mông Cổ, các nước Trung Nam Á, (kể cả Ấn Độ), các nước xã hội
chủ nghĩa cũ, các nước Mỹ La tinh, các nước châu Phi, các nước Châu Đại Dương
(trừ Australia là thị trường lớn).
Thứ tư,trong hơn 200 nước và vùng lãnh thổ có quan hệ buôn bán với Việt
Nam, thì: Việt Nam đã có vị thế xuất siêu đối với 159 nước và vùng lãnh thổ,
trong đó xuất siêu lớn là Mỹ, Australia, Anh, Philippines, Đức, Bỉ,
Việt Nam còn ở vị thế nhập siêu đối với 47 nước và vùng lãnh thổ, trong đó
nhiều nhất là Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, Thái Lan, Hồng
Kông, Thụy Sĩ, Ấn Độ,
Kuwait,
Theo đó, thì nhập siêu của
Việt Nam chủ yếu là ở các thị
trường gần, chưa phải là nơi
có công nghệ nguồn; còn xuất
siêu của Việt Nam lại chủ yếu
là ở các thị trường xa, thị
trường có công nghệ nguồn.
- 10- Nhóm 2- kinh tế quốc tế
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG, CƠ HỘI, THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGÀNH
XUẤT KHẨU DỆT MAY VIỆT NAM. MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY
XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM.
I: Thực trạng ngành xuất khẩu dệt may Việt Nam:

nhà xưởng, đất đai do đó hiệu quả của dệt may Việt Nam cần được đánh giá
khách quan và chính xác.
Mặc dù hiện nay Việt Nam đang được xếp hạng ở mức 16/153 nước xuất khẩu
dệt may của thế giới; Kim ngạch xuất khẩu được đánh giá là lớn, nhưng lợi nhuận
ròng đem lại là rất thấp.Thực tế cho thấy Việt Nam chưa chú trọng đầu tư vùng
nguyên liệu cho công nghiệp dệt, mặc dù Việt Nam có điều kiện để phát triển
bông xơ, dâu tằm, đay gai Mặt khác, Việt Nam cũng chưa đầu tư phát triển
ngành cơ khí với mục tiêu nội địa hóa những thiết bị cho công nghiệp dệt may;
màu nhuộm và hóa chất khác dệt may phải sử dụng thường xuyên với khối
lượng lớn, nhưng chưa được đầu tư đúng mức để nghiên cứu sản xuất. Do đó
nguyên liệu, phụ kiện, hóa chất và hầu hết máy thiết bị cho dệt may của Việt
Nam đều gần như phải trông chờ vào nguồn nhập ngoại. Một vài số liệu cụ thể cho
thấy: bông xơ sản xuất trong nước mới đảm bảo 5% nhu cầu, sơ sợi tổng hợp -
30%; vải cho công nghiệp may phải nhập 52%, nguyên phụ liệu nhập 34% hơn
thế nữa ngay cả nhiều mẫu mã thiết kế cũng phải nhập ngoại! Vì vậy mà Việt Nam
đang trở thành một thị trường hấp dẫn đối với các nước cung cấp nguyên liệu, thiết
bị và dịch vụ dệt may trong khu vực và thế giới. Đồng thời, các doanh nghiệp dệt
may Việt Nam đang là những đơn vị gia công lớn cho các công ty nước ngoài.
Một thực tế hiện nay, phần lớn các
sản phẩm dệt may xuất khẩu làm theo
đơn đặt hàng, hoặc mua lại mẫu mã
thiết kế của nước ngoài, gia công cho
các đối tác. Chưa chủ động trong
nghiên cứu thị trường và thiết kế các
mẫu mã thời trang theo thị hiếu của
người tiêu dùng, hàng bán nội địa phần
lớn vẫn sản xuất theo mẫu “truyền
thống”. Do đó, hàng dệt may Việt Nam
không những không hướng dẫn được
tiêu dùng, mà thị phần nội địa bị co hẹp

nghiệp dệt may và các tổ chức sản xuất - kinh doanh liên quan đến dệt may, như
sản xuất nguyên liệu, chế tạo, sản xuất phụ kiện đều phụ thuộc và bị chi phối bởi
Tập đoàn Dệt may về sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu và cơ chế chính sách
tài chính.
Tuy nhiên, kể từ khi
Quyết định được ban hành
đến nay, Tập đoàn Dệt may
Việt Nam và rộng hơn là
Ngành dệt may Việt Nam
chuyển động quá chậm, độ
liên kết trong ngành và đặc
biệt giữa các đơn vị trong
Tập đoàn còn thiếu chặt chẽ.
Chỉ còn 3 năm nữa (đến
- 13- Nhóm 2- kinh tế quốc tế
2010) Ngành Dệt may phải thực hiện xong 8 chương trình trọng điểm quốc gia,
trong đó có chương trình sản xuất nguyên liệu bông xơ. Nhưng cho đến nay dự án
chưa triển khai được bao nhiêu và nhập khẩu nguyên liệu vẫn tiếp tục gia tăng.
Đặc biệt trong Tập đoàn Dệt may gồm tuyệt đại bộ phận là các công ty dệt và may,
hầu như không có đơn vị sản xuất nguyên liệu. Hơn nữa các loại may và phụ kiện
cho dệt may cũng không có chương trình phát triển cụ thể. Nếu hai chương trình
này (chương trình sản xuất nguyên liệu và chương trình sản xuất máy và phụ kiện)
và những chương trình khác mà chính phủ đã duyệt, không được đầu tư, phát triển
và thực hiện hiệu quả thì Tập đoàn Dệt may Việt Nam trong tương lai gần chỉ là
đơn vị “thu mua tổng hợp” các sản phẩm dệt may được gia công bởi các doanh
nghiệp trong ngành để xuất khẩu.
Mục tiêu hướng tới
Mục tiêu đặt ra của ngành dệt may Việt Nam đến 2010 doanh thu đạt từ 13 -
15 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt từ 10 - 12 tỷ USD. Để đạt được kế hoạch này,
Ngành dệt may dự kiến sẽ phá thế gia công hiện nay, thực hiện một chu trình khép

Thứ năm, tạo nguồn tài chính đủ lớn, ổn định vững chắc đầu tư có hiệu quả để
phát triển Ngành Dệt may Việt Nam. Nếu không có vốn đầu tư, thì các dự án cũng
chỉ dừng ở kế hoạch triển vọng. Do đó tài chính là mấu chốt quyết định tính khả
thi của những kế hoạch đã được vạch ra. Từ nay đến năm 2010 và những năm tiếp
theo,nhu cầu vốn đầu tư cho dệt may Việt Nam là rất lớn.Nguồn vốn này được huy
động từ đâu?
Một là, nếu các doanh nghiệp thuộc Vinatex đã hoàn thành cổ phần hoá, thì có
thể phát hành cổ phiếu để huy động vốn qua thị trường chứng khoán Việt Nam,
hoặc một số thị trường chứng khoán quốc tế.
Hai là, xin phép Chính phủ phát hành trái phiếu ngắn hạn và trung hạn với lãi
suất cao hơn lãi suất tiết kiệm của Ngân hàng thương mại Nhà nước, kèm theo một
số ưu đãi khuyến khích của Virlatex.
Ba là, lập một số dự án liên doanh, liên kết với nước ngoài về các lĩnh vực đòi
hỏi vốn lớn hoặc công nghệ hiện đại, như: sản xuất máy nguyên liệu, phụ kiện ,
cho dệt may.
Bốn là, lập đề án trình Chính phủ để liên kết với các Ngân hàng thương mại
lớn, thành lập Tập đoàn Tài chính - Dệt may Việt Nam, để giải quyết nhu cầu vốn
cho tương lai phát triển lâu dài của dệt may Việt Nam. Với phương châm đa dạng
hoá nguồn vốn và với cơ chế tài chính phù hợp, chắc chắn Ngành dệt may Việt
Nam sẽ có đủ vốn để hoàn thành các mục tiêu nêu trên.
II: Cơ hội đối với ngành xuất khẩu dệt may Việt Nam:
Là mặt hàng xuất khẩu dẫn đầu, hàng dệt may của nước ta đang dần chiếm
lĩnh các thị trường quốc tế. Sau mức suy giảm nhẹ (0,6% so với năm trước) của
năm 2009, xuất khẩu nhóm hàng dệt may đang bứt phá, hứa hẹn một năm tăng
trưởng tốt với trị giá đạt 3,86 tỷ USD trong 5 tháng đầu năm 2010, tăng 18,6% so
với cùng kỳ năm 2009, chiếm gần 15% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước và
cao hơn so với nhóm hàng xuất khẩu có
kim ngạch lớn thứ 2 (là dầu thô) tới gần
1,7 tỷ USD.
- 15- Nhóm 2- kinh tế quốc tế

Nam vào thị trường này cũng chỉ chiếm 5,8% trị giá nhập khẩu hàng dệt may của
Hoa Kỳ.
Số liệu thống kê trên đây cho thấy thị trường dệt may thế giới là rất lớn và cơ
hội cho hàng dệt may Việt Nam vẫn còn nhiều tiềm năng để phát triển. Tuy nhiên,
sự phát triển ngành dệt may của nước ta bên
cạ
nh những thuận lợi thì cũng gặp phải nhiều khó khăn khi nguồn nguyên phụ liệu
phục vụ ngành dệt may, da, giày phần lớn là phải nhập khẩu.
Số liệu thống kê hải quan mới nhất cho thấy, trong 5 tháng đầu năm 2010 tổng
trị giá nhập khẩu nhóm hàng nguyên liệu, phụ liệu ngành dệt may, da, giày là 3,7
tỷ USD, tăng 33,5% so với cùng kỳ năm 2009, trong đó, riêng vải các loại nhập
khẩu đã là 2 tỷ USD, tăng 23,5%. Thời gian gần đây nhiều doanh nghiệp dệt may
than phiền là càng xuất nhiều thì nguy cơ thua lỗ càng lớn cũng là ở nguyên nhân
thiếu sự chủ động với nguyên liệu đầu vào. Phần lớn các phụ kiện của công nghiệp
dệt may sản xuất trong nước chưa đáp ứng được đòi hỏi về mẫu mã, chất lượng
cần thiết của sản phẩm xuất khẩu. Giá trị gia tăng trên mỗi sản phẩm xuất khẩu dệt
may của Việt Nam còn rất thấp.Việt Nam trong thời gian vừa qua đã phải đối mặt
với tình trạng rất vất vả để đàm phán mở rộng thị trường nhưng trong khi đó phải
nhập khẩu nguyên liệu từ nước thứ ba để sản xuất. Công nghiệp thiết kế mẫu mã
vẫn còn lạc hậu, chủ yếu là gia công và làm thuê theo đơn đặt hàng của nước
ngoài. Vì vậy, để ngành dệt may Việt Nam phát triển bền vững, việc phát triển
công nghiệp phụ trợ với hàng dệt may là vấn đề cấp bách nhất vì trong tương lai,
kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam với các thị trường chính đã đạt tới ngưỡng có
thể bị xem xét trong các vụ kiện trợ cấp, bán phá giá…Sự phát triển dựa trên giá
trị gia tăng trên mỗi sản phẩm thay vì chỉ chú trọng chạy theo phát triển kim ngạch
- 17- Nhóm 2- kinh tế quốc tế
như trong thời gian vừa qua sẽ biến dệt may thành mặt hàng có sức cạnh tranh cao
trong cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam, đem lại nguồn ngoại tệ quý giá cho đất
nước.


yêu cầu xuất khẩu ngày càng cao. Xuất khẩu hàng dệt may tuy đạt kim ngạch cao,
nhưng chủ yếu làm gia công, ngành dệt vẫn nhập khẩu nhiều và nguyên liệu cho
sản xuất của ngành dệt hầu như hoàn toàn nhập khẩu từ nước ngoài
Ngành dệt may Việt Nam tuy đã có nhiều yếu tố thuận lợi để tạo đà có tiến
trình hội nhập sắp tới như Quota thị trường Eu được tăng 30%, bước đầu mở được
- 18- Nhóm 2- kinh tế quốc tế
thị trường Mỹ và thị trường vùng Trung Cận Đông, châu Phi; kinh tế Nhật Bản
đang hồi phục khiến cho thị trường này tiêu thụ hàng dệt may Việt Nam tăng hơn
trước. Nhưng xuất khẩu hàng dệt may cũng gặp không ít khó khăn do giá sản
phẩm giảm liên tục. Bên cạnh đó, giá nguyên liệu lại tăng; đặc biệt thị trường phi
quota, trong đó thị trường Đông Âu giảm mạnh từ giữa năm
Trong các mặt hàng may mặc xuất khẩu vào Eu, mới chỉ tập trung vào các
mặt hàng dễ làm như áo jacket,sơ mi còn các mặt hàng có giá trị, đòi hỏi kỹ thuật
cao hơn như bộ complet hay các loại áo sơ mi cao cấp thì ít doanh nghiệp có thể
sản xuất được. Do đó, trên thực tế, nhiều mặt hàng có hạn ngạch nhưng lại chưa có
doanh nghiệp xuất khẩu.
Vấn đề bức xúc hiện nay là hàng vải sợi,may mặc từ nước ngoài tràn vào từ
nhiều nguồn (hàng trốn lậu thuế, hàng cũ) giá rất rẻ đã làm cho sản xuất trong
nước bị ảnh hưởng. Mặt khác, hệ thống bán buôn, bán lẻ hàng vải sợi may mặc
trong nước chưa có tổ chức, để thả nổi cho một số tư thương làm giả nhãn mác
một số công ty có uy tín. Bản thân các doanh nghiệp dệt may Việt Nam lại chưa
tạo được các kênh tiêu thụ ngay ở thị trường trong nước. Do vậy, để các nhà sản
xuất hàng dệt may Việt Nam làm chủ được thị trường nội địa không có biện pháp
nào khác ngoài việc phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa sản xuất và lưu thông,
bán buôn và bán lẻ.
Trong khi chờ
Chính phủ phê duyệt
Chiến lược tăng tốc
phát triển đến năm
2010, ngành Dệt May

không ít khó khăn.
Tại hội thảo
“Phát triển ngành
dệt may Việt Nam
sau 2 năm gia
nhập WTO và
những giải pháp
để tăng tốc”, ông
Lê Quốc Ân, chủ
tịch hiệp hội dệt
may Việt Nam cho
biết: “Do phải
cạnh tranh với
hàng ngoại và
mức thuế nhập
khẩu dệt may đã giảm 2/3 xuống còn 5 - 20%, trong khi chúng ta chưa nhận thức
hết được những thách thức, áp lực cạnh tranh khi hội nhập, dẫn đến việc thiếu
chuẩn bị, thiếu phương án khi sản xuất kinh doanh khó khăn. Đặc biệt từ
1/1/2009, khi Việt Nam phải mở cửa thị trường bán lẻ cho các DN nước ngoài thì
sức ép cạnh tranh sẽ ngày càng lớn.”
Đầu tư nước ngoài tăng nhanh tại TPHCM và các khu công nghiệp dẫn đến
việc thiếu hụt nguồn lao động, nhất là lao động có kỹ năng tay nghề cao. Tình
trạng chảy máu chất xám, “săn đầu người” diễn ra khá phổ biến và các DN đang
rất lúng túng trong việc duy trì đội ngũ các quản lý, kỹ thuật giỏi của mình.
Các cuộc đình công trong ngành dệt may đặc biệt là tại các khu công nghiệp
tập trung và các thành phố lớn liên tục xảy ra, gây đảo lộn kế hoạch sản xuất giao
hàng của nhiều DN, tạo ra hình ảnh xuất đối với các nhà đầu tư kinh doanh thế
giới.
“Tình hình này nếu không được cải thiện thì dệt may khó có thể giữ được mức
tăng trưởng về sản xuất và xuất khẩu trong những năm tới. Đây là nguy cơ lớn

Theo các nhà nhập khẩu, để cản trở thương mại, có 3 giải pháp áp dụng: Chế
độ tự vệ, chế độ quota và chế độ chống bán phá giá. Mà chế độ sau cùng này là tệ
hại nhất, vì trong lịch sử, khi Mỹ thực hiện chế độ chống bán phá giá với mặt hàng
nào, lập tức mặt hàng đó mất tính cạnh tranh, không thể vào thị trường Mỹ được
(như thép của Nhật, Hàn Quốc ); thậm chí giết chết cả một ngành sản xuất chỉ
trong một thời gian ngắn (như mặt hàng áo len của Đài Loan ).
Nếu Mỹ áp dụng biện pháp này với hàng dệt may Việt Nam,kim ngạch xuất
khẩu hàng dệt may Việt Nam sẽ giảm hẳn một nửa, vì các thị trường khác chưa thể
bù vào ngay được.Trong điều kiện đối xử bình thường, ngành dệt may sẽ có 3 cái
lợi:
Thứ nhất,xuất khẩu không bị khống chế quota.
Thứ hai,một số thị trường đang đối xử phân biệt về thuế, sẽ đưa thuế nhập
khẩu từ Việt Nam xuống bình thường.
Thứ ba,được hưởng những lợi ích từ môi trường đầu tư được cải thiện.
Nhưng cũng có 3 thách thức:
- 21- Nhóm 2- kinh tế quốc tế
Thứ nhất, hàng rào bảo vệ thị trường nội địa bằng thuế nhập khẩu sẽ giảm
xuống tới mức tối đa (thuế nhập khẩu hiện hành 40% với vải và 50% với hàng
may mặc.Hàng rào này sẽ được giảm còn bình quân khoảng 15%).
Thứ hai, thách thức về lao động.
Thứ ba, các rào cản của nước ngoài sẽ được dựng lên, như các vấn đề về môi
trường, chống bán phá giá Đương nhiên, ta có lợi thế là một thành viên của WTO
để chống lại những áp đặt này, nhưng cũng khó chống lại luật chơi của kẻ mạnh.

Bộ Tài chính nâng
thuế suất thuế nhập
khẩu Polyester từ 0%
lên 5% Điều này đã góp
phần làm tăng chi phí
giá thành, giảm tính

Để chống lại cơ chế giám sát nhập khẩu và chống bán phá giá của Mỹ, theo
Chủ tịch hiệp hội dệt may, cần có sự hợp tác chặt chẽ với các cơ quan nhà nước,
các DN cũng như hiệp hội các nhà nhập khẩu, bán lẻ, các đối tác từ phía Mỹ.
Xem ra, áp lực cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập sẽ buộc các doanh
nghiệp Việt Nam phải tự cứu lấy mình, khẳng định vị trí và trưởng thành
hơn, trong đó có lĩnh vực dệt may.
IV: MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY
VIỆT NAM.
Hàng dệt may Việt Nam hiện đang phải đối đầu với những nước có khả
năng cạnh tranh cao, có nhiều thuận lợi và kinh nghiệm hoạt động trong cơ chế thị
trường về các mặt như: vật tư, thiết bị, quản lý, tài chính, tiếp thị, nghiên cứu và
phát triển.
Sản phẩm của các nước rất đa
dạng, có thể thỏa mãn các nhu cầu từ cấp
thấp đến cấp cao của người tiêu dùng.Vì
vậy, để ngành dệt may đạt được mục tiêu
xuất khẩu năm 2010 là 10 tỷ USD các
chuyên gia cho rằng ngành dệt may cần
đẩy mạnh thực hiện các giải pháp đồng
bộ mang tính chiến lược sau đây:
1. Tiếp tục đẩy mạnh đầu tư hoàn chỉnh
vào các cụm Công nghiệp Dệt may theo
hướng tập trung vào lĩnh vực dệt -
nhuộm, đầu tư hoàn tất khâu vải và phụ
liệu để đảm bảo cung cấp nguyên liệu
cho may xuất khẩu nhằm tiến tới tăng tỷ
lệ nội địa hóa trong sản phẩm may mặc
xuất khẩu từ 30% lên 60%, giảm dần tỷ
lệ hàng gia công; Bên cạnh đó, đầu tư mở rộng sản xuất tại các địa phương có tiềm
năng, có nguồn nhân lực dồi dào; phối hợp liên doanh - liên kết và giúp đỡ các địa

5. Tổ chức tốt các hoạt động thông tin về thị trường, về đầu tư, về sản xuất, về
nhập khẩu của ngành dệt may trên các trang website và các bản tin hàng tháng.
Thành lập các trung tâm giao dịch tư vấn hỗ trợ dịch vụ, trung tâm giao dịch
nguyên phụ liệu, trung tâm thương mại, nhằm giới thiệu sản phẩm, trực tiếp với
người tiêu dùng và qua đó tìm các biện pháp để thâm nhập thị trường.
6. Thành lập Trung tâm đào tạo chuyên ngành dệt may nhằm đào tạo các chuyên
viên cao cấp về: Thiết kế thời trang, cán bộ mặt hàng, tiếp thị hàng hóa, tổ trưởng
- chuyền trưởng, quản lý chất lượng, quản lý kho hàng, quản lý xuất nhập khẩu.
7. Tiếp tục phát triển mạng lưới tiêu thụ để chiếm lĩnh thị trường nội địa, Tổng
công ty dệt may (VINATEX) có thể là đầu mối tập hợp các doanh nghiệp dệt may
trong cả nước để hình thành hệ thống cửa hàng - siêu thị kinh doanh hàng thời
trang dệt may, trước hết mở tại các thành phố lớn để trong một vài năm tới hệ
thống cửa hàng siêu thị này sẽ có mặt hầu hết tại các tỉnh thành, thành phố lớn
trong cả nước.
- 24- Nhóm 2- kinh tế quốc tế
8. Nâng cao vai trò và tăng cường hơn nữa chức năng hoạt động của Hiệp hội dệt
may Việt Nam (VITAS) trong việc tổ chức thông tin kịp thời tình hình thị trường
cho doanh nghiệp, tổ chức các hoạt động xây dựng hình ảnh tốt đẹp về ngành dệt
may Việt Nam tại các thị trường xuất khẩu trọng điểm, xúc tiến xây dựng một số
thương hiệu nổi tiếng mang tính quốc gia tại các thị trường xuất khẩu, tổ chức các
hoạt động xâm nhập mạng lưới bán lẻ tại thị trường nước ngoài, đề xuất các chế
độ, cơ chế, chính sách tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp
trong ngành.
Thủ tướng Nguyễn Tấn
Dũng vừa ký Quyết định phê duyệt
chiến lược phát triển ngành công
nghiệp dệt may Việt Nam đến năm
2015 và định hướng đến năm 2020
theo hướng chuyên môn hóa, hiện
đại hóa, nhằm tạo ra bước nhảy vọt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status