Báo cáo "Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa Việt nam vào thị trường Nhật Bản" - Pdf 16

Đề án môn học NguyễnMinh Hải
(KDQT42)
Báo cáo "Giải pháp thúc đẩy
xuất khẩu hàng hóa Việt nam
vào thị trường Nhật Bản"

1
Đề án môn học NguyễnMinh Hải
(KDQT42)
MỤC LỤC
Lời nói đầu ………………………………………………………………… 1
Chương I: Công ty cổ phần SXKD&XNK Bình Thạnh xâm nhập thị trường
Nhật Bản ……… 3
Chương II: Phân tích môi trường kinh tế Nhật Bản tác động đến quyết định
. .thâm nhập thị trường Nhật Bản của GILIMEX ………
… 9
2.1. Môi trường kinh tế Nhật Bản và những điểm cơ bản tác động đến quá
trình xâm nhập của GILIMEX ……………………………… …9
2.2. Thực trạng chung về xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của của Công
ty GILIMEX sang thị trường Nhật Bản …………………….…15
2.2.1 Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở nước ta ……15
2.2.2 Tình hình hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Công ty sang
thị trường Nhật bản ……………………………… 16
2.2.2.1 Những chuyển biến tích cực từ phía môi trường kinh tế Nhật Bản
……………… … ………………….…… …17
2.2.2.2 Tác động tiêu cực từ môi trường kinh tế Nhật Bản…19
Chương III: Bài học kinh nghiệm và gợi ý đối với GILIMEX khi thâm nhập
. .vào thị trường Nhật Bản ……………………….…21
3.1 Bài học kinh nghiệm …………………………………………….…21
3.1.1 Cần phải đáp ứng được những đòi hỏi của thị trường … …
21

tiêu dùng cũng vì thế mà có được nhiều sự lựa chọn hơn. Song song với nó là sự
đòi hỏi ngày một khắt khe của khách hàng đối với các sản phẩm hàng hóa tiêu
dùng quốc tế.
Mặt hàng thủ công mỹ nghệ của nước ta vốn có lịch sử phát triển rất lâu
đời. Bằng khối óc thông minh và bàn tay khéo léo của mình, từ ngàn xưa ông
cha ta đã tạo ra biết bao nhiêu sản phẩm thủ công mỹ nghệ độc đáo mang đậm
bản sắc văn hoá dân tộc. Trải qua bao thăng trầm của kinh tế xã hội, hàng thủ
công mỹ nghệ vẫn giữ được vị trí của nó vẫn duy trì và phát triển cho đến ngày
nay. Không phải ngẫu nhiên mà mặt hàng này được nằm trong mười mặt hàng
xuất khẩu chủ lực của quốc gia. Ngoài ý nghĩa kinh tế, đó là xuất khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ thu được nguồn ngoại tệ không nhỏ, góp phần cải thiện cán cân
thanh toán, nó còn mang ý nghĩa xã hội rất lớn là góp phần tạo ra công ăn việc
làm cho người lao động, nâng cao đời sống của người dân. Thông qua hoạt
động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ với các sản phẩm tinh xảo, độc đáo,
chúng ta đã giới thiệu được với bạn bè thế giới về đời sống văn hoá của con
nguời Việt Nam, giúp cho họ hiểu rõ hơn về chúng ta để chúng ta tôn trọng, giữ
gìn và phát huy nguồn tài sản quý giá mà ông cha ta để lại.
Không như những thị trường ở EU và Bắc Mỹ, Nhật Bản hiện đang là thị
trường xuất khẩu lớn nhất đối với Việt nam, với những nét đặc thù về kinh tế,
4
Đề án môn học NguyễnMinh Hải
(KDQT42)
con người và môi trường kinh doanh của Nhật Bản đã và đang đặt ra nhiều
những thách thức cũng như cơ hội đối với hàng hóa của Việt nam nói chung và
hàng thủ công mỹ nghệ của GILIMEX nói riêng khi quyết định xâm nhập vào thị
trường Nhật Bản. Do đó tôi chọn công ty GILIMEX làm đề tài đề án môn học,
bài viết này sẽ làm cho chúng ta hiểu rõ hơn về môi trường kinh tế Nhật Bản và
đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình xuất khẩu hàng hóa Việt nam
vào thị trường Nhật Bản. Trong quá trình hoàn thành Đề án này chắc chắn
không tránh khỏi thiếu sót do trình độ hạn chế, tôi mong có được sự góp ý nhiệt

là một trong số ít những công ty của Việt nam có tham vọng tham nhập thị
trường nước ngoài và đặc biệt hơn nữa là GILIMEX đã dám mạnh dạn đưa mặt
hàng thủ công mỹ nghệ của Việt nam ra thị trường nước ngoài, điều mà không
phải doanh nghiệp Việt nam nào cũng đủ can đảm hay nói đúng hơn là sự tự tin
với sản phẩm thủ công mỹ nghệ của mình có thể chiếm lĩnh được thị trường
nước ngoài. Với GILIMEX có những lý do riêng biệt khi theo duổi tham vọng
đưa sản phẩm thủ công mỹ nghệ thâm nhập thị trường Nhật Bản.
6
Đề án môn học NguyễnMinh Hải
(KDQT42)
Kể từ sau khi Việt nam và Nhật Bản thiết lập quan hệ ngoại giao tháng 7
năm 1976, quan hệ Nhật – Việt chỉ thực sự phát triển vững chắc từ sau Hội nghị
hòa bình về Campuchia vào năm 1991, bắt đầu bằng việc thảo luận mở lại Viện
trợ Phát triển chính thức (ODA) cho Việt nam. Đây thực sự là một điểm mốc
quan trọng cho quan hệ kinh tế ngày một sâu sắc giữa hai nước, việc nối lại hoạt
động tàI trợ cho Phát triển chính thức của Nhật Bản thực sự mang lại cơ hội phát
triển cho Việt nam cũng như là cơ hội cho các doanh nghiệp Việt nam đẩy mạnh
giao lưu hợp tác buôn bán, xuất khẩu hàng hóa của mình sang thị trường Nhật
Bản.
Với bản thân GILIMEX khi quyết định thâm nhập thị trường Nhật Bản họ
có những lý do riêng của mình:
Môi trường kinh tế Nhật Bản thực sự hứa hẹn những cơ hội làm ăn lớn
đối với công ty GILIMEX, Nhật Bản là thị trường có khả năng chi trả cao, thu
nhập bình quân tính theo đầu người thuộc dạng cao trên thế giới lúc bấy giờ, đạt
khoảng 15.250 USD. Không dừng lại ở con số GDP, Nhật Bản còn thể hiện sức
hấp dẫn của mình qua mức chi cho tiêu dùng luôn chiếm tỷ lệ cao thường là 60 –
70% GDP, GILIMEX nhận thấy rõ đặc điểm tiêu dùng sản phẩm của người
Nhật Bản, họ thường mua những hàng hóa hay đồ dùng mà đồng nghiệp của
mình có hay đã mua…đây thực sự là cơ hội tốt cho GILIMEX phát triển sản
phẩm, tăng thị phần cũng như doanh số bán

đã và đang nỗ lực không ngừng thổi được cái hồn Việt nam trong các sản
phẩm thủ công mỹ nghệ, sản phẩm thủ công mỹ nghệ còn mang nặng trong
nó tài hoa, sức sáng tạo của người thợ làm ra nó thực sự là một cách giới
thiệu với bạn bè Nhật Bản về một loại sản phẩm truyền thống mang đậm
bản sắc của Việt nam
Công ty xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ sang thị trường Nhật
Bản chủ yếu bằng cả phương thức xuất khẩu trực tiếp là 70% và gián tiếp
là 30%, với hệ thống bán lẻ tương đối rộng kết hợp với việc ủy thác xuất
khẩu cho các đối tác Nhật Bản chủ yếu qua ba loại kênh phân phối chính:
8
Đề án môn học NguyễnMinh Hải
(KDQT42)
Nhà sản xuất – Nhà đại lý – Nhà Nhập khẩu, Nhà sản xuất – Người bán sỉ
trong khu vực tiêu dùng – Người bán lẻ, cửa hàng bách hóa tổng hợp, Nhà
sản xuất – Nhà thầu - Đại lý, điểm phân phối bán hàng…. GILIMEX thực
hiện bán hàng theo nhiều kêng phân phối hướng tới thị trường mục tiêu,
công ty đã thực hiện nhiều buổi trình chiếu, quảng cáo hàng thủ công mỹ
nghệ không chỉ qua danh mục hàng hóa mà còn tích cực tham gia vào các
hộ trợ riển lãm hàng thủ công mỹ nghệ được tổ chức tại Nhật Bản…
Trong những năm đầu tiến hành xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ sang
thị trường Nhật Bản( 1994 – 1998) kim ngạch xuất khẩu thực sự chưa cao,
nhưng Nhật Bản lai là thị trường có kim ngạch xuất khẩu cao hơn cả so với các
thị trường khác của GILIMEX, trong khoảng thời gian đó, GILIMEX xuất khẩu
với tổng kim ngạch xuất riêng cho mặt hàng thủ công mỹ nghệ đạt khoảng 350
triệu VND trung bình năm
Năm 1999 kim ngạch xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ của
GILIMEX đạt gần 700 triệu VND, mức tăng khá về kim ngạch xuất khẩu mặt
hàng này của công ty đã được đánh giá cao mặc dù so với cả nước thì kim ngạch
xuất khẩu mặt hàng này của công ty con khiêm tốn, bởi bối cảnh kinh tế Nhật
Bản lúc bấy giờ mới chỉ phục hồi đôi chút sau cơn khủng hoảng kinh tế khu vực

hàng thủ công mỹ nghệ, những trạng thái trên của thị trường Nhật Bản trở nên
phù hợp hơn bao giờ hết, điều này cũng thực sự là điểm mà GILIMEX rất quan
tâm chú ý để nhằm gây ấn tượng tốt về mặt hàng thủ công mỹ nghệ của mình
đối với người tiêu dùng Nhật Bản…ngoài ra Nhật Bản còn đặc biệt có những
chính sách giảm thuế cho mặt hàng nhập khẩu là thủ công mỹ nghệ của một số
nước và tất nhiên Việt nam không phải là một ngoại lệ, ví dụ như việc Nhật Bản
áp dụng mức thuế phổ cập cho Việt nam hay những gợi mở khác từ phía đối tác
Nhật đã và đang thực sự là những cơ hội lớn cho GILIMEX mở rộng hoạt động
xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của mình sang thị trường Nhật Bản
Mặt khác, môi trường kinh tế Nhật Bản còn mang tới những thách thức
không nhỏ đối với hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của GILIMEX
sang thị trường này, thể hiện bằng hệ thống những vấn đề đặt ra cần có sự giải
quyết từ phía công ty: Người tiêu dùng Nhật Bản rất khó tính trong việc lựa
chọn tiêu dùng hàng hóa, bất luận như thế nào họ luôn muốn sản phẩm mà mình
mua phải đáp ứng được hệ thống những yêu cầu khắt khe nhất như: phải có
chứng nhận kiểm định hàng hóa của Bộ Công nghiệp và Thương mại Nhật Bản
10
Đề án môn học NguyễnMinh Hải
(KDQT42)
như các tiêu chuẩn công nghiệp, nông nghiệp ( JIS, JAS, Ecomark…) ngoài ra
hàng hóa đó còn phảI đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng, hay rõ hơn là vấn
đề về trách nhiệm pháp lý đối với sản phẩm là một đòi hỏi thường xuyên và hết
sức bức xúc.
Vấn đề đặt ra nữa mà GILIMEX cũng đã rất thấm nhuần đấy là hàng hóa
của công ty cũng như hàng hóa của Việt nam hiện chưa được hưởng chế độ tối
huệ quốc (MFN) một cách chưa đầy đủ, đây chính là lý do vì sao khi mặt hàng
thủ công mỹ nghệ của công ty khi xuất sang thị trường Nhật Bản thì tính cạnh
tranh yếu hẳn đi và không đủ sức hấp dẫn người tiêu dùng Nhật Bản như những
sản phẩm cùng loại có xuất xứ từ các nước như Trung Quốc, Đài Loan, Thái
Lan…do những nước này hiện đã được hưởng chế độ tối huệ quốc (MFN) đầy

(Hình 2.1)
Qua những chỉ số phát triển kinh tế trên ta có thể thấy rằng, Nhật Bản là
một thị trường rất phát triển có thể nói, nền kinh tê Nhật Bản là một nền kinh tế
phát triển cao về bậc nhất thế giới, việc kinh doanh của các doanh nghiệp nước
ngoài tại đây sẽ vừa tạo nhiều cơ hội cho chính họ, cũng như đặt ra nhiều thách
thức. Khi bước vào môi trường kinh doanh của Nhật Bản, thì việc hiểu biết về
đặc điểm môi trường kinh tế và nền văn hoá cũng như con người Nhật Bản là rất
quan trọng. Nó có thể quyết định thành công hay thất bại trong quá trình kinh
doanh. Khi một doanh nghiệp muốn tiếp cận một thị trường nào đó, cần tìm hiểu
mức độ hấp dẫn của nó, hay nói cách khác là môi trường vận hành Marketing,
đó là việc xác định nhu cầu thị trường, sự thích hợp của sản phẩm của mình với
người tiêu dùng, và làm thế nào để đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng,
đó điều quyết định để mở rộng phạm vi cũng như lợi nhuận của doanh nghiệp.
Việc tiến hành các hoạt động marketing, cụ thể là nghiên cứu và tiếp cận thị
trường, chọn kênh phân phối nếu không phù hợp sẽ phản tác dụng, thậm chí để
lại hậu quả nghiêm trọng. Văn hoá là yếu tố quan trọng trong môi trường vận
hành marketing, ảnh hưởng trực tiếp đến sự hoạt động của nó. Bởi vậy, hiểu biết
sâu sắc về văn hoa cũng như con người Nhật Bản là cơ sở để có những cách vận
13
Đề án môn học NguyễnMinh Hải
(KDQT42)
dụng hiệu quả trong khi hoạt động trong môi trường này, từ đó sẽ có những
quyết định và hành động đúng đắn.
Bên cạch đó, thị hiếu của người tiêu dùng bắt nguồn từ truyền thống và
điều kiện của Nhật Bản trở thành một yếu tố quan trọng trong việc bán và phát
triển sản phẩm. Ta cũng cần chú ý đến tình trạng khủng hoảng kinh tế kéo dài
gần đây nên người Nhật Bản có xu hướng thích mua các hàng hoá có giá cả hợp
lý. Người tiêu dùng Nhật Bản đề ra các tiêu chuẩn về độ bền và chất lượng rất
cao cho sản phẩm, cũng như tạo ra các yêu cầu cho các sản phẩm phải tuân theo
ví dụ : hệ thống các tiêu chuân JIS, JAS, ECOMARK… Chính việc đáp ứng

Điểm đáng quan tâm nữa đấy là thái độ của người tiêu dùng Nhật Bản
-Người Nhật Bản là người tiêu dùng khắt khe nhất:
Nhật Bản là một trong những nước trên thế giới đòi hỏi chất lượng sản
phẩm cao nhất, gồm cả độ bền và khả năng hoạt động. Những khiếm khuyết mà
ở các quốc gia khác không thành vấn đề như một vết xước nhỏ, đường viền
không cân hay màu sơn bị mờ trong một sản phẩm thì ở Nhật Bản đều bị coi là
hàng hỏng. Nhu cầu về bảo hành hàng hoá là rất cần thiết, người tiêu dùng muốn
những hàng hoá có thể tin cậy và những dịch vụ sau bán hàng giúp họ hài lòng.
Khi người tiêu dùng đã thấy mình mua được một hàng hoá không như ý, họ sẽ
ngay lập tức chuyển sang mua sản phẩm nhãn hiệu mới. Nếu có một vấn đề nào
đó đối với sản phẩm sản xuất thì người tiêu dùng Nhật Bản muốn được giải
quyết ngay lập tức. Đây cũng chính là yếu tố gây ra nhiều những trở ngại đối với
GILIMEX khi thâm nhập vào thị trương Nhật Bản, cũng chính bởi lý do trên
GILIMEX cảm thấy mình như vẫn còn chưa đáp ứng thật tốt đối với yêu cầu của
thị trường, bài toán này đã đặt ra những thay đổi phù hợp trong cung cách thâm
nhập của GILIMEX khi đưa hàng hóa thủ công mỹ nghệ thâm nhập vào thị
trường Nhật Bản
-Người tiêu dùng Nhật Bản rất nhạy cảm với những thay đổi theo mùa:
Thời tiết ảnh hưởng rất nhiều tới tiêu dùng. Mức tiêu dùng của một loại hàng
hoá, đồ trang sức, đồ nội thất trong gia đình, chịu ảnh hưởng của khí hậu và
thời tiết. Mùa hè ở Nhật thường nóng và ẩm trong khi đó mùa đông lạnh và khô,
từ đó những hàng hoá chịu ảnh hưởng của thời tiết thì chất liệu, màu sắc cũng
15
Đề án môn học NguyễnMinh Hải
(KDQT42)
như kiểu dáng cần phải phù hợp. Nếu GILIMEX tung ra những hàng hoá phù
hợp với mỗi mùa nhưng khí hậu không thay đổi theo đúng như dự tính thì những
sản phẩm này sẽ bán không chạy.
-Người tiêu dùng Nhật Bản thường chọn nhiều sản phẩm:
Với những hàng hoá có màu sắc khác nhau thì người tiêu dùng rất muốn các

GILIMEX có thể xin dấu chứng nhận này cho sản phẩm của mình tại Bộ Công
Thương và Bộ Nông Lâm Ngư nghiệp Nhật Bản. Trong quá trình xem xét, Nhật
Bản cho phép sử dụng kết quả giám định của tổ chức giám định nước ngoài nếu
như tổ chức giám định đó được Bộ trưởng Bộ Công Thương hoặc Bộ Nông Lâm
Ngư nghiệp Nhật Bản chấp thuận.
Chế độ xác nhận trước về chất lượng của thực phẩm nhập khẩu được Nhật
bản đưa vào áp dụng từ tháng 3/1994. Nội dung của chế đọ này là kiểm tra trước
các nhà máy đó đáp ứng được các quy định của Luật Vệ sinh an toàn Thực
phẩm. Nếu thực phẩm được cấp xác nhận này thì việc tiêu thụ trên thị trường
Nhật Bản sẽ trở nên dễ dàng hơn, thủ tục nhập khẩu cũng được giải quyết
nhanh chóng hơn ( trong vòng 1 ngày thay vì 7 ngày). Hiện nay Thái Lan rất
quan tâm đến chế độ này và 8 nhà xuất khẩu của Thái Lan được Chính phủ Nhật
cấp giấy chứng nhận cho 27 chủng loại thực phẩm. Thái Lan là nước thứ tư, sau
Mỹ, Oâxtrâylia và Đài Loan, được Chính phủ Nhật cấp giấy chứng nhận này.
Ecomark là dấu chứng nhận sản phẩm không là hại sinh thái, ra đời từ
năm 1989. Do vấn đề môi trường đang ngày càng được dân Nhật (cũng như dân
các nước phát triển khác) quan tâm nên GILIMEX phải nhanh chân xin dấu
chứng nhận này của Nhật đặc biệt là cho các sản phẩm đồ gỗ thủ công mỹ nghệ.
Ngoài những động thái chuyển biến về mặt pháp lý, môi trường kinh tế
Nhật Bản cũng đang có những chuyển biến ngày một phức tạp, những năm gần
đây cho thấy những chỉ số phát triển kinh tế như : Nguồn vốn trong nước có sự
nhàn rỗi và ứ đọng, Chính phủ Nhật Bản hiện đang khuyến khích các doanh gia
Nhật đẩy mạnh đầu tư ra bên ngoài nhất là ở các nước đang phát triển để phát
huy tốt mục tiêu khai thác những nguồn lực có lợi thế so sánh… Sự kiện đồng
Yen tăng giá là một điển hình, các quan chức chính phủ Nhật Bản đang rất lo
lắng trước khả năng đồng Yen tăng giá quá nhanh, điều này thật sự không có lợi
17
Đề án môn học NguyễnMinh Hải
(KDQT42)
cho kinh tế Nhật, khi đồng Yen tăng giá nhanh so với USD sẽ làm cho khả năng

(KDQT42)
Với những đặc điểm hết sức đặc thù của môi trường kinh tế Nhật Bản nêu
trên đã và đang thực sự trở thành những cơ hội cũng như những thách thức
không nhỏ đối với hoạt động xuất khẩu hàng hóa nói chung và hàng hóa thủ
công mỹ nghệ nói riêng của các công ty nước ngoài khi quyết định thâm nhập
vào thị trường Nhật Bản.
2.2. THỰC TRẠNG CHUNG VỀ XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ
NGHỆ CỦA CỦA CÔNG TY GILIMEX SANG THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN
2.2.1 Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở nước ta:
Trong giai đoạn năm 1990-1992, quan hệ thương mại Việt nam – Nhật
Bản đã phát triển khá tốt đẹp và mạnh mẽ. Kim ngạch 2 chiều tương đối ổn
định.
Năm 1997 đạt kim ngạch 121 triệu USD
Năm 1998 đạt kim ngạch 111 triệu USD
Năm 1999 đạt kim ngạch 168 triệu USD
Năm 2000 đạt kim ngạch 250 triệu USD
Năm 2001 và năm 2002 đạt từ 200 đến 300 triệu USD, chiếm từ 12% -
17% kim ngạch xuất khẩu của Việt nam và Nhật Bản luôn là một trong những
thị trường xuát khẩu lớn nhất của Việt nam
Theo số liệu của Bộ Thương Mại, 8 tháng đầu năm nay, mặt hàng thủ
công mỹ nghệ vẫn đạt 230 triệu USD, dự kiến 4 tháng cuối năm đạt 170 triệu
USD, cả năm ước đạt 400 triệu USD tăng 33,3% so với cùng kỳ năm ngoái (năm
2002)
Hiện Việt nam có 14.000 làng nghề truyền thống chuyên sản xuất hàng
thủ công mỹ nghệ, những tổ chức kinh doanh rộng khắp trong nhiều địa phương
trên khắp nước đang mở ra một hướng đi triển vọng cho các doanh nghiệp kinh
doanh ngành hàng này.
Hiện nay, Việt nam có tới 11 nhóm hàng thủ công mỹ nghệ xuất
khẩu,trong đó có 5 nhóm chủ lực bao gồm gốm sứ mỹ nghệ, mây tre đan, ren
thổ cẩm, đồ gỗ mỹ nghệ và thảm các loại. Trước năm 2001, hàng thủ công mỹ

kim ngạch xuất khẩu của công ty và vượt năm 1999 hơn 400 triệu.
Các mặt hàng chủ yếu của công ty xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản: Ba lô
túi sách, may mặc, gốm sứ mỹ nghệ, hàng tạp phẩm, gỗ mỹ nghệ, mây tre đan.
20
Đề án môn học NguyễnMinh Hải
(KDQT42)
Công ty xuất khẩu sang Nhật Bản với hai hình thức chính là xuất khẩu trực tiếp
và uỷ thác xuất khẩu. Hình thức xuất khẩu trực tiếp chiếm khoảng 70% tổng
kim ngạch xuất khẩu của công ty. So với hình thức xuất khẩu gián tiếp, hình
thức này thường có lợi nhuận cao hơn và giá cả ổn định hơn. Các mặt hàng xuất
khẩu dưới hình thức này là gốm sứ mỹ nghệ, gỗ mỹ nghệ và phần lớn các mặt
hàng tạp phẩm. Hình thức xuất khẩu gián tiếp chiếm khoảng 30% tổng kim
ngạch xuất khẩu của công ty, các sản phẩm được xuất khẩu dưới hình thức này
là mây tre đan và một phần nhỏ hàng tạp phẩm.
Từ những phân tích trên ta thấy, Nhật Bản là một thị trường lớn của công ty
không những trong hiện tại mà thực sự còn có triển vọng trong cả tương lai.
Có thể nói Nhật Bản là một thị trường khó tính nhất và cũng khó xâm nhập
nhất của phần lớn công ty nào muốn xâm nhập vào đó. Đối với công ty
GILIMEX, trước khi đi vào sản xuất công ty đã xác định Nhật Bản là thị trường
mục tiêu quan trọng vì dù sao Nhật Bản cũng là một nước Châu Á, có vị trí địa
lý khá thuận lợi cho việc vận chuyển, lưu thông hàng hoá. Văn hoá Nhật Bản
mang đậm phong cách Á Đông và có nhiều nét tương đồng với Việt Nam. Quan
hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản gần đây có nhiều dấu hiệu tích cực và quan trọng
hơn là thị trường Nhật Bản đang có nhu cầu lớn về hàng thủ công mỹ nghệ - mặt
hàng mà công ty sản xuất và kinh doanh.
Vì Nhật Bản là một thị trường khó tính nên công ty rất thận trọng trong tất
cả các khâu xuất khẩu hàng hoá sang Nhật Bản.
Bằng những nỗ lực của các cán bộ, công nhân công ty, từ khi thành lập đến
nay, đặc biệt là 2 năm gần đây hoạt động xuất khẩu của công ty sang thị trường
Nhật Bản đã đạt được những hiệu quả đáng khích lệ. Kim ngạch xuất khẩu của

đối tác của Nhật thì sẽ có nhiều thuận lợi hơn trong việc sản phẩm của công ty
sẽ có thể xuất khẩu trở lại, những trở ngại về mặt pháp lý hay chính sách thuế sẽ
mềm dẻo hơn, tạo nên khả năng tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công
mỹ nghệ trong tương lai cho công ty
Điều thuận lợi nữa là gần đây hai phía Việt nam và Nhật Bản thường
xuyên có những trương trình đẩy mạnh sự hiểu biết về nhau cũng như tăng
22
Đề án môn học NguyễnMinh Hải
(KDQT42)
cường khả năng hợp tác trên nhiều lĩnh vực, hai bên đã qua nhiều vòng đàm
phán song phương cũng như đa phương trong việc Nhật Bản thực hiện những
chính sách có tính chất đãi ngộ hơn đối với hàng hóa Việt nam khi thâm nhập
vào thị trường Nhật Bản, song song với việc thành lập nên nhiều những tổ chức
hợp tác, nghiên cứu phát triển quan hệ hai nước như : các tổ chức xúc tiến
thương mại tại Việt Nam như VCCI, Vietrade, Jetro. Nhằm mục đích cung cấp
thông tin thị trường Nhật Bản cho các doanh nghiệp Việt nam khi tiến hành hoạt
động thâm nhập vào thị trường Nhật Bản.
2.2.2.2 Tác động tiêu cực từ môi trường kinh tế Nhật Bản
Môi trường kinh tế Nhật Bản mang trong nó những thách thức không nhỏ
đối với hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của GILIMEX sang thị
trường này, thể hiện bằng hệ thống những vấn đề đặt ra cần có sự giải quyết từ
phía công ty: Người tiêu dùng Nhật Bản rất khó tính trong việc lựa chọn tiêu
dùng hàng hóa, bất luận như thế nào họ luôn muốn sản phẩm mà mình mua phải
đáp ứng được hệ thống những yêu cầu khắt khe nhất như: phải có chứng nhận
kiểm định hàng hóa của Bộ Công nghiệp và Thương mại Nhật Bản như các tiêu
chuẩn công nghiệp, nông nghiệp ( JIS, JAS, Ecomark…) ngoài ra hàng hóa đó
còn phải đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng, hay rõ hơn là vấn đề về trách
nhiệm pháp lý đối với sản phẩm là một đòi hỏi thường xuyên và hết sức bức
xúc.
Vấn đề đặt ra nữa mà GILIMEX cũng đã rất thấm nhuần đấy là hàng hóa

đề tăng trưởng cao gắn liền với suy thoái theo chu kỳ thực sự là một bài toán cần
có sự đầu tư giải quyết từ phía các doanh nghiêp như GILIMEX để từ đó có
những đánh giá đúng và đầy đủ về môi trường kinh tế Nhật Bản và quan trọng
hơn là tự rút ra những liệu pháp hợp lý đối với hoạt động xuất khẩu của mình
vào Nhật Bản sao cho phù hợp với mỗi một giai đoạn phát triển của nền kinh tế
Nhật Bản cũng như những diễm biến phức tạp của môi trường kinh tế Nhật
Bản .
Do đó việc thường xuyên có những hoạt động như nghiên cứu, đánh giá
môi trường kinh doanh Nhật Bản phải là một công việc thường xuyên và liên
24
Đề án môn học NguyễnMinh Hải
(KDQT42)
tục, là những bước quan trọng để công ty có thể tìm cho mình những bước thâm
nhập hiệu quả vào thị trường Nhật Bản.
CHƯƠNG III:
BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ GỢI Ý ĐỐI VỚI GILIMEX KHI THÂM
NHẬP VÀO THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN
3.1 BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
3.1.1 Cần phải đáp ứng được những đòi hỏi của thị trường
Các doanh nghiệp Việt Nam khi quyết định thâm nhập thị trường Nhật
Bản cần đánh giá rõ và đầy đủ những đặc điểm về nhu cầu tiêu dùng cũng như
tập quán tiêu dùng của người Nhật Bản, như nghiên cứu ở phần thái độ của
người tiêu dùng Nhật Bản chúng ta thấy rằng người Nhật Bản rất khắt khe trong
việc đánh giá cũng như lựa chọn sản phẩm, khi người tiêu dùng đã thấy mình
mua được một hàng hoá không như ý, họ sẽ ngay lập tức chuyển sang mua sản
phẩm nhãn hiệu mới. Nếu có một vấn đề nào đó đối với sản phẩm sản xuất thì
người tiêu dùng Nhật Bản muốn được giải quyết ngay lập tức. Do đó các doanh
nghiệp Việt Nam nói chung cần hết sức lưu ý và cần hơn hết là phải biết thật
nhiều những thông tin về người tiêu dung Nhật Bản đấy mới thực sự là tiền đề
để các doanh nghiệp Việt Nam có thể có được sự lưu tâm của người tiêu dùng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status