BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Báo cáo
“Xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam
sang thị trường Châu Phi
Thực trạng và giải pháp”
Mục lục
BÁO CÁO T T NGHI PỐ Ệ 1
Báo cáo 1
“Xu t kh u h ng hoá c a Vi t Nam sang th tr ng Châu Phiấ ẩ à ủ ệ ị ườ 1
Th c tr ng v gi i pháp”ự ạ à ả 1
M c l cụ ụ 2
L I M UỜ ỞĐẦ 2
Em chân th nh cám n cô Ngô Th Tuy t Mai v các th y cô khác trong khoaà ơ ị ế à ầ
v b môn kinh t va kinh doanh qu c t ã h ng d n v giúp em ho n à ộ ế ố ếđ ướ ẫ à đỡ à
th nh t i n y.à đề à à 3
N I DUNGỘ 4
CH NG I:ƯƠ 4
LÝ LU N CHUNG V XU T KH U HÀNG HOÁ VÀ S C N THI T PH I Ậ Ề Ấ Ẩ Ự Ầ Ế Ả
Y M NH XU T KH U HÀNG HOÁ SANG TH TR NG CHÂU PHIĐẨ Ạ Ấ Ẩ Ị ƯỜ 4
1. Lý lu n chung v xu t kh uậ ề ấ ẩ 4
2. Các hình th c xu t kh u ch y uứ ấ ẩ ủ ế 6
3. M t s nh h ng t i ho t ng xu t kh u.ộ ốả ưở ớ ạ độ ấ ẩ 8
4. S c n thi t ph i xu t kh u h ng hoá sang th tr ng Châu Phiự ầ ế ả ấ ẩ à ị ườ 10
CH NG II:ƯƠ 12
TH C TR NG XU T KH U C A VI T NAMỰ Ạ Ấ Ẩ Ủ Ệ 12
SANG TH TR NG CHÂU PHIỊ ƯỜ 12
1. Khái quát quan h chính tr v ngo i giao Vi t Nam – Châu Phi ệ ị à ạ ệ
trong th i gian quaờ 12
2. Th c tr ng xu t kh u h ng hoá c a Vi t Nam v o th tr ng Châu Phiự ạ ấ ẩ à ủ ệ à ị ườ
trong th i gian quaờ 13
Chương III: Định hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng
hoá Việt Nam sang thị trường Châu Phi trong thời gian tới.
Em chân thành cám ơn cô Ngô Thị Tuyết Mai và các thầy cô khác
trong khoa và bộ môn kinh tế va kinh doanh quốc tế đã hướng dẫn và giúp đỡ
em hoàn thành đề tài này.
NỘI DUNG
CHƯƠNG I:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ VÀ SỰ CẦN THIẾT
PHẢI ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ SANG THỊ
TRƯỜNG CHÂU PHI
1. Lý luận chung về xuất khẩu
1.1 Khái niệm và vai trò của xuất khẩu
1.1.1 Khái niệm
Xuất khẩu là hoạt động mua bán, trao đổi hàng hoá và dịch vụ từ quốc gia
này sang quốc gia khác.
Xuất khẩu là hoạt động cơ bản của ngoại thương, lịch sử phát triển của nó
đã có từ rất lâu đời và ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng lẫn
chiều sâu. Ban đầu, hình thức cơ bản của nó chỉ đơn thuần là hoạt động trao
đổi hàng hoá giữa các quốc gia. Ngày nay nó đã phát triển rất mạnh và được
biểu hiện dưới nhiều hình thức. Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay hoạt động
xuất khẩu diễn ra trên phạm vi rộng khắp trong hầu hết tất cả các ngành, các
lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong
cơ cấu nền kinh tế với tỉ trọng ngày càng cao.
1.2 Vai trò của xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, là
một nội dung chính của hoạt động ngoại thương và là hoạt động đầu tiên
trong thương mại quốc tế. Nó là nhân tố góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh
tế của mỗi quốc gia cũng như trong từng ngành, từng doanh nghiệp.
1.2.1 Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu, phục vụ công
xuất của từng quốc gia.
Ngày nay khoa học càng phát triển thì phân công lao động càng sâu sắc,
các công ty đa quốc gia đặt chi nhánh ở khắp nơi trên thế giới để tiến hành
sản xuất, tiêu thụ hàng hoá. Như vậy việc hàng hoá sản xuất ra ở một nước và
tiêu thụ ở nhiều nước khác đã cho thấy sự tác động của hoạt động xuất khẩu
đối với chuyên môn hoá sản xuất tạo điều kiện cho các quốc gia khai thác một
cách triệt để lợi thế so sánh trong cạnh tranh của mình để tìm kiếm lợi nhuận,
tăng nguồn thu ngoại tệ cho ngân sách từ đó góp phần làm bình ổn cung cầu
ngoại tệ.
1.2.3 Xuất khẩu có tác động tích cực tới giải quyết công ăn việc làm,
cải thiện đời sống nhân dân.
Sản xuất hàng xuất khẩu đã tạo công ăn việc làm cho hàng triệu lao động,
giải quyết nạn thất nghiệp. Thông qua hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu cơ
cấu ngành nghề theo nó được mở rộng tạo thêm nhiêù việc làm mới, tăng thu
nhập cho người lao động cải thiện đời sống nhân dân. Mặt khác xuất khẩu còn
tạo ra ngoại tệ để nhập khẩu những hàng hoá mà trong nước không thể sản
xuất được hoặc sản xuất yếu kém phục vụ cuộc sống nhân dân. Nhập khẩu
nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất, công nghệ hiện đại phục vụ sản xuất tạo
ra thế và lực mới cho các ngành sản xuất trong nước phát triển.
1.2.4 Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy sự phát triển các
mối quan hệ kinh tế đối ngoại tiến tới xây dựng một nền kinh tế toàn
cầu hội nhập và phát triển.
Hoạt động xuất khẩu là một hoạt động chủ yếu, cơ bản, là hình thức ban
đầu của hoạt động kinh tế đối ngoại. Từ đây nó thúc đẩy các mối quan hệ
khác phát triển theo như :du lịch, vận tải, bảo hiểm từ đó hình thành mối
quan hệ qua lại khăng khít, giữa các quốc gia. Hoạt động xuất nhập khẩu đã
gắn kết sản xuất giữa các nước, các khu vực với nhau đẩy mạnh quá trình nhất
thể hoá nền kinh tế khu vực và thế giới như hoạt động xuất nhập khẩu giữa
các nước trong tổ chức WTO, ASEAN, AFTA Điều kiện kinh tế của mỗi
- Phải trực tiếp khảo sát thị trường nước ngoài
- Phải lo khâu vận tải hàng hoá từ nơi sản xuất sang thị trường
nước ngoài, đảm bảo các thủ tục giấy tờ liên quan.
Điều kiện áp dụng: áp dụng cho doanh nghiệp có đủ tiềm năng về tài
chính, có quy mô lớn, phát triển đủ mạnh để thành lập riêng tổ chức
bán hàng của mình.
2.2 Xuất khẩu gián tiếp
Khái niệm: là hình thức xuất khẩu khi doanh nghiệp thông qua dịch vụ
của các tổ chức độc lập đặt ngay tại nước xuất khẩu để tiến hành xuất
khẩu sản phẩm của mình ra nước ngoài.
Các hình thức: Sử dụng các trung gian phân phối.
- Hãng buôn xuất khẩu
- Các công ty quản lý xuất khẩu
- Đại lý xuất khẩu
- Khách hàng vãng lai
- Các tổ chức phối hợp
Ưu điểm:
- Không cần đến tận thị trường nước ngoài và không cần liên lạc
với bạn hàng nước ngoài.
- Các rủi ro xuất khẩu do các trung gian phân phối xuất khẩu
chịu
- Không phải lo vấn đề vận tải hàng hoá ra nước ngoài, chứng từ
xuất khẩu, tín dụng và thu tiền từ khách hàng nước ngoài.
Nhược điểm:
- Người sản xuất không trực tiếp tiếp xúc với khách hàng ở nước
ngoài do đó họ không có thông tin về lượng hàng bán được, về
các phản ứng của khách hàng với hàng hoá và nhu cầu về hàng
hoá .
- Nhà xuất khẩu không thể chọn kênh phân phối có lợi cho mình.
ảnh hưởng tới cơ cấu tổ chức và hiệu quả của doanh nghiệp. Các yếu tố giá cả
và sự phân bố tài nguyên ở các thị trường khác nhau cũng ảnh hưởng tới quá
trình sản xuất, phân bố nguyên vật liệu, vốn, lao động của và do đó ảnh
hưởng tới giá cả, chất lượng hàng hoá xuất khẩu. Bên cạnh đó, còn có công cụ
thuế quan và phi thuế quan mà mỗi quốc gia sử dụng để quản lý hoạt động
xuất nhập khẩu. Trên thế giới hiện nay, với xu hướng tự do hoá thương mại,
các hàng rào thuế quan và phi thuế quan từng bước được loại bỏ. Thay vào đó
nhiều liên minh thuế quan được hình thành trên cơ sở loại bỏ hàng rào thuế
quan và phi thuế quan giữa các thành viên trong liên minh thuế quan.
3.5 Các yếu tố cạnh tranh.
Các yếu tố cạnh tranh bao gồm:
- Sự đe doạ của các đối thủ cạnh tranh tiềm năng
- Sức ép người cung cấp
- Sức ép người tiêu dùng
- Sự đe doạ của các sản phẩm thay thế
- Các yếu tố cạnh tranh trong nội bộ ngành
3.6 Các yếu tố tỷ giá hối đoái.
Trong buôn bán quốc tế đồng tiền thanh toán thường là ngoại tệ đối với
một trong hai bên hoặc cả hai bên. Do vậy, khi đồng tiền làm phương tiện
thanh toán biến động thì lợi ích của một trong hai bên sẽ bị thiệt hại. Khi tỷ
giá hối đoái tăng làm cho giá hàng hoá xuất khẩu trở nên đắt đỏ, sức cạnh
tranh của hàng hoá đó trên thị trường thế giới bị giảm dẫn đến hoạt động xuất
khẩu bị thu hẹp.Ngược lại, khi tỷ giá hối đoái giảm , tức đồng nội tệ giảm so
với đồng ngoại tệ thì sẽ tăng hoạt động xuất khẩu.
3.7 Các yếu tố về công nghệ.
Hiện nay, có rất nhiều công nghệ tiên tiến ra đời tạo cơ hội cũng như nguy
cơ đối với tất cả các ngành công nghiệp nói chungvà kinh doanh xuất nhập
khẩu nói riêng. Khoa học công nghệ tác động làm tăng hiệu quả của công tác
xuất khẩu của doanh nghiệp, thông qua tác động vào các lĩnh vực bưu chính
4.2 Yêu cầu mở rộng thị trường xuất khẩu của Việt Nam.
Hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế khách quan trong nền kinh tế
thế giới, hội nhập kinh tế quốc tế có nghĩa là thực hiện tự do hoá thương mại
đưa các hàng hoá của ta tham gia vào quá trình cạnh tranh quốc tế. Trong điều
kiện nền kinh tế mở của và hội nhập như hiện nay nó diễn ra hết sức khỗc liệt.
Điều này cũng gây không ít khó khăn cho việc hàng hoá của nước ta thâm
nhập thị trường quốc tế đặc biệt là việc thâm nhập và mở rộng thị trường
nước ngoài. Với điều kiện như hiện nay việc hàng hoá của chúng ta khó có
thể cạnh tranh và đứng vững trên các thị trường lớn với sự cạnh tranh khốc
liệt của các nước như: Trung Quốc, Thái Lan,…. Đặc biệt đối với hai thị
trường trọng điểm của nước ta là Mỹ và EU các mặt hàng của chúng ta ngày
càng phải cạnh tranh khốc liệt hơn để tìm chỗ đừng và vị thế trên thị trường.
Từ đó ảnh hưởng đến tình hính sản xuất và xuất khẩu của nước ta. Từ đó buộc
chúng ta phải có các giải pháp tìm kiếm và phát triển xuất khẩu sang các thị
trường mới mà chúng ta có khả năng cạnh tranh nhiều hơn. Đó chính là thị
trường Châu Phi
Mà thị trường Châu Phi hiện nay có nhu cầu lớn về nhập khẩu nhiều loại
hàng hoá mà trong đó chúng lại có thế mạnh về những mặt hàng đó. Do đó
việc phát triển thị trường Châu Phi là hoàn toàn hợp lý để đẩy mạnh xuất khẩu
của nước ta.
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
SANG THỊ TRƯỜNG CHÂU PHI
1. Khái quát quan hệ chính trị và ngoại giao Việt Nam – Châu Phi trong
thời gian qua
Trong thương mại, quan hệ hai bên được cụ thể hoá thành nhiều hiệp định.
Việt Nam đã ký hiệp định khung về hợp tác, thương mại, khoa học kỹ thuật
với 22 nước Châu Phi, đã lập uỷ ban liên chính Phủ với 6 nước Angiêr, Libi,
Ănggola, Mali, Ai cập, Tuynidi. Trong nông nghiệp hợp tác 3 bên Việt Nam -
Từ số liệu trên cho thấy kim ngạch xuất khẩu của nước ta sang Châu Phi ngày
càng tăng. Đặc biệt với một số nước kim ngạch xuất khẩu của nước ta đã
tăng cao như: xenegan: 57 triệu USD, Bờ Biển Ngà: 32 triệu USDm Ghana:
31 triệu USD. Nhưng trong giai đoạn từ 2001 đến 2004 thị trường Châu Phi
chỉ chiếm 1% tổng kim ngạch của cả nước, thậm chí có bước thụt giảm từ
1.1% năm 2001 xuống 0.7% năm 2004.
Biểu đồ 2.1 Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Châu
Phi từ năm 2000 - 2005
2.1.2 Cơ cấu thị trường.
Hiện nay, trong số các quốc gia Châu Phi có các thị trường xuất khẩu lớn
nhất của Việt Nam là: Cộng Hoà Nam Phi, Ai Cập, Ănggola, Angieri,
Xenegan, Tandania, Nigiênia, Ggana,Kênia, Gabông và Bờ Biển Ngà,…
Về thị trường xuất khẩu của Việt Nam sang Châu Phi năm 2001 thì Nam
Phi chiếm kim ngạch lớn nhất đạt 29,1 triệu USD chiếm 16.64%; tiếp đến là
Ai Cập với kim ngạch 28,1 triệu USD chiếm 16.35 %; Ănggôla đạt 28,1 triệu
USD chiếm 16.07%; Sênêgal đạt 21,3 triệu USD chiếm 12.18%; Angiêriaa
đạt 11,5 triệu USD chiếm 6.57% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.
2.1.3 Cơ cấu mặt hàng.
Hiện nay, nước ta xuất khẩu 8 mặt hàng lớn nhất sang Châu Phi là:
Bảng 2.1 Giá trị những mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam
sang thị trường Châu Phi.
Tên mặt hàng
Giá trị xuất khẩu
(triệu USD)
Gạo 106
Dệt may 12.8
Điện tử và linh kiện 11.6
Giàydép 8.2
Hạt tiêu 6.6
hai nước chủ yếu thông qua hình thức thanh toán trả chậm, còn hình thức
thanh toán thông qua ngân hàng (thư tín dụng L/C) còn rất hạn chế. Vì các đối
tác phí Châu Phi lại không quen thanh toán bằng hình thức này.
2.2 Các thị trường trọng điểm của Việt Nam ở Châu Phi.
2.2.1 Thị trường Nam Phi
2.2.1.1 Kim ngạch xuất khẩu.
Nam Phi luôn là bạn hàng lớn của Việt Nam ở Châu Phi. Kim ngạch hai
chiều giữa Việt Nam và Nam Phi luôn tăng, đặc biệt là xuất khẩu từ Việt Nam
sang Nam Phi tăng nhanh từ 1,2 triệu USD năm 1992 lên 55,5 Triệu USD
năm 2004. Đến đầu năm 2005 Việt Nam đã xuất khẩu sang Nam Phi lượng
hàng hoá trị giá 5 triệu USD và dự kiến năm 2005 kim ngạch xuất khẩu của
Việt Nam sang Nam Phi đạt 55 – 60 triệu USD.
2.2.1.2 Cơ cấu mặt hàng
Các mặt hàng chủ yếu của Việt Nam sang Châu Phi gồm giày dép, gạo, cà
phê, than đá, hàng thủ công mỹ nghệ, dệt may, rau quả, sản phẩm gỗ, sản
phẩm nhựa, cao su,… Riêng năm 2001 kim ngạch xuất khẩu mặt hàng gạo là
15 triệu USD trên tổng kim ngạch là 29,1 triệu USD và gạo luôn chiếm từ tỷ
trọng lớn nhất chiếm tới 50 – 60% kim ngạch xuất khẩu. Ngoài ra mặt hàng
giày dép Việt Nam có mức tăng trưởng rất nhanh đã 5,8 triệu USD trong 4
tháng đầu năm 2005 tăng 175% so với cùng kỳ năm 2004. đồ nhựa chiếm
2.52%; cao su và các sản phẩm cao su chiếm 1.37%; dược phẩm chiếm 2.25%
trong tổng số kim ngạch xuất khu và hàng dệt may của Việt Nam chiếm
36.4% tổng kim ngạch nhập khẩu của Nam Phi.
2.2.1.3 Các hình thức xuất khẩu và phương thức thanh toán.
Đối với những hàng hoá của Việt Nam thâm nhập vào thị trường Nam Phi
chủ yếu thông qua phương thức xuất khẩu gián tiếp hay phải xuất khẩu qua
một nước thứ 3. Còn đối với việc thanh toán thì doanh nghiệp Việt Nam và
Nam Phi còn chưa có tiếng nói chung về việc lựa chọn hình thức thanh toán
quốc tế thông qua ngân hàng.
Dầu đỏ 10% Không
Các loại dầu khác Không Không
Hạt tiêu Không Không
Chè xanh Không Không
Chè đen 400 cent/kg Có
Nhóm rau quả Tối thiểu 5%
Tối đa 35%
Không
Nguồn: hải quan Nam Phi
Ngoài ra Nam Phi không áp dụng một hình thức bảo hộ nào khác ngoài
thuế nhập khẩu đối với hàng hoá nông sản.
Theo như bảng trên thì việc xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị
trường Nam Phi (mà chủ yếu là hàng nông sản) gặp rất ít khó khăn từ phía các
cấp chính quyền Nam Phi đó là một thuận lới lớn đối với chúng ta, do đó
chúng ta cần khai khác triết để những lợi thế này để nâng cao kim ngạch xuất
khẩu của ta sang Nam Phi trong những năm tới.
2.2.2 Thị trường Ai Cập
2.2.2.1 Kim ngạch xuất khẩu
Quan hệ thương mại hai chiều Việt Nam Ai Cập được bắt đầu từ những
năm 90 của thế kỷ trước nhưng chỉ thực sự bắt đầu phát triển từ năm 1995. Từ
sau đó kim ngạch xuất khẩu của nước ta tăng nhanh trong giao đoạn 1995 –
2001 và năm 2002 nước ta đã xuất khẩu sang Ai Cập đạt 21,828 triệu USD.
Bảng 2.3: Kim ngạch xuất khẩu Việt Nam - Ai Cập từ năm 1995-2004
Đơn vị: nghìn USD
Năm 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004
Kim ngạch
xuất khẩu
855 1,471 6,537 10,389 12,267 19,016 28,574 21,828 22,210 38,693
Nguồn: Tổng cục hải quan Việt Nam.
Bảng biểu 2.2:Kim ngạch xuất khẩu Việt Nam - Ai Cập từ năm 1995-2004
8 Xơ nhân tạo 65 375 205
9 Sản phẩm cơ khí 238 289 395 736
10 Phụ liệu thuốc lá 2.006 829
11 Hàng rau quả 1.104
12 Hàng hoá khác 3.515
Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam.
2.2.2.3 Các hình thức xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam và phương
thức thanh toán.
Hình thức xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam là xuất khẩu gián tiếp qua trung
gian vào thị trường Ai Cập hay là tạm xuất vào các khu thương mại tự do của
Ai Cập sau đó tái xuất sang các nước khác chủ yếu là Tây Phi chiếm tỷ trọng
lớn. Như năm 2001 tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường
Ai Cập đạt 28,6 triệu USD nhưng chỉ xuất khẩu trực tiếp được 7,6 triệu USD
còn lại 21 triệu USD là tam nhập tái xuất.
Trong kinh doanh các doanh nghiệp Việt Nam chưa thiết lập với các đối tác
Ai Cập những mối làm ăn lâu dài, ổn định. Trong việc thanh toán giữa hai bên
đối tác khi xuất khẩu sang Ai Cập do các đối tác Ai Cập ít thanh toán bằng
L/C mà thường thanh toán bằng các hình thức trả chậm.
2.2.3 Thị trường Nêgiêria
2.2.3.1 Kim ngạch xuất khẩu.
Hoạt động buôn bán giữa Việt Nam và Nigiêria còn khiên tốn. Hoạt động
thương mại giữa hai bên chỉ thực sự diễn ra vào cuối những năm 90 của thế
kỷ trước. Năm 1998 Việt Nam xuất khẩu đạt 9,769 triệu USD, năm 1999 đạt
7,25 triệu USD, năm 2000 đạt 4,923 triệu USD. Trong thời kỳ này thì kim
ngach xuất khẩu của nước ta liên tục giảm.
2.2.3.2 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu.
Việt Nam xuất khẩu chủ yếu các mặt hàng: gạo, hàng dệt may, săm cao su
và các sản phẩm cao su, tivi, giày dép, nhựa và các sản phẩm nhựa, đồ chơi,
đồ thủ công mỹ nghệ,…. Việt Nam đã xuất khẩu đạt được số lượng và giá trị
đủ các cơ sở kinh doanh từ nhà máy xay xát, xí nghiệp đóng gói,
hệ thống vận tải và phân phố. Các công ty này hiện này nhập
khẩu chủ yếu từ hai thị trường là: thóc chủ yếu nhập khẩu từ
Thài Lan và gạo chủ yếu nhập khẩu từ thị trường Mỹ. Các công
ty này chủ yếu là có sự tham gia của người châu Âu và do người
châu Âu quản lý và điều hành và phần lớn đã có nhà cung cấp ổn
định. Do các công ty này có sự tham gia của châu Âu nên khả
năng tài chính tốt và ổn định nên việc thanh toán chủ yếu là mở
L/C thông qua ngân hàng châu Âu hay là của Mỹ, hoặc việc
thanh toán bằng L/C mở tại các ngân hàng địa phương nhưng có
sự xác nhận của ngân hàng châu Âu hay Mỹ.
Việc các công ty xuất khẩu gạo của Việt Nam thiết lập được các mối làm
ăn được với các công ty này thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu,
tránh đước rủi ro từ phía nhà nhập khẩu và đảm bảo làm ăn lâu dài.
o Bán hàng qua kho ngoại quan: Việc nhập khẩu gạo vào thị
trường Nigiêria theo phương thức này cũng được các nhà xuất
khẩu áp dụng khá phổ biến. xuất khẩu theo phương thức này chủ
yếu gạo được để tại các kho ngoại quan, chủ hàng bán hàng đến
đâu thu tiền đến đấy và người nhập khẩu chị trách nhiệm làm thủ
tục hải quan và nộp thuế. Nếu kinh doanh theo phương thức này
thì các thì các công ty nước ngoài phải mở văn phòng đại diện
của mình tại đây, một số liên doanh với đối tác nước này thì xầy
dựng một hệ thống kho hàng riêng tại khu miễn thuế.
Để kinh doanh theo phương thức này thì phải có một hệ
thống khách hàng ổn định, quan hệ lâu dài và phải thiết lập được
mối quan hệ tốt với chính quyền địa phương. Để làm được điều
này thì chi phí ban đầu là khá tốn kém.
o Bán hàng qua biên giới: Là việc bán gạo gián tiếp vào thị trường
Nigiêria thông qua các thị trường láng giềng của nước này như
Qua bảng số liệu và bảng biểu trên cho thấy kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam sang thị trường Maroc có sự tăng giảm không đều, nhưng kể từ năm
2001 sự tăng đều đặn hơn và năm 2004 có sự tăng đột biến.
Theo tổng cục Hải quan Việt Nam, trong quý 1/2005 tổng kim ngạch xuất
khẩu của Việt Nam sang Maroc đạt 3,627,499 USD.
2.2.4.2 Cơ cấu mặt hàng.
Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Maroc là: cà phê, hạt
tiêu, cao su và các sản phẩm cao su, giày dép, dệt may, sản phẩm, giấy,….
Tuy nhiên, giá trị xuất khẩu từng mặt hàng rất thấp và thay đổi thất thường.
Giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang Maroc được thể hiện qua bảng sau.
Bảng 2.6 Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Maroc
trong thời gian từ 1995 – 2004
Đơn vị: Nghìn USD
Stt Mặt hàng Việt Nam xuất khẩu 2000 2001 2002 2003 2004
1 Hạt tiêu 221 91 292
2 Sản phẩm nhựa 23 58
3 Dệt may 100 88 117 191
4 Giày dép 281 317 67 78 368
5 Cà phê 1514 511 849 1080 2518
6 Cao su, các sản phẩm cao su 318 319 402 121 583
7 Sản phẩm giấy 11 53 29
8 Đồ điện tử (Linh kiện điện điện tử) 109 514 321 2007
9 Máy móc thiết bị phụ tùng 108
10 Hải sản 1245
11 Hàng hoá khác 1491
Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam.
2.2.5 Thị trường Angiêria
2.2.5.1 Kim ngạch xuất khẩu.
Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Angiêriaa được thể
gạo, hạt tiêu, cà phê, giày dép, dệt may,máy móc thiết bị, đồ dùng bằng gỗ,…
và nhiều hàng hoá khác
Sáu tháng đầu năm 2004,Việt Nam đạt kim ngạch xuất khẩu sang
Angiêriaa (chính ngạch) là 7,630,314 USD và cả năm đạt 15,260,628 USD
với các mặt hàng xuất khẩu chính như sau: cà phê: 5,820,518 USD; gạo:
1,237,801; may mặc: 92,135 USD; Xăm lốp cao su: 76,911 USD và hạt rau:
52,023 USD.