ĐỀ CƯƠNG TÀI NGUYÊN RỪNG
Câu 1: Rừng là gì? Vai trò của tài nguyên rừng trong phát triển bền vững?
Khái niệm: Rừng là một tập hợp gồm nhiều thành phần giữa các thành phần
có mối quan hệ qua lại tạo thành một chỉnh thể thống nhất và vận động chi
phối các vùng lân cận.
- Rừng là nguồn tài nguyên thiên nhiên có khả năng tái tạo. Nó dựa
vào chu trình phát triển và tiến hoá tự nhiên để tồn tại và phát triển. Tài
nguyên tái tạo được hiểu một cách đơn giản hơn là tài nguyên có thể tự duy
trì, hoặc tự bổ sung một cách liên tục khi được quản lí một cách khôn ngoan
và phù hợp quy luật tự nhiên.
- Vai trò của rừng trong cuộc sống
+ Vai trò kinh tế: Cung cấp lâm sản, đặc sản phục vụ nhu cầu tiêu
dùng xã hội, trước hết là gỗ lâm sản ngoại gỗ; cung cấp động vật, dược liệu
quý phục vụ nhu cầu chữa bệnh; cung cấp lương thực, nguyên liệu chế biến
thực phẩm phục vụ nhu cầu đời sống xã hội vv.
+ Vai trò sinh thái: Phòng hộ đầu nguồn, giữ đất, giữ nước ; phòng
hộ ven biển, chắn sóng, chắn gió, chống cát bay, chống sự xâm nhập của
nước mặn ; Phòng hộ khu công nghiệp và khu đô thị; phòng hộ đồng ruộng
và khu dân cư; Bảo vệ các khu di tích lịch sử, nâng cao giá trị cảnh quan và
du lịch ; Hơn nữa, rừng còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực
khoa học, là nơi cư trú của các loài động thực vật quý hiếm.
+ Vai trò xã hội: Là nguồn thu nhập chính của đồng bào các dân tộc
miền núi, là cơ sở quan trọng để phân bố dân cư, điều tiết lao động xã hội,
góp phần xoá đói giảm nghèo cho xã hội.
Câu 2: Nêu các thành phần cơ bản của HST rừng?
Hệ sinh thái rừng bao gồm những thành phần sau đây:
a) Những chất vô cơ: C, N, CO2, H2O, v.v…, tham gia vào chu trình
tuần hoàn vật chất.
1
b) Những chất hữu cơ: Protein, gluxid, lipid, các chất mùn, .v.v…liên
kết các phần hữu sinh và vô sinh.
to chiếm vị trí không gian lớn. Chính vì thế, chúng ta có thể hiểu " Rừng là
một HST, trong đó những loài cây gỗ cao chiếm ưu thế".
Như vậy, Trong HST rừng luôn luôn diễn ra quá trình tổng hợp chất
hữu cơ (do sinh vật sản xuất) và quá trình phân huỷ chất hữu cơ (do sinh vật
tiêu thụ và phân huỷ). Chính nhờ có các quá trình (chu trình vật chất) trên
mà HST rừng tồn tại, sinh trưởng và phát triển.
Câu 3: Rừng được đặc trưng bởi những đặc điểm nào?
Các đặc trưng cơ bản của rừng.
Theo viện sĩ I.S.Mêlêkhôp (1974) thì rừng là một hệ thống sinh vật
học được đặc trưng bởi những đặc điểm sau:
1 - Rừng là một thể tổng hợp phức tạp có mối quan hệ qua lại giữa
các cá thể trong quần thể, giữa các quần thể trong quần xã và có sự thống
nhất giữa chúng với hoàn cảnh trong tổng hợp đó.
2 - Rừng luôn luôn có sự cân bằng động, có tính ổn định, tự điều hòa
và tự phục hồi để chống lại những biến đổi của hoàn cảnh và những biến đổi
về số lượng sinh vật, những khả năng này được hình thành do kết quả của sự
tiến hóa lâu dài và kết quả của sự chọn lọc tự nhiên của tất cả các thành phần
rừng.
3 - Rừng có khả năng tự phục hồi và trao đổi cao.
4 - Rừng có sự cân bằng đặc biệt về sự trao đổi năng lượng và vật
chất, luôn luôn tồn tại quá trình tuần hoàn sinh vật, trao đổi vật chất năng
lượng, đồng thời nó thải ra khỏi hệ sinh thái các chất và bổ sung thêm vào
đó một số chất từ các hệ sinh thái khác.
5 - Sự vận động của các quá trình nằm trong các tác động tương hỗ
phức tạp dẫn tới sự ổn định bền vững của hệ sinh thái (HST) rừng.
6 - Rừng có phân bố địa lý.
Khi xem xét rừng trên quan điểm lâm học thì chúng ta cần chú ý đến
4 đặc điểm sau:
1. Rừng tồn tại lâu dài theo thời gian.
2. Trong rừng luôn có ảnh hưởng lẫn nhau giữa cây gỗ, cây bụi, thảm
(1) – Tái sinh hạt (tái sinh hữu tính): Cây tái sinh có nguồn gốc từ
hạt giống. Tái sinh hạt có sức sống mạnh, tính di truyền ổn định. Cây hạt ban
4
đầu mọc chậm vì tán lá và rễ cây mới hình thành. Kinh doanh rừng gỗ lớn
phải sử dụng tái sinh hạt (cây có nguồn gốc từ hạt thường có tuổi thọ cao
hơn).
Tái sinh hạt bắt đầu từ khi cây ra hoa kết quả, quả chín và phân tán
hạt giống, nảy mầm và sinh trưởng của cây tái sinh. Rừng có nguồn gốc cây
mọc từ hạt gọi là rừng hạt.
(2) – Tái sinh chồi (tái sinh vô tính): Cây tái sinh chồi mọc trên gốc
cây chặt. Cây chồi mới sinh ra được thừa hưởng bộ rễ của gốc cây mẹ nên
ngay từ đầu cây chồi sinh trưởng nhanh hơn cây hạt những gỗ lại mềm (cây
chồi ở những gốc chặt có tuổi già thường có nguy cơ sớm bị rỗng ruột hoặc
bị mục thối). Kinh doanh rừng gỗ nhỏ, đặc biệt là gỗ củi thường sử dụng tái
sinh chồi. Rừng có nguồn gốc cây là chồi thì gọi là rừng chồi. Rừng có
nguồn gốc cây là cả chồi và hạt thì gọi là rừng chồi hạt.
Việc nảy chồi của cây mẹ thông thường có 2 loại chồi:
- Loại chồi bất định: Loại chồi này không có sẵn trong cấu tạo thân
cây, hình thành khi cây mẹ bị kích thích (khai thác ). Chồi này không có ý
nghĩa trong kinh doanh rừng chồi do không có khả năng tạo thành thân cây
độc lập (khi nào cây mẹ chết nó cũng chết theo).
- Loại chồi ngủ: Chồi ngủ là chồi có sẵn trong cấu tạo thứ cấp của
thân cây. Thông thường, các chồi ngủ này bị ức chế bởi dòng Auxin từ trên
tán cây đưa xuống gốc. Sau khi bị chặt các chồi ngủ được “giải phóng” khỏi
sự ức chế đó và hình thành cây chồi. Thời gian đầu chồi ngủ cũng lấy dinh
dưỡng của cây mẹ để sống, nhưng khi gốc cây mẹ chết nó sẽ trở thành cây
độc lập. Do vậy, chồi ngủ có ý nghĩa trong việc kinh doanh rừng.
(3) – Tái sinh thân ngầm (hình thức này cũng được gọi là tái sinh vô
tính): Đây là hình thức tái sinh đặc thù cho các loại tre trúc. Cây mọc lên từ
thân ngầm ở dưới đất.
cực của con người từ khi gieo giống trồng cây, chăm sóc để tạo ra rừng mới
trên đất rừng.
6
+ Ưu điểm: Chủ động chọn loài cây trồng; điều khiển được tổ thành,
mật độ đáp ứng mục tiêu kinh doanh đề ra; cây con sinh trưởng nhanh, chất
lượng tốt do hạt giống được tuyển chọn, cây con được chăm sóc.
+ Nhược điểm: Phải có điều kiện kinh tế, kĩ thuật nhất định nên khó
triển khai trên diện rộng, vốn đầu tư cao.
+ Điều kiện áp dụng: Ở những nơi có điều kiện về kinh tế, kỹ thuật,
nhân lực.
Chú ý: Cần phân biệt giữa tái sinh nhân tạo với trồng rừng. Về mặt
kỹ thuật tái sinh nhân tạo và trồng rừng khác nhau, khác nhau ở chỗ tái sinh
nhân tạo tiến hành trên đất còn mang tính chất đất rừng còn trồng rừng tiến
hành trên đất chưa từng có rừng hoặc có rừng nhưng đã mất đi từ lâu, đất
không còn tính chất đất rừng
(3) - Xúc tiến tái sinh tự nhiên: Là phương thức tái sinh trung gian
giữa tái sinh tự nhiên và tái sinh nhân tạo.
Phương thức này tận dụng năng lực gieo giống của rừng sẵn có
nhưng con người tác động tích cực để tạo hoàn cảnh thuận lợi cho hạt giống
nảy mầm, cây tái sinh sinh trưởng, phát triển tốt. Xúc tiến tái sinh diễn ra
nhanh hơn tái sinh tự nhiên và ít tốn kém hơn tái sinh nhân tạo.
Câu 6: Diễn thế rừng là gì? Các loại diễn thế rừng?
Khái niệm: Diễn thế rừng là sự thay thế hệ sinh thái rừng này bằng hệ sinh
thái rừng khác trong đó tổ thành loài cây cao có sự thay đổi cơ bản.
Ví dụ: Cỏ → Cây bụi → Cây cao ưa sáng → Cây cao chịu bóng.
Rừng → Rừng gỗ + Tre nứa → Cây bụi → Cỏ.
• Nhờ có tái sinh rừng mà rừng có khả năng diễn thế. Chính thế hệ
cây tái sinh sống dưới tán rừng vươn lên đào thải lớp cây già cỗi ở tầng trên,
thay thế rừng bằng loài cây mới. Nếu thế hệ cây tái sinh lớn lên thay thế cây
mẹ ở tầng trên, không thay đổi tổ thành loài cây, thì chỉ là thay thế đời cây
Ví dụ: Diễn thế rừng ngập mặn là ví dụ điển hình cho diễn thế
nguyên sinh. Có thể tóm tắt 4 giai đoạn.
8
+ Giai đoạn tiên phong cây mấm đen: Mấm đen được coi là cây tiên
phong lấn biến nhờ khả năng sinh trưởng nhanh, tái sinh tốt trên lớp phù sa
ngập mặn ven biển ở dạng bùn nhão.
+ Giai đoạn hỗn hợp: Khi bãi lầy được nâng cao dần và bùn chặt lại,
quả của các loài cây khác như trang, đước, vẹt dù phát tán đều và được rễ
cây mấm giữ lại. Gặp điều kiện thuận lợi chúng nảy mầm và phát triển. Do
cây mấm ưu sáng thích bùn mềm nên quần thể cây mấm không còn thích
hợp, sinh trưởng chậm lại. Trong khi đó sú, đước, vẹt, trang phát triển nhanh
đào thải dần cây mấm ra khỏi quần xã.
+ Giai đoạn vẹt dù chiếm ưu thế: Khi bãi lầy đã ổn định và nâng cao
lên, vẹt dù là loài cây có bộ rễ khoẻ cạnh tranh tốt lấn át các loài khác và
vươn lên chiếm ưu thế trong quần thể. Cây sú có khả năng chịu mặn cao hơn
phân bố ở các lạch nước mặn và phát triển thành các đai rừng sú thuần loài.
+ Giai đoạn diễn thế cuối cùng: Giai đoạn này có diễn thế phức tạp
phụ thuộc địa hình. Nơi còn chịu ảnh hưởng của thuỷ triều thì còn ít cây vẹt
sống sót, còn các cây khác chết dần do đất rắn chắc lại. Lúc này các loài cây
như cúc biển, tra, giá, đậu tím xuất hiện tham gia hình thành tập đoàn các
cây gỗ ưu mặn không chịu ảnh hưởng của nước thuỷ triều.
- Diễn thế thứ sinh: Xảy ra trên cơ sở diễn thế nguyên sinh, bắt đầu
từ giai đoạn HST rừng bị tiêu huỷ hết hoặc bị phá hoại do chặt phá đốt lửa,
chăn nuôi Tập quán đốt nương làm rẫy, khai thác tài nguyên rừng là
nguyên nhân chủ yếu dẫn tới quá trình diễn thế thứ sinh của các khu rừng
mưa nhiệt đới
Quá trình diễn thế thứ sinh phụ thuộc vào tính chất, quy mô và phạm
vi tác động của các yếu tố bên ngoài.
Trong tự nhiên, quá trình diễn thế thứ sinh là hướng tới sự phục hồi
lại quần thể nguyên sinh ban đầu. Tuy nhiên do tác động của con người và
bằng sông Hồng, sông Cửu Long và những khu rừng khác dọc ven sông suối
vùng thấp, ven biển bị khai quang lấy đất sản xuất nông nghiệp
- Khai thác quá mức vượt khả năng tăng trưởng của rừng: Tình
trạng khai thác “càn đi, quét lại” nhiều lần trên một diện tích dẫn đến làm
10
rừng trở nên nghèo kiệt. Bên cạnh đó, do kỹ thuật, phương tiện khai thác lạc
hậu và sự lãng phí tài nguyên rừng đã làm tăng cường thoái hóa rừng.
- Chiến tranh: Do ảnh hưởng của bom đạn và các chất độc hóa học
trong chiến tranh. Thời kỳ chống Pháp và Mỹ (khoảng 30 năm tiếp theo),
rừng bị phá hoại do chiến tranh là rất lớn. Chỉ tính riêng ở miền Nam, với 13
triệu tấn bom đạn, 72 triệu lít hoá chất độc, kèm theo sự phá hoại của bon,
mìn, bom napan đã phá huỷ nhiều khu rừng rộng lớn. Các chất độc hoá học
sử dụng trong chiến tranh đã phá huỷ hơn 2 triệu ha rừng và khoảng 700.000
ha rừng ngập mặn, tương ứng với 57% diện tích rừng bị phá hoại do chiến
tranh (Nguyễn Ngọc Sinh, 1984).
- Cháy rừng: Hiện nay, Việt Nam có trên 6 triệu ha rừng dễ cháy
(Phạm Bình Quyền và các cộng sự, 1997), bao gồm rừng thông, rừng tràm,
rừng tre nứa, rừng bạch đàn, rừng khộp ( những loại cây này thường có lá
khô, cây có chứa nhiều tinh dầu) Cùng với diện tích rừng dễ cháy tăng
thêm hàng năm thì tình hình diễn biến thời tiết ngày càng phức tạp và khó
lường ở Việt Nam đang làm nguy cơ tiềm ẩn về cháy rừng ngày càng
nghiêm trọng hơn.
Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ của Cục Kiểm lâm về cháy rừng và
thiệt hại do cháy rừng gây ra trong 42 năm qua (1963 -04/2005) tổng số vụ
cháy rừng là trên 49.600 vụ, diện tích thiệt hại trên 646.900 ha rừng (chủ
yếu là rừng non), trong đó có 274.251 ha rừng trồng và 377.606 ha rừng tự
nhiên. Thiệt hại tính đến hàng trăm tỷ đồng mỗi năm, đó là chưa kể đến
những ảnh hưởng xấu về môi trường sống, cũng như những thiệt hại do lũ
quét, lũ ống và lũ lụt ở vùng hạ lưu, làm giảm tính ĐDSH, phá vỡ cảnh
quan Riêng năm 2002 đã xảy ra 1.098 vụ cháy, năm 2003 xảy ra 642 vụ
7. Được hướng dẫn về kỹ thuật, hỗ trợ về vốn theo chính sách của
Nhà nước để bảo vệ và phát triển rừng và được hưởng lợi ích do các công
trình công cộng bảo vệ, cải tạo rừng mang lại.
8. Được Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp đối với rừng
được giao, được thuê.
Điều 60. Nghĩa vụ chung của chủ rừng
12
1. Bảo toàn vốn rừng và phát triển rừng bền vững; sử dụng rừng đúng
mục đích, đúng ranh giới đã quy định trong quyết định giao, cho thuê rừng
và theo quy chế quản lý rừng.
2. Tổ chức bảo vệ và phát triển rừng theo quy hoạch, kế hoạch, dự án,
phương án đã được phê duyệt.
3. Định kỳ báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền về diễn biến tài
nguyên rừng và các hoạt động liên quan đến khu rừng theo quy định tại
khoản 2 Điều 32 của Luật này.
4. Giao lại rừng khi Nhà nước có quyết định thu hồi rừng hoặc khi hết
thời hạn sử dụng rừng.
5. Thực hiện nghĩa vụ tài chính và các nghĩa vụ khác theo quy định
của pháp luật.
6. Thực hiện quy định của Luật này và các quy định khác của pháp
luật; không làm tổn hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân có liên
quan
Câu 9: Khái niệm về rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và thực
vật, động vật rừng quí hiếm?
Căn cứ vào mục đích sử dụng rừng nước ta chia làm 3 loại:
6.2.1. Rừng sản xuất.
- Khái niệm: Rừng sản xuất là rừng và đất rừng dùng để kinh doanh
sản xuất gỗ và các loại lâm sản khác.
- Rừng sản xuất chia làm 4 loại:
+ Rừng sản xuất gỗ lớn (gỗ có kích thước lớn, D >40cm, dùng trong
+ Bảo tồn các mẫu sinh cảnh rừng khác nhau.
+ Bảo tồn nguồn gen động vật và thực vật rừng.
+ Bảo tồn các khu rừng có giá trị về cảnh quan, về văn hoá, lịch sử
và bảo vệ sức khoẻ.
+ Nghiên cứu khoa học, giáo dục và đào tạo.
- Rừng đặc dụng do ngành lâm nghiệp thống nhất quản lí và được
phân loại, phân cấp quản lí như sau:
(1) - Vườn quốc gia.
14
Vườn quốc gia là khu bảo vệ có giá trị sử dụng toàn diện về các mặt
bảo vệ thiên nhiên, nghiên cứu khoa học, bảo tồn di tích văn hoá, phục vụ
tham quan du lịch. Vườn quốc gia do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn hoặc do Uỷ Ban Nhân dân tỉnh chịu trách nhiệm quản lí và xây dựng.
(2) – Khu bảo tồn thiên nhiên.
Khu bảo tồn thiên nhiên là khu bảo vệ có giá trị khoa học, giữ gìn
nguồn gen động thực vật, có thể phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học
nhưng không mở rộng cho việc phục vụ du lịch hoặc các nhu cầu văn hoá
khác. Các khu rừng bảo tồn thiên nhiên tuỳ theo diện tích, tính chất quan
trọng, có thể do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoặc do Uỷ Ban
Nhân dân tỉnh chịu trách nhiệm quản lí và xây dựng.
(3) – Khu rừng văn hoá, lịch sử và bảo vệ môi trường.
Là khu rừng có các di tích lịch sử, văn hoá và các cảnh quan có giá
trị thẩm mĩ hoặc bảo vệ môi trường, có tác dụng phục vụ tham quan du lịch,
giải trí, nghỉ ngơi. Các khu rừng này do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn thống nhất quản lí và tuỳ theo diện tích, tính chất mà có thể giao cho
các nghành liên quan quản lí xây dựng.
Thực vật rừng, động vật rừng quí hiếm.
Thực vật rừng, động vật rừng quý hiếm bao gồm những loài thực vật,
động vật có giá trị đặc biệt về khoa học, kinh tế và môi trường, có số lượng,
trữ lượng ít hoặc đang có nguy cơ bị tuyệt chủng.
triển rừng. Tăng cường hiệu lực của tổ chức kiểm lâm các cấp. Hoàn thiện
cơ chế chính sách khuyến khích nhân dân và các thành phần kinh tế tham gia
bảo vệ và phát triển rừng.
Câu 11: Nêu khái quát nội dung cơ bản của việc quản lí và bảo vệ rừng?
Nội dung cơ bản của bảo vệ TNR tập trung vào 4 vấn đề chính sau:
6.3.2.1. Chống hoạt động phá hoại của con người đến TNR.
Con người vừa là chủ thể cải tạo tự nhiên nhưng cũng là tác nhân
chủ yếu phá hoại nguồn TNR.
16
Nâng cao đời sống vật chất và văn hóa cho nhân dân ở vùng có rừng
là tiền đề tiên quyết để bảo vệ rừng; thực hiện định canh định cư, hạn chế
phá rừng làm rãy và di dân tự do, phát triển kinh tế xã hội miến núi, chuyển
giao tiến bộ khoa học kĩ thuật đến người dân làm nghề rừng; quy hoạch phát
triển nông lâm nghiệp hợp lí, tăng cường hiệu quả của lực lượng kiểm lâm…
là những biện pháp quan trọng để hạn chế tác động tiêu cực của con người
đến TNR.
6.3.2.2. Phòng chống sâu hại rừng
Ngoài lợi ích của côn trùng như thụ phấn, cung cấp đặc sản như mật
ong, cánh kiến đỏ Nhiều loại côn trùng cũng gây những tác hại không nhỏ
trong đời sống của rừng.
Ví dụ: Những trận dịch sâu róm thông, sâu ăn lá bồ đề
* Một số loại sâu hại chính trong lâm nghiệp.
(1). Sâu hại lá:
Là những loại sâu ăn trực tiếp lá cây, ảnh hưởng nghiêm trọng đến
khả năng quang hợp của cây rừng.
Tác hại: Làm giảm sản lượng và chất lượng hạt giống
Ví dụ: Sâu róm thong, sâu đo ăn lá lim xanh, ong ăn lá mỡ…
(2). Sâu đục thân cành.
Chúng phá hoại phía trong thân cây và cành cây.
Tác hại: Chúng không chỉ làm giảm giá trị của gỗ mà còn làm cho
- Một số phương pháp phòng trừ
Trong lâm nghiệp, có 5 phương pháp phòng trừ cơ bản sau:
+ Phương pháp kĩ thuật lâm sinh:
Phương pháp kỹ thuật lâm sinh là thông qua một loạt những biện
pháp kinh doanh quản lí rừng như: Trồng rừng, cải tạo tu bổ và khai thác
rừng nhằm tạo ra một khu rừng có sức đề kháng cao và hạn chế sự phát
sinh, phát triển của sâu hại đến mức thấp nhất.
+ Phương pháp cơ giới vật lý.
Phương pháp này dùng trực tiếp sức người hay các phương tiện và
các yếu tố vật lí để tiêu diệt sâu hại. Phương pháp gồm các yếu tố như: Dùng
nhân lực để bắt trứng, sâu non và nhộng giết đi, dùng bả độc, dùng đèn để
18
dẫn dụ các loại sâu hướng quang, tười ngập nước trong vườn ươm để tiêu
diệt sâu ở dưới đất
+ Phương pháp hoá học.
Là các biện pháp sử dụng các chất độc hoá học thông thường tiếp
xúc hoặc xâm nhập vào cơ thể côn trùng để làm đảo lộn những hoạt động
sống bình thường và làm cho sâu hại chết.
Chú ý: Một trong những nhược điểm cơ bản của phương pháp này là
có thể gây ô nhiễm môi trường và gây hại với con người.
+ Phương pháp sinh học.
Là các biện pháp lợi dụng các thiên địch của sâu hại và các sản phẩm
hoạt động của các sinh vật vào việc phòng trừ sâu hại.
Ví dụ: Kiến ăn sâu hại rừng, sử dụng nấm bạch cương để tiêu diệt
sâu róm thông, nuôi mèo diệt chuột.
Phương pháp này rất có triển vọng vì không gây ô nhiễm môi trường
và gây độc hại với con người.
+ Phương pháp kiểm dịch thực vật.
Kiểm dịch thực vật là một hệ thống các biện pháp kiểm tra phát hiện
các loại sâu hại cùng với hàng hoá như hạt giống, cây con các lâm sản khác
thân cành, bệnh loét thân cành, bệnh khô lá
(3). Bệnh hại rễ.
Bệnh hại rễ là bệnh truyền nhiễm trong đất. Đây là loại bệnh phổ
biến và có tác hại nghiệm trọng, nhất là ở miền Bắc nước ta. Bệnh này khó
phát hiện, khi phát hiện ra bệnh thì bệnh đã rất nặng Gồm bệnh lở cổ rễ
thông, sa mộc, mỡ, bệnh tơ trắng
(4). Bệnh hại quả hạt
Bệnh hại quả hạt làm ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hạt giống,
làm hạt giống thối mốc, biến chất, giảm tỉ lệ nảy mầm và ảnh hưởng đến quá
trình tái sinh sau này. Phần lớn bệnh hại quả đều bị xâm nhiễm từ hoa hoặc
do cất trữ hạt giống không tốt. Bệnh hại quả chủ yếu như bệnh thối quả sở,
bệnh đốm đen quả trẩu, bệnh mốc
(5). Bệnh mục.
20
Bệnh mục xuất hiện ở cây đứng hay cây gỗ. Bệnh mục xuất hiện
nhiều trong rừng tự nhiên. Nguyên nhân làm gỗ mục là do hoạt động của vi
sinh vật. Nấm là nhân tố cơ bản làm mục gỗ và cây đứng.
* Phòng trừ bệnh hại trong lâm nghiệp.
Có 5 phương pháp phòng trừ.
- Phương pháp kiểm dịch thực vật.
Nhà nước kiểm dịch hàng hoá, sinh vật trước khi nhập qua cửa khẩu.
- Phương pháp kĩ thuật.
Chọn loài cây trồng có khả năng kháng bệnh cao, chặt vệ sinh loại bỏ
những cây bị bệnh hại, thực hiên luân canh, vệ sinh vườn ươm
- Phương pháp vật lí.
Phương pháp này sử dụng nhiệt độ cao, tia cực tím để giết vi khuẩn
gây bệnh.
- Phương pháp hoá học.
Phương pháp này sử dụng các chất hóa học để giết vi khuẩn gây
bệnh.
giảm tốc độ cháy lan. Ở những rừng thường xảy ra cháy ngầm dưới mặt đất
phải đào hệ thống kênh rạch phòng chống cháy rừng.
- Xây dựng tổ chức mạng lưới phòng chống cháy rừng như hệ thống
chòi canh để phát hiện sớm cháy rừng, tổ chức lực lượng phòng chống cháy
rừng.
- Tăng cường trang thiết bị, phương tiện phòng cháy chữa cháy rừng
như thông tin dự báo cháy rừng, chuẩn bị nguồn nước khi xảy ra cháy rừng,
các công cụ chữa cháy như thùng phun nước, ống dẫn nước, bình hóa học
chữa cháy… Đặc biệt, phải chú ý bảo đảm an toàn cho những người tham
gia chữa cháy rừng.
Nhìn chung, muốn phòng và hạn chế thiệt hại do cháy rừng gây ra,
cần phải thực hiện đồng bộ các biện pháp trên, không nên xem nhẹ biện
pháp nào.
Good luck for you!
22