Khối lượng, thành phần
và các tính chất lý hoá
học của máu
1. Khối lượng máu
Để xác định khối lượng máu, có thể
dùng nhiều phương pháp khác
nhau: Tiêm vào tĩnh mạch một
lượng xác định chất màu không độc
và ít khuếch tán như xanh evans, đỏ
congo rồi dùng phương pháp sắc
kế để xác định tỷ lệ của chúng
trong máu.
Cho thở một lượng khí oxyd carbon
(CO) nhất định rồi xác định tỷ lệ
CO trong máu. Dùng phospho đồng
vị tiêm vào tĩnh mạch rồi theo dõi
sự hoà loãng trong máu.
Khi đã biết một trong những nồng
độ nói trên, có thể tính được khối
lượng chung của máu.
Ở người khối lượng máu chiếm 7-
9% hay khoảng 1/13 trọng lượng
cơ thể. Người trưởng thành có
khoảng 4-5 lít máu. Ở nam giới
lượng máu lớn hơn ở nữ giới.
Khi khối lượng máu giảm đột ngột
có thể gây nguy hiểm cho tính
mạng vì làm cho huyết áp giảm
nhanh. Khi 3/4 lượng hồng cầu mất
từ từ vẫn không gây chết, nhưng
nếu mất nhanh 1/3-1/2 tổng lượng
máu, thì cơ thể sẽ chết, nghĩa là
mất nhanh khối lượng máu nguy
hiểm hơn mất từ từ hồng cầu.
2. Thành phần máu
Lấy máu, chống đông rồi cho vào
ống nghiệm và li tâm, ta thấy máu
được phân thành hai phần rõ rệt:
Phần trên trong, màu vàng nhạt
chiếm 55-60% thể tích, đó là huyết
tương. Phần dưới đặc, mầu đỏ
thẫm, chiếm 40-45% thể tích, đó là
các tế bào máu.
Trong các tế bào máu thì số lượng
chủ yếu là hồng cầu, còn bạch cầu
và tiểu cầu chiếm tỷ lệ rất thấp. Tách huyết tương và tế bào máu
bằng phương pháp ly tâm
Hương Thảo