Đề án Kinh tế Thương Mại
Luận văn tốt nghiệp
Đề tài: “Thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của
Việt Nam trong điều kiện thực hiện lộ trình
AFTA-CEPT”
Khoa Thương Mại- Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 1
Đề án Kinh tế Thương Mại
Mục lục
L I M D UỜ Ở Ầ 4
CH NG I ƯƠ 6
NH NG V N C B N VỮ Ấ ĐỀ Ơ Ả Ề 6
KHU V C M U D CH T DO ASEAN (AFTA)Ự Ậ Ị Ự 6
1. Tính t t y u khách quan c a h i nh p kinh t qu c t nói chung v ấ ế ủ ộ ậ ế ố ế à
AFTA nói riêng 6
1.1. C s c a h i nh p kinh t .ơ ở ủ ộ ậ ế 6
1.2. Tác ng c a h i nh p kinh t qu c tê i v i Vi t Nam.độ ủ ộ ậ ế ố đố ớ ệ 7
2. Quá trình hình th nh v phát tri n c a Khu v c m u d ch t do ASEAN à à ể ủ ự ậ ị ự
(AFTA ) 10
2.1. Quá trình hình th nh v phát tri n.à à ể 10
2.2. S ra i v nh ng m c tiêu chính c a AFTA.ự đờ à ữ ụ ủ 12
2.3. Nh ng quy nh chung v AFTA-CEPT .ữ đị ề 13
3. Nh ng c h i v thác th c i v i n n kinh t Vi t Nam khi tham gia ữ ơ ộ à ứ đố ớ ề ế ệ
AFTA 18
3.1. Nh ng c h i thu n l i cho Vi t Nam khi tham gia v o AFTA ữ ơ ộ ậ ợ ệ à
Nh ng n m g n ây u t c a các n c ASEAN ang có xu h ng ữ ă ầ đ đầ ư ủ ướ đ ướ
t ng nhanh. S tham gia c a Vi t Nam v o AFTA s t o ra thu n l i choă ự ủ ệ à ẽ ạ ậ ợ
s phát tri n kinh t ph c v cho s nghi p công nghi p hoá- hi n i ự ể ế ụ ụ ự ệ ệ ệ đạ
hoá t n cđấ ướ 18
3.2. Nh ng khó kh n v thách th c t ra cho Vi t Nam khi tham gia ữ ă à ứ đặ ệ
v o AFTA-CEPT .à 20
CH NG II ƯƠ 22
m t h ng ch bi n.ặ à ế ế 42
2.3. Th c hi n t t công tác o t o cán b v cung c p thông tinự ệ ố đà ạ ộ à ấ 43
3. M t s ki n ngh v i nh n c .ộ ố ế ị ớ à ướ 44
3.1. Ho n thi n h th ng chính sáchà ệ ệ ố 44
3.2. Th ng nh t các tiêu chu n qu c gia c a Vi t Nam, áp ng c ố ấ ẩ ố ủ ệ đ ứ đượ
v h i ho v i các tiêu chu n qu c t .à à à ớ ẩ ố ế 49
K T LU NẾ Ậ 51
TÀI LI U THAM KH OỆ Ả 52
Khoa Thương Mại- Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 3
Đề án Kinh tế Thương Mại
LỜI MỞ DẦU
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hoá-Hiện đại hoá. Toàn
đảng, toàn dân ta đang gia sức xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật, từng bước
nâng cao đời sống của nhân dân.
Trong thời đại ngày nay, mở cửa và hội nhập kinh tế là một yêu cầu tất yếu
của mỗi quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế. Khi tham gia hội nhập, mở
cửa chúng ta sẽ tận dụng được sự hỗ trợ về vốn, kỹ thuật, công nghệ từ bên
ngoài, thúc đẩy quá trình xuất nhập khẩu, nâng cao vị thế của Việt Nam trên thế
giới. Tuy nhiên, hội nhập, mở cửa cũng có nghĩa là chúng ta phải chấp nhận
cạnh tranh theo đòi hỏi của kinh tế thị trường tức là phải tiến hành tự do hoá
thương mại, giảm bớt sự can thiệp của nhà nước để nền kinh tế dần dần được
điều tiết bởi các quy luật của nền kinh tế thị trường.
Hiện nay trên thế giới ngày càng xuất hiện nhiều tổ chức liên kết kinh tế với
những thoả thuận thương mại khu vực như: EU ở Tây Âu, NAFTA ở Bắc Mỹ ra
đời là thách thức không nhỏ đối với đà tăng trưởng của ASEAN.
Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN từ năm 1995 và bắt
đầu thực hiện chương trình hội nhập AFTA từ năm 1996. Với trình độ phát triển
ở mức thấp hơn, lại đang trong quá trình chuyển đổi, nền kinh tế Việt Nam
không thể tránh khỏi những thách thức lớn trong quá trình thực hiện cam kết của
mình với AFTA.Đặc biệt là trong lĩnh vực xuất khẩu nước ta cần phải tận dụng
AFTA nói riêng.
1.1. Cơ sở của hội nhập kinh tế .
Ngày nay, các quốc gia trên hành tinh chúng ta trong quá trình phát triển đã
từng bước tạo lập nên các mối quan hệ song phương và đa phương nhằm từng
bước tham gia vào các liên kết kinh tế quốc tế với những mức độ khác nhau,
nhằm đưa lại lợi ích thiết thực cho mỗi bên. Chính các liên kết kinh tế quốc tế là
sự biểu hiện rõ nét của hai xu hướng khu vực hoá và toàn cầu hoá đang diễn ra
hết sức sôi động và đặc biệt quan trọng trong những năm gần đây.
• Khu vực hoá kinh tế và các hình thức chủ yếu của nó .
Quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới đang diễn ra ở những cấp độ
khác nhau với xu hướng toàn cầu hoá đi đôi với xu hướng khu vực hoá.
Toàn cầu hoá kinh tế là hình thành một thị trường thế giới thống nhất, một
hệ thống tài chính tín dụng toàn cầu, là việc phát triển và mở rộng phân công lao
động quốc tế theo chiều sâu, là sự mở rộng giao lưu kinh tế và khoa học – công
nghệ giữa các nước trên quy mô toàn cầu, là việc giải quyết các vấn đề kinh tế –
xã hội có tính chất toàn cầu như vấn đề dân số, tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ
môi trường sinh thái… Trong khi đó, khu vực hoá kinh tế chỉ diễn ra trong một
không gian địa lý nhất định dưới nhiều hình thức như khu vực mậu dịch tự do,
đồng minh( liên minh ) thuế quan, đồng minh tiền tệ, thị trường chung, đồng
minh kinh tế …nhằm mục đích hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển, từng
bước xoá bỏ những cản trở trong việc di chuyển tư bản, lực lượng lao động,
hàng hoá dịch vụ… tiến tới tự do hoá hoàn toàn những di chuyển nói trên giữa
các nước thành viên trong khu vực.
Ở các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển ( hay còn gọi là các quốc
gia công nghiệp phát triển ) thì xu hướng tham gia vào hội nhập vào nền kinh tế
các nước trong khu vực và bảo hộ mậu dịch ngày càng gia tăng. Việc tham gia
mạnh mẽ và rộng rãi vào các khối liên kết kinh tế trong khu vực, từng bước tiến
Khoa Thương Mại- Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 6
Đề án Kinh tế Thương Mại
tới sự nhất thể hoá cao thông qua các văn bản, hiệp định đã kỹ kết đã đưa lạicho
hiện phổ biến các loại hình công ty cổ phần trong nền kinh tế quốc gia. Qua đó
Khoa Thương Mại- Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 7
Đề án Kinh tế Thương Mại
quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất đã có những thay đổi đáng kể, hình thành nên
sở hữu hỗn hợp. Từ đó, việc đáp ứng yêu cầu về quy mô lớn cho sản xuất kinh
doanh ngày càng thuận lợi hơn. tình hình này đòi hỏi sự tham gia ngày càng lớn
của chính phủ các quốc giacó nền kinh tế phát triển. Bởi lẽ, những nước này là
những nước có thế mạnh về vốn, công nghệ, trình độ quản lý…
Ngày nay, một mặt do sự phát triển cao của lực lượng sản xuất làm cho tính
chất xã hội hoá của nó vượt ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia, lan toả sang các
nước trong khu vực và thế giới. Mặt khác tự do thương mại cũng đang trở thành
xu hướng tất yếu và được xem là một nhân tố quan trọng thúc đẩy buôn bán giao
lưu giữa các quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống của
mọi quốc gia. Vì vậy hầu hết các quốc gia trên thế giới đều điều chỉnh các chính
sách theo hướng mở cửa , giảm và tiến tới dỡ bỏ các rào cản thương mại, tạo
điều kiện cho việc lưu chuyển các nguồn lực và hàng hoá tiêu dùng giữa các
quốc gia.
Có thể nói sự hội nhập của nền kinh tế các nước trong khu vực đang đưa lại
những lợi ích kinh tế khác nhau cho cả người sản xuất và người tiêu dùng trong
các nước thành viên. Đặc biệt là Việt Nam thì mở cửa và hội nhập với các nước
trong khu vực và trên toàn thế giới đang là xu thế tất yếu. Chính sự hội nhập này
đã đem lại cho Việt Nam nhiều lợi ích đáng kể. Cụ thể:
Một là , tạo lập quan hệ mậu dịch mới giữa các nước thành viên, mở rộng
hơn nữa khả năng xuất, nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam với các nước, các
khu vực khác trên thế giới. Cũng trong điều kiện này mà tiềm năng kinh tế của
Việt Nam được khai thác một cách có hiệu quả. Chính việc tạo lập mậu dịch tự
do hội nhập khu vực đã làm tăng thêm phúc lợi thông qua thay thế các ngành,
trước hết là công nghiệp của Việt Nam có chi phí cao bằng những ngành có chi
phí thấp hơn của những quốc gia nhận được sự ưu đãi. Cũng trong điều kiện
này, lợi ích của người tiêu dùng cũng được tăng lên nhờ hàng hoá của các nước
xoá bỏ những hạn chế về Thương Mại như thuế quan, hàng rào phi thuế quan,
trong đó phải kể đến sự điều chỉnh cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, cơ cấu giá và tỷ
giá hối đoái.
- Vấn đề việc làm và giải quyết thất nghiệp.
- Cải cách hệ thống tài khoá, đặc biệt là những trường hợp thuế quan mậu
dịch có tỷ trọng đáng kể trong nguồn thu ngân sách và do đó làm nảy sinh
những kho khăn trong qua trình cân đối ngân sách của chính phủ.
Khoa Thương Mại- Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 9
Đề án Kinh tế Thương Mại
- Cần phải thiết lập khuôn khổ pháp lý chung ( luật chơi chung) đối với
các nước thành viên. Trước hết, cần phải giải quyết một số vấn đề có liên quan
tới các quy định thuế quan, hải quan, chuẩn mực lao động, môi trường sinh thái,
chất lượng sản phẩm…
- Vấn đề giải quyết công bằng, bình đẳng trong xã hội và giữa các nước
trong nội bộ khu vực.
Như vậy, việc hội nhập vào nền kinh tế các nước trong khu vực, hình thành
các dạng liên kết kinh tế quốc tế luôn đưa lại cho Việt Nam những thuận lợi và
những khó khăn, những lợi ích kinh tế khác nhau. Vì vậy, chúng ta cần tính toán
cân nhắc, lựa chọn để đưa ra những quyết định thích hợp trong quá trình hội
nhập nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao.
2. Quá trình hình thành và phát triển của Khu vực mậu dịch tự do
ASEAN (AFTA ).
2.1. Quá trình hình thành và phát triển.
Ngày 28/7/1995 Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 7 của hiệp hội
các nước Đông nam á ASEAN. Sự kiện trọng đại này đánh dấu một thành công
to lớn của chính sách đối ngoại của Đảng cộng sản Việt Nam, đánh đấu một
bước phát triển mới trong quá trình hội nhập của Việt Nam vào cộng đồng quốc
tế và liên kết kinh tế quốc tế.
Với 7 thành viên và với số dân 430 triệu người, diện tích 3,5 triệu km
2
từ 13,3% lên đến 46,6%, Thái Lan từ 29,1% tăng lên 48,3% có thể nói nền
kinh tế của các nước ASEAN có tính hướng ngoại và đang rất cần tìm kiếm thị
trường xuất khẩu . Điều này càng được thúc đẩy nhanh hơn nhờ sự tác động tích
cực của tăng trưởng kinh tế khu vực đối với các chiến lược phi điều chỉnh và
biện pháp tự do hoá thương mại. Chính phủ các nước ASEAN cũng nhận thấy rõ
sự trở ngại của chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch trong chiến lược phát triển và đi đến
đề xuất một khu vực mậu dịch tự do hoá thương mại giữa các nước thành viên
một cách có hiệu quả.
- Về nhân tố bên ngoài , Do sự chuyển đổi sang kinh tế thị trường của nhiều
nước trên thế giới tiêu biểu như: Trung Quốc, các nước Đông Âu, làm cho các
quốc gia ASEAN ngày càng có nhiều đối thủ cạnh tranh hơn trong việc thu hút
đầu tư nước ngoài và cạnh tranh thương mại. Do sự cạnh tranh của nhiều tổ
chức hợp tác của các khu vực như EU, NAFTA. Nói cách khác, sức ép của chủ
nghĩa khu vực cùng sự xuất hiện của các khối EU, NAFTA và nhiều yếu tố làm
giảm đi lợi thế cạnh tranh của các nước ASEAN đòi hỏi các nước ASEAN phải
có sự thống nhất để đi đến những biện pháp thúc đẩy nhanh chóng buôn bán nội
Khoa Thương Mại- Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 11
Đề án Kinh tế Thương Mại
bộ và tự do hoá quan hệ thương mại giữa khu vực với các khối liên minh kinh tế
khác.
2.2. Sự ra đời và những mục tiêu chính của AFTA.
AFTA(ASEAN Free Trade Area) là diễn đàn hợp tác kinh tế quan trọng và
đáng chú ý nhất của ASEAN, được thành lập tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN
lần thứ 4 tại Singapore theo sáng kiến của ThaiLand, Tháng 2 năm 1992. Khu
vực mậu dịch tự do AFTA chỉ gồm có những thành viên của hiệp hội các nước
Đông nam á (ASEAN), 7 thành viên của AFTA là : Singapore, ThaiLand,
Philipine, Malaysia, Indonesia, Brunei, Việt Nam. Khu vực mậu dịch tự do
AFTA lớn hơn khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA ) và liên minh châu
Âu(EU) về số dân và diện tích nhưng thấp hơn về thu nhập bình quân đầu người
từ 10-15 lần.
2/ Thống nhất và công nhận tiêu chuẩn hàng hoá giữa các nước thành viên
3/ Công nhận việc cấp giấy xác nhận xuất xứ hàng hoá của nhau.
4/ Xoá bỏ những qui định hạn chế đối với ngoại thương.
5/ Tiến hành hoạt động tư vấn vĩ mô.
Trong những yếu tố trên CEPT được coi là yếu tố cốt lõi vì thông qua việc
giảm thuế quan, dỡ bỏ dần các hàng rào phi thuế quan người ta sẽ xác lập được
nền thương mại tự do trong nội bộ khối.
Không phải tới thời điển này, nhu cầu liên kết kinh tế trong lĩnh vực thương
mại của ASEAN mới được đặt ra. Trước đó, từ năm 1997, một chương trình
nhằm thúc đẩy mậu dịch giữa các nước thành viên đã được đưa vào thực hiện
với thoả thuận ưu đãi thương mại (Preferentoal Trading Arrangements-PTA).
Khác với PTA, quan hệ thương mại ASEAN theo CEPT trong môi trường các
hàng rào thuế quan và phi thuế quan dần được loại bỏ hoàn toàn.
* Những quy định chung của CEPT.
Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT ) được ký kết giữa
các nước ASEAN năm 1992 là cơ chế chính để thực hiện AFTA. Mục tiêu của
CEPT là giảm mức thuế quan trong Thương Mại nội bộ ASEAN xuống còn 0-
5%, đồng thời loại bỏ tất cả các hạn chế về định lượng và các hàng rào phi thuế
quan.
CEPT áp dụng với sản phẩm chế tạo, kể cả sản phẩm cơ bản và sản phẩm
nông sản. Tuy nhiên, chỉ có những sản phẩm có ít nhất 40% giá trị xuất sứ của
ASEAN (của riêng một nước hoặc nhiều nước ASEAN cộng lại) và phải là các
Khoa Thương Mại- Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 13
Đề án Kinh tế Thương Mại
sản phẩm được đưa vào danh mục được giảm thuế và được hội đồng AFTA xác
nhận
Các sản phẩm được đưa vào chương trình cắt giảm thuế gồm 4 khoản mục :
1- Danh mục các xản phẩm với tiến trình giảm nhanh và giảm thường(IL)
2- Danh mục các sản phẩm tạm thời chưa giảm thuế(TEL)
3- Danh mục hàng nông sản chưa qua chế biến. Nhạy cảm (UAPS)
nước mình để xây dựng lịch trình cắt giảm thuế thích hợp, miễn sao giảm nhanh
thuế quan xuống còn 0-5% trước năm 2003, sớm hơn càng tốt. Hiện nay, Hội
đồng AFTA đã chấp nhận đề xuất đó như một sáng kiến nhằm đáp ứng các yêu
cầu về việc tạo dựng một khu vực tự do hoá thương mại ASEAN trước thời hạn.
Trên cơ sở phân tích cơ cấu các Danh mục, tại Hội đồng AFTA lần thứ 8, các
nước ASEAN đã khuyến nghị việc đẩy nhanh hơn nữa tiến trình thực hiện
AFTA bằng cách mở rộng các mặt hàng chịu thuế có thuế suất từ 0-5% vào năm
2003 và tối đa hoá số các mặt hàng có thuế suất giảm tới 0% vào năm 2003.
Khoa Thương Mại- Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 15
Đề án Kinh tế Thương Mại
Bảng: Triển vọng thực hiện CEPT của 6 nước thành viên cũ trong ASEAN
Mục tiêu đặt ra
Nước thành viên
100% tổng số dòng thuế
cắt giảm có thuế 0-
5%vào năm 2002, với
một số linh hoạt.
60% tổng số dòng thuế
có thuế suất bằng 0%
vào năm 2003
Brunây Đến 2002 sẽ đạt 99,75% 80,8%
Indônêxia Đến 2002 sẽ đạt 99,08% 54,6%
Malaixia Đến 2002 sẽ đạt 91,0% 60,2%
Philippin Đến 2002 sẽ đạt 96,5% 0,07%
Xingapo Đã đạt 100% 100%
Thái Lan Đến 2002 sẽ đạt 94,8% 47,87%
Nguồn : Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á 2/2002.
• Cơ chế trao đổi nhượng bộ của CEPT
Khi vận dụng CEPT, chúng ta không được quên điều kiện bổ sung cho cơ
chế giảm thuế theo CEPT. Đó là các ưu đãi theo CEPT giữa các quốc gia
nào nhỏ hơn.
Các điều kiện trên đưa ra nhằm đảm bảo sự bình đẳng hợp lý về cơ hội tiếp
cận thương mại giữa các nhà sản xuất đang cạnh tranh trong các quốc gia
ASEAN. Chúng cũng góp phần khuyến khích các quốc gia nhanh chóng đưa các
sản phẩm vào Danh mục giảm thuế. Các sản phẩm thuộc Danh mục giảm thuế
theo CEPT và các sản phẩm đủ điều kiện hưởng ưu đãi thuế quan cuả các nước
trên khác sẽ được ghi rõ trong tài liệu hướng dẫn trao đổi nhượng bộ theo CEPT
(CCEM) xuất bản hàng năm của mỗi nước.
Khoa Thương Mại- Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 17
Đề án Kinh tế Thương Mại
3. Những cơ hội và thác thức đối với nền kinh tế Việt Nam khi tham
gia AFTA.
3.1. Những cơ hội thuận lợi cho Việt Nam khi tham gia vào AFTA
Những năm gần đây đầu tư của các nước ASEAN đang có xu hướng tăng
nhanh. Sự tham gia của Việt Nam vào AFTA sẽ tạo ra thuận lợi cho sự phát
triển kinh tế phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước
Cụ thể :
* Tăng cường quan hệ thương mại với các nước
- Việc tham gia vào chương trình này là điều kiên thuận lợi để Việt Nam tăng
nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và thương mại, thúc đẩy nhanh chóng quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Tham gia AFTA cũng là bước đi cơ bản để Việt Nam tham gia vào các tổ
chức kinh tế có quy mô rộng lớn hơn như diễn đàn hợp tác kinh tế Thái Bình
Dương APEC, tổ chức thương mại thế giới WTO. AFTA, APEC, WTO . Nâng
cao vị thế của Việt Nam trong quan hệ quốc tế nhất là trong đàm phán đa
phương.
* Mở rộng thị trường ưu đãi.
- ASEAN là thị trường rộng lớn với khoảng trên 530 triệu dân sẽ là thị trường
tiềm năng cho việc tiêu thụ hàng hoá tại Việt Nam. Hiện nay, khoảng 30% kim
ngạch nhập khẩu là từ các nước thành viên ASEAN. Các mặt hàng được nhà
Tham gia AFTA sẽ tạo sức ép và động lực để các doanh nghiệp Việt
Nam đổi mới cơ cấu tổ chức, cách thức sản xuất, phương pháp quản lý để nâng
cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm tăng sức cạch tranh nền kinh tế từ đó có
cơ hội để phát triển công nghiệp, nông nghiệp, thương mại và dịch vụ tạo nên cơ
cấu kinh tế thích hợp. Trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang
ASEAN hiện nay, tỷ trọng hàng công nghiệp chế biến mới chỉ đạt 18%, nông
sản thực phẩm 48%, nhiên liệu 34%. Trong đó trọng tâm ưu đãi của chương
trình CEPT lại là các mặt hàng công nghiệp chế biến. Việc thực hiện chương
trình CEPT sẽ là cơ hội để Việt Nam chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng
nâng cao tỷ trọng hàng công nghiệp chế biến, giảm dần tỷ trọng các mặt hàng
thô, sơ chế. Đây cũng là cơ hội để Việt Nam tổ chức lại sản xuất theo mô hình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế hướng tới xuất khẩu.
Kết luận
Những thuận lợi và lợi thế so sánh của Việt Nam chủ yếu là những nhân tố
khách quan nhưng những khó khăn chủ yếu là những yếu tố bắt nguồn từ chính
nội lực nền kinh tế. Điều này chứng tỏ rằng, trong quá trình hội nhập khu vực,
Khoa Thương Mại- Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 19
Đề án Kinh tế Thương Mại
nền kinh tế Việt Nam rất dễ bị tổn thương, trở thành thách thức to lớn đòi hỏi
chúng ta phải vượt lên những trì trệ, ách tách của chính mình để tìm ra cách đi
hợp lý để chiến thắng trong cuộc chạy đua và cạnh tranh kinh tế về lâu dài để
các liên kết giữa Việt Nam với các nước thành viên ASEAN được bền chặt hơn
trên cơ sở bình đẳng hai bên cùng có lợi .
3.2. Những khó khăn và thách thức đặt ra cho Việt Nam khi tham gia
vào AFTA-CEPT .
Khu vực hoá và toàn cầu hoá là xu thế tất yếu của quá trình phát triển kinh tế
thế giới. Căn cứ vào trình độ phát triển kinh tế của các mình mà tham gia vào
lĩnh vực khác nhau, nước ta tham gia vào AFTA bên cạnh những thuận lợi còn
gặp không it những khó khăn trở ngại, cụ thể là :
- Tham gia vào AFTA là thừa nhận tự do hoá Thương Mại, tự do hoá lưu
nghĩa là trên thực tế hầu như chúng ta đã hoàn tất việc cắt giảm rồi, số mặt hàng
có miền thuế đến 20% chỉ chiếm tỷ trọng 17÷21%
Tóm lại, nhìn tổng thể vào sự đóng góp vào ngân sách nhà nước thì AFTA sẽ
tạo nên sự hẫng hụt trong ngân sách nhà nước. Việt Nam tham gia AFTA-CEPT
chúng ta cần ý thức rõ những thuận lợi, cơ hội và những khó khăn thách thứcđể
đề ra những quyết sách thích hợp với đường lối đổi mới của đất nước, nâng cao
hiệu quả hội nhập quốc tế và khu vực.
Khoa Thương Mại- Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 21
Đề án Kinh tế Thương Mại
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ
CỦA VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN
LỘ TRÌNH AFTA-CEPT
1. Quá trình thực hiện cam kết của Việt Nam với AFTA-CEPT .
1.1. Các hoạt động chuẩn bị để thực hiện CEPT/ AFTA của Việt Nam.
Hiệp định CEPT được các nước thành viên thoả thuận và ký kết từ năm
1992, song việc thực hiện thực sự chỉ bắt đầu từ tháng 01/01/1994. Như vậy,
các nước ASEAN có khoảng thời gian là 2 năm để chuẩn bị tất cả các vấn đề có
liên quan.Còn đối với Việt Nam, công việc nghiên cứu chuẩn bị cho việc gia
nhập thực hiện Hiệp định CEPT thực sự được bắt đầu từ giữa năm 1995. Thời
gian chuẩn bị như vậy là rất bị động, nhất là nếu liên hệ với thời gian chúng ta
phải bắt đầu từ việc tổ chức các Bộ ngành có liên quan nghiên cứu, xây dựng
các Danh mục hàng hoá. Theo chương trình CEPT để trình lên Ban thư ký
ASEAN vào tháng 12/1995. Tuy nhiên, được sự quan tâm chỉ đạo kịp thời của
Chính phủ, cùng sự phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành có liên quan, chúng ta
đã hoàn thành những nghĩa vụ bước đầu của một thành viên ASEAN tham gia
AFTA.
1.2. Về tổ chức.
Việt Nam là nước tham gia sau, trình độ phát triển còn thấp xa so với các nước
năm 1998, đồng thời chuẩn bị Danh mục thuế năm 1999, xem xét để giảm bớt
một số mặt hàng trong Danh mục loại trừ tạm thời.
- Năm 2000, Bộ Tài chính đã công bố lịch trình cắt giảm thuế quan tổng
thể của Việt Nam để thực hiện CEPT/AFTA cho giai đoạn năm 2001-2006.
1.3. Về lịch trình cắt giảm thuế tổng thể.
Phù hợp với quy định của ASEAN, căn cứ vào tình hình đặc thù của Việt Nam,
Việt Nam nhìn chung không áp dụng tiến trình cắt giảm nhanh. Tuy nhiên đối
với những sản phẩm hiện đang có thuế suất trong khoảng từ 0-5% tức là đã thoả
mãn mục tiêu của CEPT, ta có thể xếp vào loại thực hiện tiến trình cắt giảm
nhanh.
Trong 2 năm 1996-1997, Việt Nam sẽ không thực hiện cắt giảm mà chỉ đưa
các sản phẩm đạt mục tiêu của CEPT ( có thuế suất 5% trở xuống) vào thực hiện
hiệp định. Đối với những sản phẩm có thuế suất cao hơn 5% trong danh mục cắt
Khoa Thương Mại- Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 23
Đề án Kinh tế Thương Mại
giảm thuế quan hướng thực hiện bước cắt giảm đầu tiên thực tế chỉ bắt đầu từ
1998 để đảm bảo cho nguồn thu và hỗ trợ một phần cho sản xuất trong nước.
Trong 2 năm 1996-1997, Việt Nam thực hiện bước 2 của cải cách thuế, trong
đó đối với chính sách thuế áp dụng cho hàng nhập khẩu, Việt Nam sẽ thực hiện
việc phân tích 2 loại thuế là thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế giá trị gia tăng hiện
cũng đánh trên hàng nhập khẩu ra khỏi thuế nhập khẩu hiện nay, trước khi tiến
hành việc cắt giảm thuế nhập khẩu thực sự từ 1998 . Do đó, mức thuế nhập khẩu
phải giảm trên phần thuế nhập khẩu còn lại sẽ là thấp so với mức phải giảm nếu
không có sự phân tích hai loại thuế trên.
Có thể nói Việt Nam thực hiện rất ngiêm túc và rất thậm trọng việc giảm thuế
quan, để tránh ảnh hưởng tới nguồn thu ngân sách và làm giảm được giá hàng
nhập khẩu góp phần cải thiện điều kiện kinh doanh và tiêu dùng trong nước còn
các doanh nghiệp Việt Nam sẽ được hưởng mức thuế ưu đãi khi xuất khẩu hàng
hoá sang các nước ASEAN.
Các Danh mục hàng hoá thực hiện CEPT của Việt Nam được xây dựng tuân