Đề tài: "Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình xuất nhập khẩu của hai mặt hàng trái thanh long và hồ tiêu” - Pdf 16

Báo cáo môn chính sách phát triển nông thôn Nhóm 5 – Lớp PTNT 52
Luận văn
Đề tài: "Phân tích các yếu tố ảnh hưởng
đến tình hình xuất nhập khẩu của hai mặt
hàng trái thanh long và hồ tiêu”
1
Báo cáo môn chính sách phát triển nông thôn Nhóm 5 – Lớp PTNT 52
MỤC LỤC
PHẦN I. MỞ ĐẦU 3
1.1 Tính cấp thiết 3
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.2.1 Mục tiêu chung 4
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 4
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 5
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 5
1.4 Những vấn đề thực tiễn 5
1.4.1 Tình hình sản xuất, xuất khẩu hồ tiêu Việt Nam 5
1.4.2 Tình hình sản xuất, xuất khẩu thanh long Việt Nam 8
PHẦN II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
2.1 Phương pháp thu thập số liệu 10
2.1.1 số liệu thứ cấp 10
2.1.2 số liệu sơ cấp 10
2.2 Phương pháp phân tích 10
2.2.1 Khung phân tích 10
2.2.2 Nguồn số liệu dùng tính toán các chỉ số 12
PHẦN III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 15
3.1 Về mặt hàng hồ tiêu 15
3.1.1 Giá trong nước và giá quốc tế 15
3.1.2 Chi phí nhân tố trong nước, doanh thu, chi phí trung gian, giá trị tăng thêm 16
3.1.3 Tỷ lệ chi phí cá thể PRC 16

giới tăng cường kiểm tra gắt gao các mặt hàng nhập khẩu về chất lượng an toàn
thực phẩm, nhất là hàng nông sản. Mặc dù, nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ
trợ, can thiệp, bảo hộ các mặt hàng xuất khẩu chủ lực nhưng các doanh nghiệp vẫn
khặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng tới người sản xuất trong nước
Trong số các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam chúng ta
cần kể tới Hai đại diện đó là : Hồ tiêu, trái Thanh long, chúng cũng không nằm
ngoài những khó khăn trở ngại của vấn đề xuất khẩu nông sản của nước ta. Giá cả
thì bấp bênh lúc tăng lúc giảm, khả năng cạnh tranh với các nước trên thế giới còn
hạn chế, chịu sự kiểm soát chặt chẽ gắt gao từ các nước nhập khẩu. Mặc dù nhà
nươc đã có nhiều ưu đãi cũng như hỗ trợ cho hai mặt hàng nay, tạo ra sản phẩm
3
Báo cáo môn chính sách phát triển nông thôn Nhóm 5 – Lớp PTNT 52
trái thanh long đạt tiêu chuẩn GAP nhưng khả năng cạnh tranh của hàng này trên
thế giới còn thấp, gây khó khăn cho người sản xuất trong nước
Xuất phát từ những thực tế trên nhóm chúng tôi tiến hành chọn nghiên cứu
đề tài “phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình xuất nhập khẩu của hai
mặt hàng trái thanh long và hồ tiêu”. Nhằm xem xét khả năng cạnh tranh, mức
độ bảo hộ của nhà nước tới hai mặt hàng này cũng như tỷ lệ hòa vốn cá thể của
nước ta và khả năng sử dụng tài nguyên trong nước như thế nào từ đó đưa ra một
số khuyến nghị nhằm nâng cao sức cạnh tranh của thanh long, hồ tiêu nói riêng và
các mặt hàng nông sản xuất khẩu nói chung.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá khả năng cạnh tranh, mức độ bảo hộ của nhà nước tới hai mặt
hàng này cũng như tỷ lệ hòa vốn cá thể của nước ta và khả năng sử dụng tài
nguyên trong nước khi sản xuất, xuất khẩu hai mặt hàng nông sản hồ tiêu và thanh
long
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Xem xét lợi thế so sánh, chi phí cơ hội của nước ta khi xuẩt khẩu thanh
long và hồ tiêu

các quy chuẩn chung về chất lượng, về ATVSTP của hồ tiêu toàn cầu.
Niên vụ 2009-2010, tổng diện tích trồng tiêu tại các tỉnh phía Nam là
48.413 ha, tăng 411,9 ha so với niên vụ 2008 - 2009. Tuy nhiên, các tỉnh trồng tiêu
ở khu vực phía Nam phát triển không theo quy hoạch, diện tích manh mún nhỏ lẻ,
vẫn còn sử dụng giống cũ, năng suất thấp, việc xây dựng thương hiệu còn chậm
5
Báo cáo môn chính sách phát triển nông thôn Nhóm 5 – Lớp PTNT 52
(đến nay chỉ có Gia Lai, Bà Rịa Vũng Tàu xây dựng được thương hiệu); chưa có
sự kết hợp giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ…, chưa quan tâm đổi mới về giống,
do đó độ lây nhiễm sâu bệnh cao, dẫn tới tình trạng chết cục bộ, ảnh hưởng đến
năng suất, sản lượng. Dự báo tình hình sản xuất hồ tiêu trong niên vụ 2009-2010,
các tỉnh khu vực phía Nam sẽ đạt 48.313 ha.
Theo Bộ Công thương , năm nay sản lượng hồ tiêu trong nước ước đạt
90.000 tấn, giảm gần 20% so với năm trước 2009 (110,000 tấn), do nhiều diện tích
tiêu già cỗi đã trên 10 năm khai thác năng suất giảm dần, do ảnh hưởng thời tiết và
sâu bệnh. Đặc biệt tình hình hạn hán ở Tây Nguyên vừa qua đã tác động mạnh đến
chất lượng và sản lượng tiêu. Tại Nam Trung bộ, thời điểm cuối tháng 9, đầu
tháng 11/2009 do liên tục hứng chịu hai cơn bão lớn nên hàng ngàn ha tiêu đã bị
ngập úng và chết, bởi vậy sản lượng tiêu của các tỉnh ở khu vực này sụt giảm đáng
kể trong vụ thu hoạch vào đầu năm 2010.
Từ năm 2001 đến nay, Việt Nam luôn giữ vững được vị trí đứng đầu thế
giới về sản xuất và xuất khẩu hồ tiêu. Sản lượng thu hoạch hồ tiêu của Việt Nam
đã dần đi vào thế ổn định, ít tăng giảm về sản lượng trong những năm gần đây:
năm 2007 đạt 91.000 tấn; năm 2008 đạt 98.500 tấn; năm 2009 đạt 110.000 tấn. Ủy
ban Hồ tiêu Thế giới (IPC) dự báo sản lượng tiêu của Việt Nam sẽ vào khoảng
90.000 tấn trong năm 2010. Tuy nhiên, Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam vẫn lạc quan
đưa ra con số dự báo nguồn cung hạt tiêu của Việt Nam trong năm nay sẽ đạt hơn
100.000 tấn.
Tuy đã khá ổn định về diện tích và sản lượng, nhưng các chuyên gia về hồ
tiêu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vẫn cho rằng, ngành hồ tiêu Việt

với cùng kỳ năm 2009
Cũng theo số liệu từ Tổng cục Hải Quan, xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam
tính đến nửa đầu tháng 8/2010 đạt hơn 87 ngàn tấn với kim ngạch xuất khẩu đạt
286 triệu USD
Khối lượng hồ tiêu xuất khẩu 7 tháng đầu năm 2010
Thời điểm Khối lượng xuất khẩu (tấn)
Tháng 1 7.521
Thang 2 6.283
7
Báo cáo môn chính sách phát triển nông thôn Nhóm 5 – Lớp PTNT 52
Tháng 3 14.228
Tháng 4 16.17
Tháng 5 15.134
Tháng 6 12.046
Tháng 7 12.077
Nguồn: Kết quả dự báo của Trung tâm Tin học và Thống kê
Trong cơ cấu xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam, tiêu đen vẫn là mặt hàng
xuất khẩu chủ lực (chiếm đến 66,1% về kim ngạch và 76,4% về số lượng). Thống
kê của Tổng cục Hải quan cho thấy, kim ngạch xuất khẩu hồ tiêu đen của Việt
Nam năm 2009 đạt gần 227,4 triệu đô la Mỹ với 101.100 tấn. Trong khi đó, kim
ngạch xuất khẩu tiêu trắng tăng lên 98,4 triệu đô la với 31.210 tấn. Các quốc gia
nhập khẩu hồ tiêu lớn của Việt Nam trong năm 2009 vẫn là Mỹ, Đức, Ảrập, Hà
Lan, Ai Cập, Ấn Độ
1.4.2 Tình hình sản xuất, xuất khẩu thanh long Việt Nam
1.4.2.1 Tình hình sản xuất
Trong những năm gần đây, do giá trị kinh tế cao của loại quả này nên diện
tích trồng thanh long tăng lên nhanh chóng. Hiện nay ở nước ta hiện nay trồng chủ
yếu hai loại thanh long là: Ruột trắng vỏ đỏ và ruột đỏ vỏ đỏ. Thanh long ruột
trắng vỏ đỏ: hiện được trồng chủ yếu tại các tỉnh Bình Thuận, Long An, Tiền
Giang. Còn thanh long ruột đỏ vỏ đỏ: có hai loại khác nhau là: Thanh long ruột đỏ

Kim ngạch xuất khẩu thanh long trong tháng 5/09 đạt gần 2 triệu USD, giảm 13%
so với tháng trước và tăng 17% so với cùng kỳ 2008
Về thị trường xuất khẩu Thanh long có 24 thị trường, trong đó tập trung
chủ yếu ở khu vực Đông á và khu vực asian. Trong 5 tháng đầu năm 2009, Trung
Quốc, Thái Lan, Đài Loan, Hồng Kông và Hà Lan là 5 thị trường nhập khẩu
chính. 5 thị trường này chiếm 77,4% tổng kim ngạch xuất khẩu. Về cơ bản Trung
Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu Thanh long nhiều nhất từ Việt Nam. 5 tháng đầu
năm 2009, kim ngạch xuất khẩu Thanh long sang thị trường này đạt hơn 3,8 triệu
USD, tăng 77,3% so với cùng kỳ 2008 (chiếm 30,1% tổng kim ngạch xuất khẩu 5
tháng/09). Tuy nhiên, trong nhóm 5 thị trường xuất khẩu chính chỉ có Trung Quốc
9
Báo cáo môn chính sách phát triển nông thôn Nhóm 5 – Lớp PTNT 52
tăng về kim ngạch so với cùng kỳ, còn lại đều giữ nguyên và giảm, đặc biệt Hồng
Kông và Đài Loan giảm rất mạnh.
PHẦN II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.1.1 số liệu thứ cấp
- Tiến hành thu thập số liệu gần đây nhất từ trang web của Tổng cục thống
kê, của cục hải quan, hiệp hối hồ tiêu Việt Nam ( 5 / 9 / 2010 ),
- Một số trang web liên quan khác
2.1.2 số liệu sơ cấp
Tiến hành trao đổi thảo luận với bạn bè, thầy cô giáo, và một số người có
hiểu biết về vẫn đề liên quan
2.2 Phương pháp phân tích
2.2.1 Khung phân tích
Sử dụng hệ thống các chỉ số: Giá trong nước P
d
, giá thế giới P
W
, chi phí cơ

Là tỷ lệ chi phí tài nguyên trong nước với giá trị tăng thêm tính theo giá xã
hội.
Căn cứ vào chỉ số này để đánh giá xem lợi thế so sánh hay khả năng cạnh
tranh của một quốc gia về một sản phẩm nào đó. DRC càng nhỏ tức là 1 đồng giá
trị tăng thêm được tạo ra bởi 1 lượng chi phí nội địa càng ít, thì nước đó càng có
lợi thế cạnh tranh.
DRC =
VA
tequoc
nuoctrongnguyêntàiphíchi
.

DRC = 1 thể hiện tình trạng hiệu quả kinh tế hoàn toàn hòa vốn của quốc
gia
DRC > 1 quốc gia đó sản xuất bị thua lỗ (không có lợi thế so sánh)
DRC < 1 quốc gia đó sản xuất có lãi (tồn tại lợi thế so sánh) trong ngành
hoạt động đó.
*) Hệ số bảo hộ danh nghĩa (NPR)
Là tỷ giá giữa giá sản phẩm hàng hóa theo giá trong nước và giá sản phẩm
hàng hóa theo giá thế giới. Bao gồm hệ số bảo hộ danh nghĩa đầu vào và hệ số bảo
hộ danh nghĩa đầu ra.
11
Báo cáo môn chính sách phát triển nông thôn Nhóm 5 – Lớp PTNT 52
NPR phản ánh mức độ bảo hộ của chính phủ tới 1 loại sản phẩm hàng hóa,
nó đo lường lợi ích mà người sản xuất thu được từ các chính sách của chính phủ.
NPR =
P
P
w
d

đã tác động tiêu cực tới động lực sản xuất.
2.2.2 Nguồn số liệu dùng tính toán các chỉ số
*) Giá trong nước và giá thế giới
- Đối với hồ tiêu
Giá trong nước của hồ tiêu: 45000 đ/kg
Giá thế giới của hồ tiêu: 60000 đ/kg
- Đối với thanh long
Giá thế giới: 88.000 đ/kg
Giá trong nước:15.000 đ/kg
*) Các bảng chi phí đối với sản xuất hồ tiêu
12
Báo cáo môn chính sách phát triển nông thôn Nhóm 5 – Lớp PTNT 52
- Bảng chi phí 2 năm kiến thiết ban đầu tính cho 1 ha hồ tiêu
( ĐVT: triệu đồng)
- Bảng chi phí trồng tiêu 1 năm được thu hoạch tính cho 1 ha hồ tiêu
(ĐVT: triệu đồng)
STT Hạng mục Giá trong nước Giá quốc tế
1
Phân hữu cơ
6.4 6.78
2
Vôi
0.062 0.595
3
Phân tổng hợp NPK
24 23.52
4
Thuốc BVTV
3.7 3.18
5

Báo cáo môn chính sách phát triển nông thôn Nhóm 5 – Lớp PTNT 52
(ĐVT: triệu đồng)
STT Hạng mục ĐVT Lượng Đơn giá (Đồng) Tổng chi phí( trđ)
Trong
nước
TG Trong
nước
TG
1 Trụ bê tổng Cái 950 70.000 85.000 66,5 80,75
2 Công lao động Công 85 90.000 120.000 7,65 10,2
3
Các vật tư:
- Giống
- Phân bón
Đạm
Lân
Kali
Hữu cơ vi sinh
hom
Tạ
Tạ
Tạ
Tạ
Tạ
2850
0,3
0,37
0,2
10
10.000

3.1.1 Giá trong nước và giá quốc tế
Căn cứ vào tinh hình giá cả trong nước và thế giới như trên cũng như tình
hình thị trường nguồn cung của thế giới đang thiếu hụt. Từ đó có thể nhận xét
nước ta tăng cường xuất khẩu hồ tiêu ra thế giới để tăng thu nhập, tăng nguồn
ST
T
Hạng mục ĐVT

ợng
Đơn giá Tổng chi (trđ)
Trong
nước
TG
Trong
nước
TG
1 Trả lãi tiền vay đ/năm/ha 1,2 2,1
2 Thê đất đ/năm/ha
7.500.000
5.500.00
0
7,5 5,5
3 Phân bón:
Đạm
Lân
Kali
Hữu cơ vi sinh
Tạ
Tạ
Tạ

7 8,2
6 Chi phí khác 2,3 2,9
15
Báo cáo môn chính sách phát triển nông thôn Nhóm 5 – Lớp PTNT 52
ngoại tệ. Chi phí để sản xuất ra 1kg hồ tiêu trong nước mất 45000 đ trong khi đó
trên thế giới là 60000 đ, nó phản ánh nước ta có lợi thế so sánh khi sản xuất mặt
hàng hồ tiêu.
* Nguyên nhân gây ra sự chênh lệch giữa giá quốc tế và giá thế giới
- Do nguồn lực, điều kiện sản xuất ra các sản phẩm ở mỗi nước khác nhau
- Do chính sách thuế khóa, chính sách kinh tế của mỗi chính phủ khác nhau
- Giá thế giới ngoài giá trị thực của hàng hóa còn có phí vạn chuyển, phí
bến bãi, phí bốc dỡ hàng hóa
- Mất cung cầu giữa các nước trên thế giới
3.1.2 Chi phí nhân tố trong nước, doanh thu, chi phí trung gian, giá trị
tăng thêm.
*) Tính theo giá trong nước ( tính cho 1 ha trồng hồ tiêu)
- Chi phí nhân tố trong nước = 66.599.622 đ
- Doanh thu = sản lượng * giá = 8000*45.000=360.000.000 đ
- Chi phí trung gian = 264.612.400 đ
- Giá trị tăng thêm VA= doanh thu – chi phí trung gian = 95.387.600 đ
*) Tính theo giá quốc tế ( tính cho 1 ha trồng hồ tiêu)
- Doanh thu = sản lượng * giá = 8000*60.000= 480.000.000 đ
- Chi phí trung gian = 331.577.500 đ
- Giá trị tăng thêm VA= doanh thu – chi phí trung gian = 148.422.500 đ
3.1.3 Tỷ lệ chi phí cá thể PRC
PRC =
95.387.600
66.599.622
= 0.698204
PRC < 1 => người sản xuất sản phẩm hồ tiêu có lãi, người sản xuất nên tiếp

• Do trái thanh long Việt Nam thường bị nhiễm bệnh ruồi đục quả, trái bị bệnh
thán
thư, và bệnh thồi đầu trái nên giá rẻ và người tiêu dùng thường quay lưng.
Thời tiết diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng đến chất lượng hoa quả. Khi thu
hoạch nhiều loại quả bị sâu bệnh nên năng suất đã giảm đáng kể. Người tiêu dùng
17
Báo cáo môn chính sách phát triển nông thôn Nhóm 5 – Lớp PTNT 52
thường trả giá thấp vì trên quả thanh long có các vết đen sần sùi của bệnh thán thư
trên quả.
• Công tác vận chuyển còn chưa được chú ý.
Chính điều này đã làm chất lượng quả thanh long bị giảm rút. trong viếc
thu hái, bốc dỡ thì nông dân và người thu mua chưa chú ý đến việc sắp xếp hoa
quả nên các quả thanh long đã chín hơn thường bị bầm dập gây thối hỏng.Vì
thế mức độ cạnh tranh mặt hàng thanh long giảm so với thị trường thế giới.
• Việc phát triển thanh long tràn lan không tuân theo sự chỉ đạo và phát triển của
tỉnh nên chế độ vận chuyển, và bảo quản ,sản xuất chuyên nghiệp, xúa tiến thương
mại cho sản phẩm thanh long gặp nhiều khó khăn. Nhất là chưa có giải pháp đồng
bộ sản xuất thanh long sạch.
Ở Việt Nam việc trồng thanh long tại các vùng phân bố rải rác, chưa có sự
tập trung thành từng vùng nên đã gây ra nhiều khó khăn cho công tác thu hoạch và
vận chuyển hoa quả khi thu mua. Thời gian vận chuyển lâu nên đã làm giảm chất
lượng của thanh long khi bán trên thị trường chợ búa, các khu siêu thị.
• Cơ sở thu mua và xuất khẩu còn hạn chế, chưa có sự liên kết.
Hộ nông dân chưa thực sự phối hợp đồng bộ với doanh nghiệp nên quá
trình tiêu thụ không thuận lợi , thường bị ép giá.
Theo một doanh nghiệp chuyên xuất khẩu thanh long, sở dĩ có tình trạng
trên là do bị ép giá.
Tháng vừa rồi, lý do thời tiết xấu, không vận chuyển được nên ngưng
mua thanh long, khiến đoàn xe chở thanh long từ Việt Nam dồn ứ dài ngày tại cửa
khẩu Tân Thanh, Lạng Sơn. Lúc này, nhiều doanh nghiệp không chịu nổi chi phí

• Ngoài các nguyên nhân trên, việc chênh lệch giá này còn do khi mặt hàng
quả thanh long của Việt Nam xuất khẩu sang các nước bị đánh thuế nhập khẩu.
Điều đó làm tăng thêm chi phí cho 1 kg thanh long khi vận chuyển vào thị trường
nhập khẩu, từ đó làm cho giá trong thị trường quốc tế cao hơn giá trong thị trường
Việt Nam.
• Một nguyên nhân nữa là trái thanh long khi xuất khẩu đều là những sản phẩm
đã qua thẩm định kỹ càng, đồng thời là những sản phẩm được sản xuất theo những
19
Báo cáo môn chính sách phát triển nông thôn Nhóm 5 – Lớp PTNT 52
quy trình an toàn nên chất lượng quả khi xuất khẩu sẽ cao hơn rất nhiều so với
nhưng sản phẩm tại thị trường trong nước vì vậy tạo nên sự chênh lệch giá bán tại
2 thị trường này.
3.1.2 Chi phí nhân tố trong nước, doanh thu, chi phí trung gian, giá trị
tăng thêm.
Tính các chỉ số, giá thế giới, giá trong nước và chi phí cơ hội
- Giá thế giới: 88.000 đ/kg
- Giá trong nước:15.000 đ/kg
- Chi phí nhân tố trong nước = 152.927.000đ
*) Tính theo giá trong nước
- Doanh thu/1ha thanh long = sản lượng * giá = 25.000*15.000=
375.000.000đ
- Chi phí trung gian = 138.927.000đ
- Giá trị tăng thêm VA= doanh thu – chi phí trung gian = 236.073.000 đ
*) Tính theo giá quốc tế
- Doanh thu/1ha = sản lượng * giá =25.000*88.000=2.200.000.000 đ
- Chi phí trung gian = 178.627.000 đ
- Giá trị tăng thêm VA= doanh thu – chi phí trung gian = 2.021.373.000 đ
3.2.2 Tỷ lệ chi phí cá thể PRC
PRC =
000.073.236

việc làm rất cần thiết.
Thông qua tìm hiểu giá trong nước, giá quốc tế của hai mặt hàng này và
tính toán các chỉ tiêu cần thiết như tỷ lệ chi phí cá thể PRC, Tỷ lệ chi phí tài
nguyên trong nước DRC, Tỷ lệ bảo hộ danh nghĩa NPR, Tỷ lệ bảo hộ hữu hiệu
EPR chúng tôi nhận thấy:
Về khả năng cạnh tranh, lợi thế so sánh của hai mặt hàng này: hai mặt hàng
hồ tiêu và thanh long có lợi thế so sánh và người sản xuất mặt hàng hồ tiêu và
21
Báo cáo môn chính sách phát triển nông thôn Nhóm 5 – Lớp PTNT 52
thanh long đều có lãi, cũng như nước ta có lãi trong hoạt động xuất khẩu hồ tiêu
và thanh long.
Về sự bảo hộ của Nhà nước, thông qua các chỉ tiêu tỷ lệ bảo hộ danh nghĩa,
tỷ lệ bảo hộ hữu hiệu ta nhận thấy, các chính sách của nhà nước không bảo hộ cho
hoạt động xuất khẩu hai mặt hàng hồ tiêu và thanh long.
Tuy nhiên trên thực tế hiện nay, việc sản xuất hai mặt hàng này chưa thực
sự xứng với tiềm năng về tự nhiên, con người cũng như kỹ thuật của nước ta. Mặt
hàng hồ tiêu và thanh long chưa thực sự có chất lượng cao, chưa đạt được các tiêu
chuẩn an toàn của nước ngoài. Vì thế có nhiều khi nước ta xuất khẩu ra nước
ngoài thì bị trả lại. Điều đó gây ra những thiệt hại rất lớn cho người sản xuất hồ
tiêu và thanh long nói riêng và cho nền kinh tế nước nhà nói chung. Vì vậy, cả
người sản xuất và Nhà nước đều phải có biện pháp, chính sách để nâng cao năng
suất và đặc biệt là chất lượng hai mặt hàng hồ tiêu và thanh long để hai mặt hàng
này xứng với tiềm năng của nước nhà.

22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status