PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Bưởi Thanh Trà là loại quả đặc sản quý, vừa có giá trị dinh dưỡng cao
vừa có tính thích nghi rộng nên nhìn chung, bưởi là cây dễ trồng, dễ chăm
sóc và giá trị kinh tế cao, nhất là các giống bưởi địa phương .
Thừa Thiên Huế là một tỉnh nằm trên dải đất hẹp của miền Trung, có vị
trí địa lý khá đặc biệt, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và Tây Nam,
điều kiện địa hình thổ nhưỡng rất đa dạng; khí hậu giao thoa giữa hai miền
Nam - Bắc nên có thể trồng được rất nhiều loại cây ăn quả từ á nhiệt đới cho
đến nhiệt đới. Hiện nay, diện tích vườn trồng cây ăn quả ở Thừa Thiên Huế
khoảng12.000 ha, chủ yếu tập trung trong vườn nhà trên đất phù sa dọc theo
các con sông như: sông Hương, sông Bồ, sông Ô Lâu… [1] đến năm 2015,
diện tích trồng cây ăn quả ở Thừa hiên Huế có khả năng lên đến 16.000 ha
trong đó nổi bật hơn cả là Bưởi Thanh trà Sản phẩm từ Bưởi Thanh trà còn
được sử dụng trong công nghiệp thực phẩm, trong y dược và một số công
dụng khác như chế biến mỹ phẩm
Thủy Biều là một trong năm phường ngoại thành phía Tây Nam thành
phố Huế nằm sát dòng sông Hương .Điều kiện tự nhiên của phường Thủy
Biều thuận lợi nên hằng năm phường được bồi đắp hàng nghìn khối đất phù
sa giàu chất dinh dưỡng nên đất ở đây rất tốt cho việc trồng các loại cây ăn
quả đặc biệt là cây Bưởi Thanh Trà. Do lượng phù sa sông Hương bồi đắp
hàng năm nên Bưởi Thanh Trà ở đây có hương vị ngon ngọt và được đưa vào
các món ăn ẩm thực của Huế. Cây Bưởi Thanh Trà cũng là nguồn đem lại thu
nhập chính cho người dân phường Thủy Biều ,đồng thời nó góp phần xóa đói
giảm nghèo cho người dân.
Tuy nhiên, giá trị kinh tế của Bưởi Thanh Trà chưa đạt được như giá trị
của nó ,có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến giá trị kinh tế của Bưởi Thanh Trà như
việc áp dụng quy trình kỹ thuật canh tác vào thực tiễn sản xuất của người nông
dân còn nhiều hạn chế nên đã dẫn đến sự suy thoái nghiêm trọng của nhiều
vườn Bưởi sThanh Trà, đặc biệt là những vườn cây nhiều tuổi . Những tồn tại
Cây ăn quả đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho con người như góp phần
cải thiện cuộc sống cụ thể trong các bữa ăn hàng ngày, đem lại sự cân bằng
sinh thái cho môi trường và tạo nên cảnh quan đẹp cho nông thôn. Bên cạnh
đó, nó còn đem lại nguồn thu nhập cao cho người nông dân.
- Giá trị dinh dưỡng: được coi là một loại thức ăn quý, phần lớn các
loại cây ăn quả có nhiều loại đường dễ tiêu, các axit hữu cơ, protein, lipit,
chất khoáng, các vitamin cần thiết cho cơ thể con người; mặt khác, sự hấp dẫn
bởi mùi vị, màu sắc đặc trưng còn đem lại cho người ăn sự ngon miệng, sự
hưng phấn cao giúp con người có một sức khoẻ cường tráng
- Giá trị công nghiệp: bên cạnh những giá trị về mặt dinh dưỡng, có
một số loài cây ăn quả cũng là cây công nghiệp như dứa, dừa, điều, vải, nho
cam…vừa cho quả để ăn, vừa là nguyên liệu cho công nghiệp chế biến như
chế biến bánh kẹo; cho công nghiệp làm đồ hộp, làm mứt, nước quả, rượu
vang …Có thể nói, công nghiệp chế biến đã góp phần nâng cao giá trị của cây
ăn quả, góp phần đưa sản phẩm của cây ăn quả trở nên đa dạng và phong phú
hơn đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của con người.
- Giá trị về mặt y học: hầu hết cây ăn quả đều là cây thuốc, các bộ phận
khác nhau như rễ, lá, hoa, quả, vỏ quả, thân cây, vỏ thân, hạt…là những vị
thuốc, là nguồn cung cấp dược liệu để bào chế một số vị thuốc chữa bệnh
được sử dụng khá phổ biến trong các loại thuốc đông y.
- Giá trị môi trường: cây ăn quả còn có tác dụng bảo vệ môi trường rất
lớn, góp phần làm cho bầu khí quyển trong lành, giảm tiếng ồn, làm rừng
phòng hộ, làm đẹp cảnh quan…Cây ăn quả cũng thích hợp để phủ xanh đất
trống, đồi núi trọc điển hình như các vùng: vùng Mơ Sơn La, vùng Vải Lục
Ngạn, vùng Mận, Mơ Bắc Hà (Lào Cai), …vừa có ý nghĩa che phủ đất, vừa
mang lại hiệu quả kinh tế cao. Bên cạnh đó, cây ăn quả còn có tác dụng cải
tạo đất, chuyển đất hoang thành đất nông nghiệp . Ngoài ra, cây ăn quả còn
3
góp phần hấp dẫn du khách đến các điểm du lịch đã để lại trong lòng du
khách một dấu ấn khó quên.
cho lao động nông thôn, đồng thời mang lại nguồn thu ngân sách ổn định lâu
dài cho địa phương. .[3]
Thanh trà còn là nguyên liệu của công nghiệp thực phẩm và được chế
biến thành nhiều mặt hàng có giá trị như mứt, nước ép, chè , là những thực
phẩm đang trở thành phổ biến ở nhiều địa phương. Trong công nghiệp chế
biến, người ta còn sử dụng vỏ hoa và hạt Thanh trà để chiết tinh dầu sử dụng
vào việc chế biến các loại nước hoa, dầu gội đầu và các dạng mỹ phẩm Chất
pectin trong vỏ còn có tác dụng chống nhiễm xạ .
Tóm lại, trồng Thanh trà đem lại cho người dân nói riêng và địa
phương nói chung nguồn lợi vô cùng to lớn bởi những ưu điểm mà nó mang
lại. Nghiên cứu để phát triển, nhân rộng cây bưởi Thanh trà là một việc làm
hết sức cần thiết để khai thác hết những tiềm năng của nguồn lợi này.[2]
2.2 Cơ sở thực tiển của đề tài
2.2.1 Tình hình sản xuất bưởi ở Việt Nam và Thừa Thiên Huế
2.2.1.1 Tình hình sản xuất bưởi ở nước ta
Trong thập niên qua, ngành sản xuất cây ăn quả nước ta đã có những
bước phát triển và đạt được những thành tựu đáng kể . Diện tích và sản lượng
trái cây không ngừng tăng lên, năm 2005 cả nước đã có 719,8 ngàn hecta cây
ăn quả, tăng gấp 2,43 lần diện tích năm 1993 , đặc biệt là diện tích bưởi năm
2005 được 24 ngàn ha và cũng được xem là ngành kinh tế mũi nhọn của vùng
trồng đó . Sản lượng bưởi của nước ta đạt gần 135 ngàn tấn .
Giai đoạn 1990-1995, ở nước ta sản lượng sản xuất bưởi tăng nhanh
mặc dù gặp nhiều khó khăn do thời tiết và khí hậu, sâu bệnh phá hoại.
Hiện nay, nước ta có các vùng trồng các loại bưởi chủ yếu là:
+ Vùng đồng bằng sông Cửu Long: Bao gồm các tỉnh Tiền Giang, Bến
Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng và An Giang.
Năm 1993 diện tích bưởi ở đồng bằng sông Cửu Long là 9.000 ha bằng 45%
diện tích bưởi của cả nước và sản lượng đạt 76 ngàn tấn, chiếm 45% sản
lượng bưởi của cả nước. Năng suất bưởi ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long
bình 74 tạ/ha.
2.2.1.2 Tình hình sản xuất bưởi Thanh trà ở Thừa Thiên Huế
Bưởi Thanh Trà là một trong những sản phẩm đặc sản của Thừa Thiên
Huế từ lâu đời, đã trở thành biểu trưng của văn hoá ẩm thực Cố Đô Huế. Theo
số liệu của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Huế, toàn tỉnh
hiện có 601,89 ha được phân bố chủ yếu tại các huyện Hương Trà, Phong
6
Điền, Hương Thủy và thành phố Huế. Cây Bưởi Thanh Trà đã có đóng góp
nhất định trong tổng thu nhập của hộ nông dân tại các vùng trồng bưởi tập
trung của Tỉnh . Trong quy hoạch của tỉnh, diện tích Bưởi Thanh Trà sẽ tiếp
tục được mở rộng diện tích trồng trong những năm tới và tiến tới sẽ ổn định
diện tích trồng ở mức 1.200 ha.
Bảng 2.1. Biến động diện tích trồng bưởi Thanh trà ở một số địa phương
của Thừa Thiên Huế qua 3 năm 2005-2007
Đơn vị tính :ha
Địa bàn
Diện tích So sánh (%)
2005 2006 2007 06/05 07/06
1. Thủy Biều 70,0 80,0 100 114,29 125,00
2. Dương Hòa 10,0 12,0 25,0 120,00 208,33
3. Hương Vân 1,5 55,0 70,0 379,31 127,27
4. Phong Thu 21,0 27,0 28,0 128,57 103,70
5. Hương Hồ 14,0 16,0 26,0 114,29 162,50
6. Hương thọ 7,0 8,0 20,0 114,29 250,00
7. Thủy Bằng 25,0 31,1 33,6 124,40 108,04
(Nguồn: Sở NN&PTNT Thừa Thiên Huế )
Qua số liệu ở bảng 2.1 ta thấy, diện tích trồng cây bưởi Thanh trà ở một
số xã thuộc các huyện của tỉnh Thừa Thiên Huế tăng dần qua các năm.
Trong các địa phương thì Thủy Biều là xã có có diện tích trồng bưởi Thanh
trà lớn nhất với 100 ha năm 2007, tăng 25% so với năm 2005; tiếp đến là các
xã Hương Vân 70 ha năm 2007 tăng 27,27% so với năm 2005; Phong Thu và
5 Phú Lộc 18,0 16,50 34,50
6 Hương Trà 89,45 93,58 183,03
7 TP Huế 74,42 161,57 235,99
Tổng 252,67 349,22 601,89
(Nguồn: Báo cáo của Trung tâm cây ăn quả năm 2010)
Theo số liệu thu thập được thì diện tích trồng bưởi Thanh trà ở Thừa
Thiên Huế năm 2009 là 601,89 ha, trong đó diện tích thu hoạch là 252,67 ha
chiếm 41,98% tổng diện tích, tập trung chủ yếu các vùng ven sông.
Thành phố Huế là địa phương có diện tích trồng Thanh trà lớn nhất với
235,99 ha chiếm 39,21%. Hương Trà là địa phương có diện tích thứ hai sau
Thành phố Huế với 183,03 ha chiếm 30,41%, thấp nhất là huyện Phú Vang
với 2,5 ha chiếm 0,42 % . Trong đó Hương Trà là địa phương có diện tích thu
hoạch lớn nhất so với toàn tỉnh với 89,5 ha chiếm 35,40% và diện tích chưa
thu hoạch là 93,58 ha.
Sở dĩ Hương Trà có diện tích lớn bởi do đây là địa phương có thuận lợi địa
hình qua các sông Bồ, sông Hương, những vùng đất phù sa trù phú thuận lợi
8
cho phát triển trồng Bưởi Thanh trà mà nổi bật nhất là xã Hương Vân. Phú
Vang là địa phương chưa có diện tích thu hoạch và diện tích chưa thu hoạch
là 2,5 ha (0,72%). Thành phố Huế là vùng có diện tích chưa thu hoạch lớn
nhất là 161,57 ha chiếm 46,27% do đây là địa phương có diện tích Thanh trà
vừa mới được trồng là chủ yếu.
Bảng 2.3. Năng suất cây Thanh trà ở Thừa Thiên Huế năm 2010
STT Vùng điều tra
Năng suất cây phân theo nhóm tuổi (quả/cây)
5 -10 tuổi 10 -15 tuổi 15-20 tuổi 20 tuổi trở lên
1 Hương Thủy 101 140 147,5 225
2 Phong Điền 150 212,5 200 137,5
3 Phú Lộc 150 200 140 100
4 Hương Trà 142 210 192 185
Nhìn chung, đây là hướng phát triển tích cực của địa phương trong việc
xác định chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên cơ sở nghiên cứu chặt chẽ nhu cầu
thị trường, áp dụng kỹ thuật thâm canh, bố trí sử dụng đất đai phù hợp, tận
dụng lợi thế của từng vùng, từng loại cây trồng nhằm mục đích thu được giá
trị sản xuất lớn nhất trên một đơn vị diện tích canh tác.
10
PHẦN III
ĐỐI TƯỢNG ,NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu trực tiếp của đề tài là những hộ trồng cây Bưởi
Thanh Trà. Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các hộ trồng Bưởi Thanh Trà tại
phường Thủy Biều-TP Huế-tỉnh Thừa Thiên Huế.
3.2 Nội dung nghiên cứu:
1. Đặc điểm tự nhiên-kinh tế-xã hội của phường Thủy Biều.
2. Thực trạng tình hình sản xuất Bưởi Thanh Trà ở địa bàn nghiên cứu.
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất Bưởi Thanh Trà.
4. Đề xuất một số giải pháp về vấn đề nghiên cứu.
3.3 Phương pháp nghiên cứu.
Nhằm đạt được mục tiêu của đề tài ,trong quá trình nghiên cứu chúng
tôi sử dụng các phương pháp sau:
3.3.1 Các phương pháp nghiên cứu
3.3.1.1 Phương pháp thu thập thông tin
3.3.1.1.1 Thu thập thông tin thứ cấp
Gặp mặt các cán bộ đại diện UBND phường để tìm hiểu và thu thập
thông tin:
Báo cáo tình hình kinh tế xã hội ở địa phương.
Tìm hiểu các hoạt động sản xuất bưởi thanh trà của các hộ
Tìm hiểu những khó khăn , thuận lợi trong quá trình sản xuất bưởi thanh trà
Phương pháp phỏng vấn sâu
Ngoài ra các báo cáo khoa học, các kết quả nghiên cứu của các tác giả đã
Huế ,nằm bên bờ sông Hương , cách trung tâm thành phố Huế khoảng 6 km
về phía Tây Nam .
Phương Thuỷ Biều phía Đông giáp xã Thủy Xuân , phía Tây giáp xã
Hương Hồ , phía Nam giáp xã Thủy Bằng và phía Bắc giáp xã Hương Long.
Phường có 6 khu vực :Khu vực Long Thọ ,khu vực Trường Đá, khu
vực Đông Phước 1 , khu vực Đông Phước 2 , khu vực Trung Thượng , khu
vực Lương Quán.
Bản đồ phường Thuỷ Biều thành phố Huế
4.1.1.2 Điều kiện thời tiết , khí hậu
Phường Thủy Biều chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm gió mùa.
- Nhiệt độ và giờ nắng:Nhiệt độ trung bình /năm 24-25,2
o
C, số ngày
nhiệt độ dưới 15
o
C không nhiều. Tổng nhiệt độ năm 8.700-9.000
o
C, nhiệt độ
tối thấp:9
o
C, cao nhất 41
o
C .Nói chung chế độ nhiệt ở Thủy Biều thuận lợi cho
nhiều loại cây trồng sinh trưởng và phát triển đặc biệt là cây Bưởi Thanh Trà.
13
- Lượng mưa: Thủy Biều có lượng mưa hàng năm biến động từ 2.600-
2.800mm, số ngày mưa trung bình từ 140-150 ngày/năm.Tuy nhiên do chế độ
mưa theo mùa,lượng mưa phân bố không đều giữa các tháng trong năm nên
cũng gây ra bất lợi cho việc phát triển cây Thanh Trà, lượng mưa ảnh hưởng
đến sự ra hoa,đậu quả,chất lượng quả và sự phát triển sâu bệnh hại.
Đông sang Tây. Vùng đồi thấp chiếm 20% diện tích toàn phường và nằm dồn
về phía Đông của phường , còn lại là vùng đồng bằng chiếm phần lớn diện tích.
Phường Thuỷ Biều gồm có các loại đất chính :
+ Đất phù sa được bồi : ước tính khoảng 325 ha ,thành phần cơ giới là
phần lớn đất thịt nhẹ . Riêng phần bãi bồi sát sông Hương ở Lương Quán
khoảng 25 ha có thành phần cơ giới cát pha . Độ dày tầng đất:>100cm và
phân bố dọc theo sông Hương, thuộc các khu vực : Lương Quán , Trung
Thượng , Đông Phước là loại đất màu mỡ, thích hợp cho nhiều loại cây trồng
phát triển , đặc biệt là cây ăn quả trong đó có cây đặc sản Thanh Trà. Vì vậy 3
khu vực này cho tổng sản lượng lớn nhất toàn phường với 4500 tấn chiếm
90% sản lượng của phường .
+ Đất đỏ vàng phát triển trên đất sét : ước tính khoảng 150 ha , thành
phần cơ giới: đất thịt nhẹ và độ dày tầng đất:<30cm . Đất đỏ vàng phân bố
chủ yếu ở hai khu vực: Trường Đá và Long Thọ . Thành phần kết cấu đất
đỏ vàng tại hai khu vực này không phù hợp cho việc trồng Bưởi Thanh Trà
nên tổng sản lượng của cây rất thấp chỉ 500 tấn và chiếm 10% tổng sản
lượng của phường. [5 ]
Phường Thuỷ Biều có địa hình như vậy nên rất thuận lợi cho việc phát
triển cây ăn quả , đặc biệt là cây Bưởi Thanh Trà . Bưởi Thanh Trà là một loại
cây có hiệu quả kinh tế cao đem lại thu nhập ổn định cho người dân.
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
4.1.2.1 Sản xuất nông nghiệp
Qua số liệu thông kê của Hợp tác xã nông nghiệp Thuỷ Biều thì phường
là vùng có tổng diện tích đất tự nhiên là 657.3 ha trong đó đất sản xuất nông
nghiệp là 223.7 ha còn lại đất phi nông nghiệp. Riêng đất sản xuất nông nghiệp
thì diện tích đất trồng cây Bưởi Thanh Trà được 134,9 ha chiếm 54% diện tích
đất nông nghiệp của phường. Năng suất trồng cây Bưởi Thanh Trà của phường
đạt được 5000 tấn/vụ/ năm với số tiền thu được 8,2 tỷ đồng . Vì vậy ta thấy
15
được tầm quan trọng trong việc trồng cây Bưởi Thanh Trà đem lại nguồn thu
Vườn
hỗn hợp
Tổng cộng 134,90 74,62 35,16 25,13
1 Trường Đá 21,11 21,11
2 Long Thọ 4,01 4,01
3 Đông Phước 1 32,11 19,26 12,85
4 Đông Phước 2 15,40 6,87 8,53
5 Trung Thượng 32,84 22,28 10,55
6 Lương Quán 29,44 26,21 3,23
(Nguồn:Số liệu điều tra các hộ trong phường năm 2011)
Từ bảng 4.1 ta thấy vườn trồng Bưởi Thanh Trà tập trung nhiều ở 3 khu
vực Trung Thượng, Đông Phước 1, Lương Quán; nhưng diện tích vườn Bưởi
Thanh Trà thuần thì Lương Quán lại cao nhất.Cây Bưởi Thanh Trà là loại cây
thích hợp với loại đất có tính chua mà trong vùng chỉ có khu vực Lương Quán
là nơi có nguồn đất phù hợp nhất .
Vườn Bưởi Thanh Trà trông xen là vườn có trồng cây Bưởi Thanh Trà
nhưng cây Bưởi Thanh Trà không là cây chủ lực.Tuy nhiên nó vẫn biểu hiện
Bưởi Thanh Trà như cây chỉ thị cho thấy có thể phát triển trên các vườn này
nếu được cải tạo tốt.
Vườn hỗn hợp nhiều loại cây ăn quả và loài cây khác chưa mang lại
hiệu quả kinh tế tập trung tại 2 khu vực Trương Đá và Long Thọ , phần lớn
vườn ở đây nhỏ và cây ăn quả được trồng trên đất kém màu mở, đất đỏ vàng
phát triển trên đá phiến thạch sét, tầng đất mỏng.
4.2.2 Tình hình sâu bệnh và phòng trừ sâu bệnh cho Thanh trà của các
hộ điều tra
Sâu bệnh hại cây trồng luôn là vấn đề quan tâm của nhà nông bởi nó
làm giảm năng suất và chất lượng của cây trồng rất lớn. So với các loài cây ăn
quả trong chi Citrus thì cây bưởi Thanh trà là cây ít bị sâu bệnh hơn, nhưng
một khi đã bị sâu bệnh tấn công thì khó đảm bảo được chất lượng và hiệu quả
17
8 Sâu bướm phượng 13 87
Nguồn: số liệu điều tra các hộ trong phường năm 2011
18
Qua số liệu bảng 4.2 ta thấy khu vườn của các hộ điều tra thì sùng đục
thân là nhiều nhất chiếm đến 100% .Nguyên nhân là do các hộ chưa chú tâm
đến việc diệt sùng đục thân nên làm cho khả năng lây của chúng nhiều
hơn.Nếu có thì chủ yếu sử dụng theo phương pháp thủ công là chính. Kế tiếp
là bệnh chảy nhựa chiếm 94% ,một số hộ cũng biết cách phòng trừ bệnh chảy
nhựa trên cây Thanh trà nhưng tỉ lệ này thấp ,còn các loại sâu bệnh khác thì
cũng không nhiều lắm .Lương Quán là khu vực có nhiều hộ phòng trừ sâu
hơn, điều này cũng dễ hiểu vì đây là vùng trọng điểm Thanh trà .Long Thọ và
Trường Đá hầu như người dân chưa chú ý đến sâu bệnh hại cây thanh trà.
Bảng 4.3. Tình hình phòng sâu bệnh cho cây Bưởi Thanh Trà Thủy Biều
Đơn vị tính (%)
TT
Hạng mục
Khu vực
Thường xuyên
Không
thường xuyên
Không
phòng trừ
1 Trường Đá 0 0 100
2 Long Thọ 0 20 80
3 Đông Phước 1 20 40 40
4 Đông Phước 2 20 60 20
5 Trung Thượng 20 40 40
6 Lương Quán 20 60 20
Bình quân 13.4 36.6 50
Bảng 4.4. Tình hình sử dụng bón phân cho cây Bưởi Thanh Trà ơ Thủy Biều .
Đơn vị tính:%
1 Trường Đá 0 100
2 Long Thọ 0 100
3 Đông Phước 1 80 20
4 Đông Phước 2 80 20
5 Trung Thượng 60 40
6 Lương Quán 80 20
Bình quân 50 50
Nguồn:số liệu điều tra các hộ trong phường năm 2011
Số liệu bảng 4.4 cho thấy:Long Thọ và Trường Đá là 2 vùng ít chú ý
20
đến việc bón phân cho cây Bưởi Thanh Trà ,trong 50% các hộ không bón
phân tại phường Thủy Biều thì Long Thọ và Trường Đá chiếm đến 50% các
hộ không bón phân .Điều này cho ta thấy được 2 khu vực Long Thọ và
Trường Đá không chú trọng đến việc trồng Bưởi Thanh trà .Ở khu vực Đông
Phước 1,Đông Phước 2 và Lương Quan có tỷ lệ nông dân bón phân cho cây
Bưởi Thanh Trà cao nhất.Tính toàn phường ,tỉ lệ nông dân có bón phân là
50% con thấp hơn so với toàn tỉnh 64,79% .
Tuy nhiên, số liệu trên mới biểu hiện sự nhận thức về khâu bón phân
cho cây Thanh trà của nông dân mà thôi ,còn phương pháp bón ,lượng phân
bón như thế nào thì hầu hết nông dân áp dụng không đúng theo qui định.
Nguyên nhân của vấn đề này là do:
- Hạn chế về khả năng vốn đầu tư cho sản xuất nên khi đến thời điểm
bón phân thì chưa có tiền để mua phân, khi có điều kiện thì đã qua thời điểm
thích hợp cho nên tốc độ sinh trưởng của Thanh trà không được đảm bảo.
- Điều kiện về nước tưới không được đảm bảo nên yêu cầu tưới đẫm
gốc sau khi bón phân không được thực hiện tốt, ảnh hưởng tới quá trình hấp
thu chất dinh dưỡng của cây.
* Người dân của các hộ điều tra sử dụng loại phân và khối lượng bón :
Hạng mục
Khu vực
Không tưới Ít tưới
Tưới
thường xuyên
1 Trường Đá 80 20 0
2 Long Thọ 100 0 0
3 Đông Phước 1 0 80 20
4 Đông Phước 2 40 60 0
5 Trung Thượng 20 60 20
6 Lương Quán 20 60 20
Bình quân 43.4 46.7 9.9
Nguồn:số liệu điều tra các hộ trong phường năm 2011
4.2.3.3 Tình hình sử dụng thiết kế vườn và mật độ trồng cây Bưởi Thanh
Trà của phường
a.Thiết kê vườn
Qua bảng 4.5 ,cho thấy toàn phường vườn trồng thanh trà thuần chiếm
tỷ lệ cao 46,7%, cao nhất là khu vực Lương Quán và Trung Thượng còn Long
thọ và Trường Đá thì không có. Vườn Thanh trà trồng xem nhiều loại cây
chiếm 20% ,ở khu vực Đông Phước 2,1 nhiều hơn hết .Vườn tạp lại chiếm
22
33,3% nhưng tỷ lệ này tập trung ở 2 khu vực Trương Đá và Long Thọ .
Nguyên nhân dẫn đến 2 khu vực Long Thọ và Trường Đá chiếm đến
100% là vườn tạp .Do 2 khu vực Long Thọ và Trường Đá không có điều kiện
đất đai được tốt và diện tích trồng thấp ,trồng chủ yếu là làm cảnh nên vườn
tạp là rất lớn.
Bảng 4.6. Tỉ lệ thiết kế vườn
Đơn vị tính(%)
TT
Hạng mục
Qua số liệu bảng 4.7 cho thấy về mật độ trồng thì nông dân khá tùy tiện
,hộ trồng cây thanh trà không theo qui cách nào cả, cao nhất ở Long Thọ và
23
Trường Đá với 100% , điều này chứng tỏ nhân dân 2 khu vực này chưa quan
tâm đến sản xuất cây thanh trà .Nhìn chung mật độ trồng có khuynh hướng rất
dày, nhưng lại không tỉa hình, tạo tán nên cây thường thiếu ánh sáng và mọc
vống lên;đồng thời tạo điều kiện cho sâu bệnh phát sinh phát triển mạnh.
4.2.3.4 Tình hình chăm sóc cây Thanh trà của các hộ điều tra
Một trong những biện pháp kỹ thuật quan trọng để tăng năng suất,
phẩm chất quả, hạn chế sâu bệnh cho cây bưởi Thanh trà đó là cắt, tỉa cành,
tạo tán cho cây. Làm tốt khâu kỹ thuật này sẽ tạo vườn quả được khu vựcg
thoáng, ít sâu bệnh đồng thời tập trung được dinh dưỡng cho các quả.
Đối với các vườn trong thời kỳ kiến thiết cơ bản thì khâu này càng hết
sức quan trọng bởi đây là thời kỳ cây phát triển nhanh, nếu được cắt tỉa hợp lý
thì cây sẽ hình thành bộ tán cân đối ngay từ đầu và làm cơ sở để cây cho năng
suất sau này. Có một thực tế khi trồng, hầu như hộ nào cũng được cán bộ kỹ
thuật tập huấn phổ biến về vấn đề này song hầu hết các vườn mới chỉ tiến
hành cắt bỏ những cành gầy, cành héo và những cành bị sâu bệnh quá nặng.
Còn những cành vụn, cành vô hiệu đáng được cắt tỉa để tập trung chất dinh
dưỡng cho các cành cho quả thì các hộ lại không cắt mà giữ lại để chiết hoặc
để cho cây mẹ có nhiều cành, điều này do tâm lý tiếc rẻ và tận dụng nên họ
không thực hiện theo đúng khuyến cáo của cán bộ kỹ thuật. Thực tế, nếu giữ
lại những cành này chỉ làm tiêu hao thêm dinh dưỡng của cây mẹ mà không
cho quả, còn nếu chiết những cành này để trồng thì cây con sẽ sinh trưởng
kém, lâu cho quả và năng suất thấp do khả năng chống chịu kém.
Tuy nhiên chỉ rất ít các hộ làm vườn nhận thức được điều này nên làm
không thường xuyên hay không làm. Phải nói rằng, để tăng năng suất cây
bưởi Thanh trà trong thời gian tới cần phải đẩy mạnh việc thực hiện tốt biện
pháp kỹ thuật này.
24
thuận tiện cho việc phát triển nhờ sự khu vực thương hàng hoá, vận chuyển và
tiêu thụ sản phẩm hàng hoá được dễ dàng.[5]
25