Luận văn tốt nghiệp
Đề tài : KHÁI QUÁT VỀ XUẤT KHẨU LAO
ĐỘNG VÀ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU LAO
ĐỘNG TẠI VIỆT NAM
3
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG VÀ TÌNH HÌNH
XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG TẠI VIỆT NAM
I – Khái quát về xuất khẩu lao động
Để thuận tiện cho quá trình nghiên cứu, trước hết em xin được đề cập
các khái niệm liên quan đến hoạt động xuất khẩu lao động.
1, Khái niệm :
1.1 Lao động : Là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người
nhằm thay đổi những vật thể tự nhiên, để phù hợp với lợi ích của mình. Lao
động là sự vận động của sức lao động, là quá trình kết hợp giữa sức lao động
và tư liệu sản xuất tạo ra của cải vật chất cho xã hội.
Thành quả do con người tạo ra trong quá trình lao động để nuôi sống
bản thân họ, gia đình họ và đảm bảo sự tồn tại của xã hội. Lao động có năng
suất, chất lượng đem lại hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của
đất nước. Vì vậy lao động có một vị trí vô cùng quan trọng và không thể
thiếu được trong bất kỳ một chế độ xã hội nào, một quốc gia nào. Mỗi con
người đến độ tuổi lao động, có khả năng lao động đều mong muốn và có
quyền được lao động để nuôi sống bản thân, giúp đỡ gia đình và làm giàu
cho xã hội.
1.2 Sức lao động : Là tổng hợp thể lực và trí lực của con người trong
quá trình tạo ra của cải xã hội, phản ánh khả năng lao động của con người, là
điều kiện đầu tiên cần thiết trong quá trình lao động xã hội.
1.3 Nguồn lao động : Là một bộ phận của dân cư bao gồm những
người trong độ tuổi lao động, không kể số người mất khả năng lao động và
những người ngoài độ tuổi lao động (trên hoặc dưới tuổi lao động) nhưng
loại hàng hoá khác xuất phát từ tính đặc thù của loại hàng hoá này. Sức lao
động là một loại hàng hoá đặc biệt vì con người là chủ thể lao động, có tư
duy và khả năng làm chủ bản thân. Cho nên trong hiệp đinh hay hợp đồng
cung ứng lao động, ngoài những điều khoản quy định như đối với các loại
hàng hoá bình thường còn phải có những điều khoản đề cập đến đời sống
chính trị, văn hoá, tinh thần, sinh hoạt của người lao động. Những điều này
5
bị chi phối phong tục, tập quán, tôn giáo, văn hoá của các quốc gia tham gia
vào lĩnh vực này.
Có hai hình thức xuất khẩu lao động là :
- Đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài (LHQ dùng khái
niệm di dân quốc tế) : là hình thức đầu tư lao động sống ra nước ngoài nhằm
thu hút thu nhập quốc dân từ nước ngoài về cho đất nước.
- Xuất khẩu lao động tại chỗ: Theo luật Đầu tư nước ngoài của nước
ta, là hình thức đầu tư lao động sống ở trong nước để thực hiện giá trị sức
lao động cho mình đối với nước ngoài.
Trong nội dung khoá luận này, em chỉ xin đề cập đến hình thức
xuất khẩu lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.
2, Nguyên nhân hình thành và phát triển xuất khẩu lao động
Trong tác phẩm "Phép biện chứng tự nhiên", F. Ăng - ghen viết :
"Con người sống lan rộng ra tất cả những nơi nào có thể được và người là
loại động vật duy nhất làm được điều đó một cách độc lập, tự chủ". Ngay từ
buổi bình minh của loài người đã xuất hiện sự di chuyển của nguồn lao động
đến những miền đất tốt đẹp hơn. Như vậy, sự di cư lao động quốc tế thể hiện
tính tất yếu và tác dụng tiến bộ của lịch sử. Chính sự phân bố không đồng
đều về dân cư, về điều kiện tự nhiên (tài nguyên, khí hậu) và sự bùng nổ dân
số trên thế giới đã hình thành luồng di cư lao động ở những nước kinh tế
chậm phát triển di cư đến những nước có đời sống kinh tế khá hơn, lao động
ở nước nghèo tài nguyên di chuyển đến những nước có điều kiện thiên nhiên
thuận lợi, dân cư ở nước có mật độ cao di chuyển đến những nước có mật độ
những hợp đồng xuất khẩu lao động có giá cao và bù lại họ nhập khẩu lao
động tự những nước có giá cả thấp hơn. Điều này lý giải vì sao có những
nước vừa nhập khẩu lại vừa xuất khẩu lao động như : Cuba, Malaysia,
Bungari
Thứ tư, do có sự chênh lệch về mức thu nhập và mức sống giữa
người lao động trong nước và người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Vì
lý do này mà nhiều người dù không thuộc đội quân thất nghiệp nhưng vẫn
muốn đi xuất khẩu lao động để tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống bản
thân và gia đình.
Thứ năm, do xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế, lực lượng sản
xuất phát triển, nền sản xuất lớn không thể bó hẹp trong phạm vi biên giới
quốc gia mà mở rộng ra nhiều nước, việc sử dụng lao động mang tính quốc
7
tế. Hơn nữa, việc tăng cường xuất khẩu công nghệ, bao thầu công trình quốc
tế sẽ tất yếu kèm theo việc phát triển xuất khẩu lao động
II – Tình hình xuất khẩu lao động tại Việt Nam
1, Sự cần thiết của hoạt động xuất khẩu lao động tại Việt Nam
Cùng với việc giải quyết việc làm trong nước, hoạt động xuất khẩu lao
động có vị trí quan trọng. Nó là hoạt động đặc thù nhằm đạt kết quả tổng
hợp về kinh tế xã hội. Nhà nước ta đã xác định : "Đưa lao động đi làm việc
có thời hạn ở nước ngoài là một hướng giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho
người lao động, tăng nguồn thu ngoại tệ cho ngân sách và góp phần tăng
cường quan hệ hợp tác kinh tế - văn hoá, khoa học kỹ thuật giữa Việt Nam
với các nước sử dụng lao động Việt Nam.
a, Xuất phát từ vấn đề kinh tế.
Các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu thị trường lao động khu vực
và quốc tế đều nhận thấy một điều nổi bật, rõ ràng là: Một số nước công
nghiệp phát triển cao như Nhật Bản, Hàn Quốc, Italia lẫn một số nước mới
phát triển như Thailand, Malaisia, Philipine ngay từ đầu, khi nền kinh tế
còn chưa phát triển đều biết sử dụng một phương tiện đầy hiệu quả, đó là
dùng của cải vật chất và tinh thần của xã hội. Mối quan hệ này được cụ thể
hoá thành quan hệ giữa dân số và phát triển là nội dung quan trọng của chiến
lược kinh tế xã hội.
Với tốc độ tăng dân số ở mức trên dưới 2% như hiện nay tạo nên áp
lực đối với đời sống và việc làm. Hàng năm, Việt Nam phải tạo ra hơn 1
triệu việc làm mới, khoảng gần 8 triệu lao động thiếu việc làm, hàng chục
vạn bộ đội phục viên, lao động dôi dư ở khu vực Nhà nước Trong những
năm qua, nhờ chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế nước
ta đã đạt được những thành tựu đáng kể, trong đó có việc giải quyết việc làm
trong nước; tuy nhiên so với số lượng lao động cần giải quyết việc làm hàng
năm cũng chỉ đạt 35% nhu cầu. Chính vì vậy, đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu
lao động là một trong những giải pháp vô cùng quan trọng, không chỉ trước
mắt mà còn có ý nghĩa chiến lược lâu dài.
Nhu cầu việc làm càng ngày càng lớn mà khả năng giải quyết còn rất
hạn chế trong khi tiềm năng phát triển kinh tế, tạo việc làm lớn song lại chưa
được khai thác và phát huy, chưa gắn được lao động với tiềm năng đất đai và
tài nguyên.
Mâu thuẫn giữa lao động và việc làm càng gay gắt khi đổi mới cơ cấu
kinh tế, tổ chức lại lao động cho phù hợp với cơ cấu mới của nền kinh tế tất
yếu dẫn đến việc đẩy lao động tách khỏi việc làm cho một bộ phận lớn lao
9
động trở nên dư thừa, trước hết ở khu vực Nhà nước, các hợp tác xã tiểu thủ
công nghiệp Trong các năm qua, lao động khu vực Nhà nước dư thừa
khoảng 30%-50%, tương đương 1 triệu người. Mâu thuẫn trong bản thân vấn
đề việc làm vừa là vấn đề kinh tế xã hội cơ bản lâu dài có tính chiến lược, lại
vừa là vấn đề cấp bách trước mắt như đối tượng thanh niên mới lớn, lao
động thôi việc từ khu vực Nhà nước, bộ đội xuất ngũ, gia đình chính sách xã
hội Không giải quyết được vấn đề việc làm thì sẽ nảy sinh các vấn đề xã
hội trầm trọng dẫn đến mất an toàn xã hội, thậm chí mất ổn định chính trị.
Chính từ những mâu thuẫn trên chúng ta thấy việc phát triển xuất
quốc tế.
Thứ năm, Việt Nam đang không ngừng tiến xa hơn trên con đường
hội nhập với thế giới, trong khi thị trường lao động quốc tế cũng không
ngừng tăng trưởng và đa dạng. Đây là cơ hội quan trọng để Việt Nam tham
gia và phát huy lợi thế của mình trong lĩnh vực xuất khẩu lao động.
2. Tình hình xuất khẩu lao động ở Việt Nam
Việt Nam bắt đầu đưa chuyên gia và lao động đi làm việc có thời hạn
ở nước ngoài từ năm 1980. Từ đó đến nay, cùng với sự đổi mới về cơ chế
quản lý kinh tế chung của đất nước, cơ chế xuất khẩu lao động của ta cũng
đã qua nhiều lần thay đổi, phù hợp với tình hình phát triển của đất nước và
quan hệ quốc tế của ta trong từng thời kỳ. Đánh giá chung, có thể nói công
tác xuất khẩu lao động của ta đã đạt được những yêu cầu cơ bản trong mục
tiêu đặt ra và góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước.
Hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam có thể chia thành hai thời
kỳ.
a, Thời kỳ hợp tác lao động quốc tế theo cơ chế bao cấp (1980-1990).
Thời kỳ này, lao động Việt Nam chủ yếu được đưa sang các nước xã
hội chủ nghĩa Đông Âu, gồm : Liên Xô (cũ), Cộng hoà dân chủ Đức (cũ),
Tiệp Khắc (cũ) và Bungari. Một bộ phận công nhân xây dựng với số lượng
đáng kể được đưa đi làm việc ở Irăc, Liby, Angiêri cùng với một số chuyên
gia trong các lĩnh vực y tế, giáo dục và nông nghiệp sang làm việc tại nhưng
nước Châu Phi khác (Ăng - gô - la, Mô - zăm – bich, Công – gô, Y- ê –men,
Madagasca ).
Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, khi đó nước ta là thành viên của
Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) nên hoạt động xuất khẩu lao động mang
tính chất hợp tác lao động, giúp đỡ lẫn nhau : bạn cần lao động để bù đắp sự
thiếu hụt lao động trong phát triển kinh tế đất nước; ta cần bạn giúp đào tạo
và nâng cao tay nghề cho người lao động và giải quyết việc làm cho bộ phận
11
* Đi các nước ngoài XHCN
Chia theo ngành nghề :
* Cơ khí
* Công nghiệp nhẹ
* Hoá chất
* Công nghiệp thực phẩm
* Xây dựng và sản xuất vật liệu XD
* Nông, lâm nghiệp
* Các ngành khác
7.200
280.906
261.605
19.301
71.077
117.432
8.329
3.542
64.247
6.160
10.119
12
( Nguồn : Bản tin Việc làm ngoài nước - Số 6/1999)
Như vậy, hơn 10 năm hợp tác lao động với nước ngoài (1980 -1990)
ta đã thu được những kết quả đáng kể, song cũng còn một số tồn tại do hoàn
cảnh lịch sử lúc bấy giờ, do sự thiếu kinh nghiệm cũng như chưa có nghiệp
vụ chuyên môn và đầy đủ cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động này. Nhưng
chính từ đây chúng ta đã rút ra được những bài học kinh nghiệm vô cùng
quý báu để phát triển hoạt động xuất khẩu lao động cho giai đoạn sau.
b, Thời kỳ xuất khẩu lao động theo cơ chế thị trường (1991 – 6/2003)
Cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, các nước xã hội chủ
nữa, quan hệ đối ngoại trong môi trường quốc tế những năm đầu thập niên
90 (1991 -1993) chưa thuận lợi đối với ta. Trong tình hình đó, chỉ có một số
ít doanh nghiệp là ký hợp đồng đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài với số
lượng nhỏ, khoảng hơn 5000 lao động cho cả 3 năm này.
Những năm sau đó, các doanh nghiệp đã bước đầu có sự chủ động
trong nghiên cứu, tiếp thị và học tập kinh nghiệm từ các nước có truyền
thống xuất khẩu lao động và từng bước hoà nhập thị trường lao động quốc
tế. Cho đến nay, chúng ta đã tiếp cận và thâm nhập được vào thị trường lao
động thuộc trên 40 nước và khu vực trên thế giới như khu vực Đông và
Đông Nam Á, Trung Đông, Bắc Phi; ngoài ra ta đang từng bước mở rộng thị
trường lao động đến một số đảo Nam Thái Bình Dương và khu vực Bắc Mỹ.
Số lượng lao động Việt Nam được đưa đi làm việc ở nước ngoài tăng
nhanh qua các năm kể từ năm 1994, có giảm đáng kể vào năm 1998 do ảnh
hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á nhưng lại đặc biệt
tăng mạnh từ thời điểm năm 1999 trở lại đây. Trong vòng hơn 12 năm qua,
Việt Nam có xấp xỉ 1/4 triệu người đi xuất khẩu lao động. Đặc biệt trong 6
tháng đầu năm 2003 ta đã đưa được 43.000 người đi xuất khẩu lao động, gần
bằng con số 46.122 người của cả năm 2002. Dự kiến trong năm nay ta sẽ
đưa được 5 vạn lao động và chuyên gia ra nước ngoài làm việc.
Bảng 2. Số liệu lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài
(1991 - 06/2003)
Năm Số lượng (người)
1991 1.022
1992 816
1993 3.960
1994 9.230
1995 10.050
1996 12.660
1997 18.470
1998 12.240
làm trong nước, xuất khẩu lao động còn mang lại hiệu quả kinh tế đáng kể
cho đất nước. Lao động đi làm việc ở nước ngoài có thu nhập bằng ngoại tệ
có khả năng chuyển đổi thành ngoại tệ mạnh. Nguồn ngoại tệ này rất cần
thiết để xây dựng đất nước. Mức thu nhập của người lao động làm việc ở
nước ngoài thường cao hơn từ 6 – 10 lần thu nhập của người làm việc trong
nước. Mức thu nhập ròng hàng tháng (kể cả làm thêm giờ, sau khi đã trừ đi
chi phí sinh hoạt ngoài nước) bình quân đầu người khoảng 350USD/người.
Như vậy, với gần 250.000 lao động đã đưa đi, trung bình mỗi hợp đồng làm
việc là là 2 năm thì tổng số tiền được chuyển về cho đất nước ước tính
khoảng 2,8 tỷ USD. Chỉ tính riêng trong năm 2001, tổng số tiền lao động
Việt Nam làm việc ở nước ngoài dưới nhiều hình thức khác nhau gửi về
nước đã đạt 1,3 tỷ USD. Đó là khoản thu lớn góp phần tăng nguồn thu ngoại
15
tệ cho đất nước, phục vụ thiết thực cho công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại
hoá nước nhà.
Tuy nhiên cần nhận thấy hoạt động xuất khẩu lao động của nước ta
cũng còn nhiều bất cập, nhiều tồn tại cần khắc phục. Đầu tiên phải kể đến
công tác quản lý xuất khẩu lao động chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu
thực tế. Chưa tạo được sự phối hợp đồng bộ giữa các doanh nghiệp xuất
khẩu lao động với các cơ quan chức năng trong việc quản lý và chỉ đạo triển
khai thực hiện các hợp đồng lao động. Việc tuyển chọn và làm thủ tục cho
lao động dù đã có sự cải thiện nhiều trong những năm qua nhưng hiện vẫn
còn qua rất nhiều khâu trung gian nên người lao động phải mất nhiều thời
gian và chi phí bất hợp lý. Cá biệt vẫn có tình trạng lừa đảo, thu tiền bất
chính từ người lao động. Thêm vào đó, công tác đào tạo chuẩn bị nguồn lao
động trước khi đi cũng như quản lý lao động tại nước đến chưa được sự
quan tâm đúng mức từ phía doanh nghiệp, lao động trình độ tay nghề, trình
độ ngoại ngữ còn yếu, ý thức chấp hành nội quy và pháp luật nước sở tại rất
kém, dẫn đến tình trạng tỷ lệ lao động phá hợp đồng, bỏ trốn ra ngoài làm
việc hay bị trả về nước do không đạt yêu cầu còn cao. Đây là những vấn đề
xây dựng, dệt may sang Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE) với
số lượng không nhiều (tổng cộng khoảng gần 2000 người). Ngoài ra, một vài
doanh nghiệp khác đã nhận thầu công trình xây dựng ở Kuwait cũng đã đưa
lao động sang đây nhưng do chưa có kinh nghiệm tổ chức thi công và quản
lý lao động ở nước ngoài nên hoạt động chưa có mấy hiệu quả.
Tổng số lao động ta đã đưa sang thị trường Trung Đông từ năm 1991
– 2001 là 2.927 người, nhưng từ đầu năm 2002 đến nay ta không có thêm
lao động nào tại thị trường này.
b, Khu vực thị trường Châu Phi :
Ở Châu Phi có một số quốc gia có nhu cầu nhận lao động nước ngoài.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, ta chủ yếu chỉ đưa lao động sang
Libya. Đây là thị trường tiếp nhận lao động tương đối ổn định của ta. Cho
đến nay, bằng hình thức cung ứng trực tiếp và cung ứng qua nước thứ ba, ta
đã đưa được trên 10.000 lượt lao động sang Libya làm việc trong lĩnh vực
xây dựng. Song do mức lương ở đây không cao (150 -200 USD/tháng), điều
kiện làm việc và sinh hoạt lại hết sức khắc nghiệt nên thị trường gần đây
không tỏ ra hấp dẫn người lao động.
Ngoài ra, tại một số nước Châu Phi khác tuy có tỷ lệ lao động cao
nhưng vẫn có nhu cầu nhận nhiều lao động nước ngoài cho các công trình
17
xây dựng. Các doanh nghiệp ta có khả năng đưa được số lượng lớn lao động
thông qua các công ty quốc tế thắng thầu ở khu vực này.
Bên cạnh đó, ta còn đưa một số chuyên gia nông nghiệp, y tế và giáo
dục sang các nước như Angola, Mozambique nhưng với số lượng không
nhiều và không thường xuyên.
c, Khu vực thị trường trên biển :
Hiện nay, nhu cầu của thị trường thế giới đối với lao động trên biển
còn rất lớn. Trong thời gian qua, ta đã đưa được trên 26 nghìn lượt sĩ quan,
thuyền viên tàu vận tải, thuỷ thủ đánh bắt cá đi làm việc trên biển. Trong đó
hiện có trên 2.000 người đang làm việc trong các đội tàu của Hàn Quốc,
người Việt Nam đi xuất khẩu lao động theo từng khu vực thị trường trong
thời gian qua dưới đây.
Bảng 3. Số người đi xuất khẩu lao động theo từng khu vực thị trường
(1991 – 6/2003)
Khu vực thị trường Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Đông và Đông Nam Á 193.540 78,08
Trên biển 26.563 10,72
Châu Phi 12.695 5,12
Trung Đông 2.927 1,18
Các thị trường khác 12.156 4,9
Tổng số 247.880 100
(Nguồn : Tổng hợp số liệu báo cáo Cục Quản lý lao động với nước ngoài)
Số lao động Việt Nam đã và đang làm việc tại các thị trường thuộc
khu vực này chiếm đến 78,08% trong tổng số 247.880 lao động ta đã đưa đi
làm việc ở nước ngoài trong vòng hơn 10 năm qua; trong khi đó, các khu
vực thị trường khác nhiều nhất cũng chỉ chiếm đến trên dưới 10%. Có thể
thấy rõ đây là khu vực thị trường tập trung lao động đi xuất khẩu số một của
nước ta hiện nay.
Là khu vực thị trường có nhiều lao động Việt Nam sinh sống và làm
việc nhất, đây cũng đồng thời là khu vực cung cấp nguồn kiều hối lớn nhất
của ta. Năm 2002, lao động Việt Nam tại các thị trường này chuyển về nước
khoảng 1,2 tỷ USD, chiếm 80% trong tổng số 1,5 tỷ USD kiều hối mà ta
nhận được trong cả năm.
19
Thứ hai, khu vực thị trường này tiếp nhận lao động của ta với cơ cấu
rất đa dạng, bao gồm cả lao động phổ thông, công nhân kỹ thuật và chuyên
gia trong hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế. Chính khu vực thị trường này
đã giữ vai trò chủ yếu tạo nên tính đa dạng trong lĩnh vực xuất khẩu lao
động của ta.
Trong số lao động Việt Nam đưa sang các nước Đông và Đông Nam
động nước ngoài còn rất lớn của những thị trường mà ta đã đưa lao động
20
sang làm việc. Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Lào và đặc biệt là Malaysia
- thị trường mới mở gần đây đều có nhu câu rất lớn về lao động nước ngoài
mà lượng lao động đã tiếp nhận mới chỉ đáp ứng được một phần. Hơn nữa,
với đà phát triển kinh tế của những nước trên, dự báo nhu cầu này còn tăng
lên nhiều trong thời gian tới.
Ngoài ra, triển vọng còn thể hiện ở một số thị trường tiếp nhận lao
động nước ngoài có tiếng khác trong khu vực Đông và Đông Nam Á như
Singapore hay Bruney. Tuy trước mắt những thị trường này vẫn chưa chính
thức tiếp nhận lao động của ta (trừ một số ít y tá sang Singapore) song chính
phủ ta đang nỗ lực tiến hành nhiều hoạt động tích cực nhằm xúc tiến tiếp cận
tìm cách đưa lao động của ta sang đây.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM SANG
THỊ TRƯỜNG CÁC NƯỚC ĐÔNG VÀ ĐÔNG NAM Á
I – Vài nét về thị trường các nước Đông và Đông Nam Á
1, Thị trường Nhật Bản :
Nhật Bản là một quốc đảo với diện tích 377.682 km2, dân số
127.100.000 người, nền kinh tế đứng thứ ba trên thế giới. Với dân số có tỷ lệ
người già đã quá tuổi lao động chiếm đến 30% dân số và một nền kinh tế
phát triển như vậy, nhu cầu về lao động nước ngoài của Nhật Bản là rất lớn.
Tuy nhiên, Nhật Bản lại được các chuyên gia quốc tế nghiên cứu về xuất
khẩu lao động coi là một nước có chính sách đóng cửa với lao động nước
21
ngoài. Trong Luật kiểm tra về người nhập cư và di tản của Nhật Bản được
phê chuẩn năm 1990 đã quy định không được tuyển dụng lao động người
nước ngoài không nghề vào Nhật Bản, chỉ cho phép tuyển dụng những
chuyên gia có trình độ và những lao động đặc biệt lành nghề từ các quốc gia
khác. Song cũng từ đầu những năm 90, Nhật Bản đã đưa ra chính sách tiếp
nghiệp sinh người nước ngoài hiện đang làm việc tại Nhật Bản, trong đó,
Trung Quốc là nước có số lượng tu nghiệp sinh lớn nhất với 123.117 người,
chiếm đến trên 40% tổng số tu nghiệp sinh nước ngoài tại Nhật Bản.
22
Nhật Bản bắt đầu tiếp nhận tu nghiệp sinh của Việt Nam từ năm 1992,
là một trong những thị trường xuất khẩu lao động sớm nhất của nước ta tại
khu vực Đông và Đông Nam Á. Thị trường Nhật Bản tương đối khó tính, chỉ
tiếp nhận lao động có nghề, lao động phải có trình độ tiếng Nhật cơ sở, đặc
biệt yêu cầu rất cao về tính kỷ luật của lao động; thêm vào đó thủ tục xin
visa nhập cảnh rất phức tạp và tốn nhiều thời gian, chi phí cho các khâu
trung gian, đặt cọc rất cao (từ 8.000 – 10.000 USD). Do vậy, việc đưa tu
nghiệp sinh Việt Nam sang làm việc tại Nhật Bản cần có sự nỗ lực rất cao
cả từ phía người lao động và doanh nghiệp xuất khẩu lao động.
Tuy nhiên, ở thị trường Nhật Bản cũng giống như ở thị trường Hàn
Quốc, phát sinh vấn đề tu nghiệp sinh nước ngoài tự ý bỏ hợp đồng, đi làm
việc tại doanh nghiệp khác có mức lương cao hơn và tu nghiệp sinh các
nước sau khi hết thời hạn làm việc không chịu về nước, trốn ở lại Nhật Bản
làm việc bất hợp pháp. Hiện tượng này tạo nên rất nhiều phức tạp về mặt xã
hội ở Nhật Bản. Tỷ lệ tu nghiệp sinh nước ngoài bỏ hợp đồng và trốn ở lại
làm việc cao là vấn đề đau đầu của cả giới chức Nhật Bản lẫn các nước phái
cử. Áp dụng các biện pháp hữu hiệu để giảm được tỷ lệ này chính là một
trong những vấn đề mấu chốt để nâng cao sức cạnh tranh của lao động nước
ta tại thị trường này.
2, Thị trường Hàn Quốc :
Hàn Quốc nằm ở khu vực Đông Á mà chính xác hơn là ở Đông Bắc
Á, diện tích 99.600 km2, dân số 48.800.000 người. Hàn Quốc là một nước
công nghiệp phát triển với nền công nghệ điện tử cao dựa trên hàm lượng
cao về khoa học và công nghệ. Nền kinh tế Hàn Quốc đạt tỷ lệ tăng trưởng
cao bắt đầu từ thập niên 60 và trong vòng 25 năm kể từ năm 1967 đến 1991,
giá trị GNP của Hàn Quốc đã tăng 7,3 lần.
thời gian học việc là 1 năm. Từ 17/7/2002, Cục phát triển nhân lực Hàn
Quốc (HRDS) quy định : hết năm thứ nhất nếu tu nghiệp sinh qua khoá học
kéo dài 3 ngày tại các trung tâm của HRDS sẽ được gia hạn visa 2 năm,
chuyển qua chế độ lao động (được hưởng lương và bảo hiểm như người lao
động thông thường), nếu làm việc tốt họ còn có thể được gia hạn hợp đồng
thêm 1 năm. Trước đây, sau giai đoan học nghề, tu nghiệp sinh nước ngoài
vẫn phải trải qua kỳ sát hạch để được cấp giấy phép lao động 2 năm. Nhưng
từ năm 2000 – 2002, có đến 23,2% thí sinh tham dự kỳ thi sát hạch này
không đỗ, nhiều người đã trốn khỏi hợp đồng, ở lại bất hợp pháp ở Hàn
Quốc. Chính sách mới đưa ra một mặt để bảo vệ quyền lợi của người lao
động nước ngoài, mặt khác cũng để phần nào ngăn ngừa tình trạng tu nghiệp
sinh trốn bỏ hợp đồng vốn đã quá nghiêm trọng ở Hàn Quốc.
Về thu nhập của tu nghiệp sinh kỹ thuật tại Hàn Quốc, trong thời kỳ
đầu, KFSB quy định mức lương cho tu nghiệp sinh nước ngoài theo từng
quốc tịch (cao nhất là tu nghiệp sinh Trung Quốc, sau đó đến Phillipines,
Việt Nam đứng thứ 3). Nhưng sau này, do nhiều vấn đề phát sinh, chính phủ
Hàn Quốc quy định cho mọi tu nghiệp sinh nước ngoài được hưởng mức
lương tối thiểu của Hàn Quốc. Mức lương tối thiểu này thường xuyên được
điều chỉnh qua từng thời kỳ, hiện nay vào khoảng 480 USD/tháng. Khi
chuyển qua chế độ lao động, lương bình quân của người lao động có thể đạt
24
từ 600 – 700 USD/tháng, trên thực tế người lao động còn có mức thu nhập
cao hơn thế nhiều do có thời gian làm thêm giờ.
Chương trình tu nghiệp sinh kỹ thuật thực hiện từ năm 1993 đến nay
với tổng chỉ tiêu 130.000 người được phân bổ cho các quốc gia phái cử.
Hiện nay có tất cả 15 nước Châu Á tham gia vào chương trình này của Hàn
Quốc, trong đó nước có số lượng tu nghiệp sinh lớn nhất là Trung Quốc với
chỉ tiêu 30.790 người, chiếm 23,7%; thứ hai là Indonesia với chỉ tiêu 22.480
người, chiếm 17,3%; Việt Nam đứng thứ 3 với chỉ tiêu 18.770 người chiếm
14,4%.
Trung và Đài Nam. Đó cũng là những địa phương tiếp nhận lao động nước
ngoài chủ yếu, đa phần lao động nước ngoài tập trung tại 4 thành phố này và
các khu vực phụ cận.
Từ năm 1989, do sức ép của vệc nâng lương trong nước cũng như cần
tiến hành nhiều dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, để giải quyết tình trạng thiếu
nhân lực, chính quyền Đài Loan đã mở cửa cho phép nhận lao động nước
ngoài vào làm việc.
Không giống như Nhật Bản, Hàn Quốc tuyển dụng lao động nước
ngoài theo quy chế tu nghiệp sinh, Đài Loan có chính sách nhận lao động
nước ngoài chính thức (ký hợp đồng lao động chính thức), có hệ thống luật
lệ và quy chế tương đối rõ ràng và chặt chẽ với lao động nước ngoài. Từ đầu
những năm 90, Đài Loan đã nhận lao động từ 4 nước Thái Lan, Philippines,
Malaysia và Indonesia, đến cuối năm 1999 tiếp nhận thêm lao động Việt
Nam. Khởi đầu quy mô lao động nước ngoài bị chính quyền giới hạn khoảng
15.000 người/năm. Những năm gần đây, con số này được nâng lên và dao
động trong khoảng 240.000 đến trên dưới 300.000 người/năm. Theo số liệu
của Uỷ ban lao động Đài Loan (CLA), tính đến cuối tháng 5/2003 số lượng
lao động nước ngoài làm việc tại Đài Loan là 301.780 người, trong đó : Thái
Lan : 110.782 người (chiếm 36.7%); Indonesia : 79.777 người (chiếm
26,44%); Philippines : 71.516 người (chiếm 23,7%); Việt Nam : 36.675
người (chiếm 13,15%), Malaysia : 30 người (chiếm xấp xỉ 1%)
Trong số lao động nước ngoài làm việc tại Đài Loan, có khoảng
140.000 lao động (chiếm 46%) làm nghề giúp việc gia đình, chủ yếu là chăm
sóc người già và trẻ em; 92.035 lao động làm việc trong các doanh nghiệp
sản xuất chế tạo (chiếm 36,8%); 47.803 người làm việc trong các dự án đầu
tư lớn của nước ngoài (chiếm 16%); 573 lao động làm việc trong các dự án
xây dựng của tư nhân (chiếm 0.2%) và 3156 lao động làm thuỷ thủ tàu cá
(chiếm 1%).
Lao động nước ngoài làm việc tại Đài Loan được điều chỉnh bởi một
hệ thống luật pháp tương đối đầy đủ và thống nhất cho mọi nước có lao
quản lý lao động nước ngoài tại Đài Loan. Trên 90% số lao động nước ngoài
làm việc tại Đài Loan đã đi theo kênh này. Phí môi giới do người lao động
phải chịu, mức phí này thường khá cao. Mặc dù chính phủ Đài Loan đã quy
định rõ : " Công ty môi giới không được thu phí môi giới của người lao động
nước ngoài làm việc trong mọi lĩnh vực" nhưng trên thực tế, các công ty môi
giới Đài Loan vẫn thường thu của người lao động từ 56.000 Đài tệ (1750
USD) cho đến 90.000 Đài tệ (2810 USD) cho mỗi hợp đồng, khoản phí môi
giới này - được nguỵ trang dưới nhiều tên gọi khác nhau để "lách luật" -
thậm chí còn cao hơn thế do các công ty cung ứng lao động nước ngoài đã
không ngừng tăng cao chi phí môi giới trả cho các công ty môi giới Đài
Loan nhằm tranh giành các quota lao động. Ngoài chi phí môi giới, người
27