Tuyển tập Báo cáo “Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học” lần thứ 6 Đại học Đà Nẵng - 2008
314
NGHIÊN CỨU VỀ TÌNH HÌNH XUẤT NHẬP KHẨU
CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001-2007
A RESEARCH ON THE IMPORT-EXPORT BUSINESS OF VIETNAM IN THE
STAGE OF 2001-2007
SVTH: PHẠM THẾ VŨ
Lớp 06CNQT01, khoa Quốc tế học, trường Đại học Ngoại ngữ
GVHD: THS. DƢƠNG THỊ HẰNG
Khoa Quốc tế học, trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHĐN
TÓM TẮT
Xuất nhập khẩu là một ngành kinh tế quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của
công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam. Tuy nhiên, những thông tin về hoạt
động xuất nhập khẩu của Việt Nam được công bố vẫn còn rời rạc, thiếu chi tiết, thiếu cập
nhật. Bài báo sẽ cố gắng giải quyết những vấn đề trên bằng cách: khái quát tương đối họat
động xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001 – 2007 một cách cập nhật và đầy đủ nhất.
SUMMARY
Import-export business is an important and determining factor in the success of the
industrialization and modernization of the whole country. However, the information made public
on this field is still desultory, insufficient and out-of-date. The article is in an effort to solve the
above matter by providing an updated and detailed description of the import-export business of
Viet Nam in the stage of 2001 – 2007.
1. Mở đầu
Mục đích của nghiên cứu là: hệ thống hóa các vấn đề chung về xuất nhập khẩu, trình
bày tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001-2007 một cách cập nhật và đầy đủ
nhất có thể.
Phạm vi nghiên cứu là lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng hóa, không đề cập đến lĩnh vực
xuất nhập khẩu dịch vụ. Trong xuất nhập khẩu hàng hóa, nghiên cứu cũng chỉ đi sâu vào phân
Năm 2007, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 109.217 triệu USD, gấp 3,5 lần so với
31.247 triệu USD của năm 2001
2.2.2. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu:
a. Nhóm hàng khoáng sản, nhiên liệu:
Năm 2007 chỉ riêng hai mặt hàng dầu thô và than đá đã chiếm gần 20% tổng kim
ngạch xuất khẩu cả nƣớc. Sản lƣợng xuất khẩu dầu thô và than đá tăng trƣởng không ổn định.
Khối lƣợng xuất khẩu dầu thô chỉ tăng nhẹ trong những năm đầu của giai đoạn 2001-2007 rồi
giảm dần. Sở dĩ có sự sụt giảm này là do các mỏ dầu cũ dần cạn kiệt trong khi công tác thăm
dò và mua lại mỏ dầu mới của các nƣớc khác không đạt nhiều tiến triển.
Để tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng, trong những năm tới kim ngạch xuất
khẩu các mặt hàng này sẽ giảm dần. Trong đề án xuất khẩu 2006-2010, Bộ thƣơng mại đã điều
chỉnh mục tiêu xuất khẩu khoáng sản, nhiên liệu xuống còn 9,6% vào năm 2010, trong đó giá
trị xuất khẩu dầu thô còn 6,1 tỷ USD và than đá còn 325 triệu USD.
b. Nhóm hàng nông lâm thủy sản
Trong vòng 7 năm 2001-2007, giá trị xuất khẩu các mặt hàng này đã tăng lên gần gấp 3
lần. Đây là những mặt hàng chịu nhiều tác động của thị trƣờng thế giới. Trong những năm
2001-2003, do ảnh hƣởng của kinh tế thế giới suy giảm, nhu cầu về nông sản, thủy sản giảm
làm giảm giá hàng loạt mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu tăng
rất chậm trong giai đoạn này. Những năm còn lại của giai đoạn 2001-2007, do tình hình kinh
tế thế giới phục hồi và chi phí sản xuất gia tăng; giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đã tăng
nhanh.
Trong năm 2007, khối lƣợng xuất khẩu các mặt hàng nông sản có phần giảm hoặc tăng
không nhiều. Tuy nhiên, giá trị xuất khẩu lại tăng rất cao so với năm 2006. Nguyên nhân là giá
nông sản thế giới đang trên đà lên giá. Đầu năm 2008, thế giới đối mặt với cuộc khủng hoảng
lƣơng thực khi giá hầu hết các nông sản chính nhƣ: bắp, lúa mì, gạo đều tăng gấp 2-3 lần trong
vòng chƣa đầy hai năm.
*Tóm lại, do đã có quá trình phát triển lâu dài, đã khai thác phần lớn tiềm năng nên hoạt động
xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam những năm qua có xu hƣớng tăng trƣởng chậm
lại về khối lƣợng, nhƣng vẫn gia tăng nhanh về giá trị do giá cả thế giới có xu hƣớng tăng lên.
Việc gia nhập WTO đã đặt ngành xuất khẩu nông, lâm, thủy sản trƣớc những thời cơ
*Tóm lại, vấn đề nan giải đối với các sản phẩm chế biến: dệt may, da giày, sản phẩm gỗ, sản
phẩm nhựa… là nguồn nguyên, phụ liệu phần lớn phải nhập khẩu từ nƣớc ngoài. Do vậy, giá
trị gia tăng của sản phẩm xuất khẩu chƣa cao, các doanh nghiệp chƣa thực sự chủ động trong
việc kí kết các hợp đồng. Nhiều sản phẩm chế biến còn mang tính chất gia công.
2.2.3. Các thị trường xuất nhập khẩu chủ yếu
a. Các thị trường xuất khẩu chủ yếu
Các thị trƣờng xuất khẩu quan trọng của Việt Nam theo thứ tự là: Mỹ, EU, ASEAN,
Nhật Bản, Trung Quốc, Australia. Trong giai đoạn 2001-2007, Kim ngạch xuất khẩu vào tất cả
các thị trƣờng trọng điểm đều tăng trƣởng ấn tƣợng: xuất khẩu vào EU tăng 2,8 lần, vào Nhật
tăng 2,3 lần và vào ASEAN tăng 2,8 lần. Đáng chú ý nhất là việc gia tăng xuất khẩu vào thị
trƣờng Mỹ. Nếu nhƣ năm 2001, giá trị xuất khẩu sang thị trƣờng lớn nhất thế giới này chỉ là
1065,3 triệu USD, thì đến năm 2007, kim ngạch xuất khẩu đạt 10,54 tỷ USD, xấp xỉ 10 lần
năm 2001. Kết quả này có đƣợc là nhờ Hiệp định Thƣơng mại Việt-Mỹ kí kết vào năm 2000
và có hiệu lực vào cuối năm 2001.
Định hƣớng xuất khẩu của Việt Nam là đa dạng hóa thị trƣờng, gia tăng xuất khẩu sang
các nƣớc châu Âu, châu Mỹ và giảm xuất khẩu sang các nƣớc châu Á.
b. Các thị trường nhập khẩu chủ yếu
Các đối tác Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất đều thuộc khu vực Đông Á: Trung Quốc,
Singapore, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Hồng Kông. Năm 2001, Việt
Nam nhập khẩu đến 73,7% hàng hóa từ các nƣớc trên; đến 11 tháng đầu năm 2007, con số này
là 76,3%. Trong chính sách về cơ cấu thị trƣờng nhập khẩu, định hƣớng đƣa ra là giảm tỷ
trọng nhập khẩu từ các nƣớc châu Á xuống còn 55% vào năm 2010. Chiến lƣợc phát triển xuất
Tuyển tập Báo cáo “Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học” lần thứ 6 Đại học Đà Nẵng - 2008
317
nhập khẩu thời kì 2001-2010 còn đề cập tới việc gia tăng nhập khẩu từ các thị trƣờng công
nghệ nguồn nhƣ Mỹ, EU, Nhật Bản lên 40% vào năm 2010. Tuy nhiên, đến thời điểm này có
thể thấy mục tiêu này hoàn toàn không khả thi.
*Tuy hàng hóa của chúng ta xuất khẩu sang khoảng 200 nƣớc và vùng lãnh thổ nhƣng kim
ngạch xuất khẩu sang 40 thị trƣờng lớn nhất đã chiếm đến 97% giá trị xuất khẩu, 20 thị trƣờng
lớn nhất chiếm đến 90% giá trị xuất khẩu. Trong nhập khẩu, Việt Nam mua đến 76,3% hàng
Tình hình 2 tháng đầu năm 2008 đã cho thấy nhập siêu đến gần 4,3 tỷ USD, bằng 49,2% kim
ngạch xuất khẩu
3. Kết luận
Hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2001 – 2007 dù gặp không ít
khó khăn nhƣng vẫn đạt đƣợc những thành tựu to lớn trên nhiều mặt. Ngay cả những nhà
hoạch định chính sách khi công bố “Chiến lược phát triển xuất nhập khẩu 2001-2010” có lẽ
cũng không thể ngờ đƣợc nhiều mục tiêu họ đề ra cho năm 2010 đã đƣợc hoàn thành, thậm chí
vƣợt xa trong năm 2007.
Tuyển tập Báo cáo “Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học” lần thứ 6 Đại học Đà Nẵng - 2008
318
Bên cạnh thành công, hoạt động xuất nhập khẩu vẫn tồn tại một số hạn chế,
thậm chí rất gay gắt và cần đƣợc khắc phục kịp thời. Những hạn chế nhƣ: thị trƣờng xuất khẩu
chƣa đa dạng, cơ cấu xuất nhập khẩu chậm biến đổi, khu vực kinh tế trong nƣớc hoạt động
chƣa hiệu quả nhƣ kì vọng, hiện tƣợng nhập siêu… là những thách thức to lớn đối với ngành
Ngoại thƣơng Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Đỗ Đức Bình (2002), Giáo trình kinh tế quốc tế, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà Nội
[2] Đỗ Đức Minh (2006), Tài chính Việt Nam 2001-2010, Nhà xuất bản tài chính, Hà Nội
[3] Bùi Xuân Lƣu (2002), Giáo trình Kinh tế Ngoại thương, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội
[4] Nguyễn Thị Kim Thúy (2006), Nguyên lý Thống kê, Nhà xuất bản Văn hóa Sài Gòn, TP
Hồ Chí Minh
[5] Bộ Thƣơng mại (2000) Chiến lược phát triển xuất nhập khẩu thời kì 2001 – 2010
[6] Bộ Thƣơng mại (2005), Đề án phát triển xuất khẩu 2006 – 2010