Khoá luận tốt nghiệp
Lời mở đầu
1. Lý do lựa chọn đề tài
Đối với một nền kinh tế khi phát triển theo chiến lợc hớng về xuất khẩu,
ngoài việc tập trung phát triển sản xuất hàng xuất khẩu thì vấn đề thị trờng tiêu thụ
đầu ra cho sản phẩm là rất bức thiết và quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến sự
thành, bại của thực hiện chiến lợc. Trong bối cảnh Việt nam tham gia thị tr-
ờng thế giới muộn khi thị trờng thế giới về cơ bản đã có sự phân chia và cạnh tranh
gay gắt, muốn vơn ra thị trờng thế giới, phát triển thị trờng và mở rộng thị phần,
Việt nam phải xây dựng đợc chiến lợc phát triển thị trờng xuất khẩu trong một tầm
nhìn dài hạn.
Xuất phát từ tình hình trên, em đã chọn đề tài Phơng hớng phát triển thị
trờng xuất khẩu của Việt nam trong giai đoạn 2001-2010 và tầm nhìn đến năm
2020 làm đề tài khoá luận tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận, phân tích tình hình kinh tế trong nớc và
thực tiễn xuất khẩu, các quan điểm của Nhà nớc về đa dạng thị trờng cũng nh các
xu hớng phát triển của thơng mại quốc tế từ đó đề xuất phơng hớng và giải pháp
phát triển thị trờng xuất khẩu của Việt nam giai đoạn 2001-2010 và tầm nhìn đến
năm 2020.
3. Đối tợng, phạm vi nghiên cứu
Khoá luận chỉ tập trung nghiên cứu thị trờng xuất khẩu hàng hoá (không
đề cập đến thị trờng xuất khẩu dịch vụ), trong đó đặc biệt quan tâm đến dự báo
cơ cấu thị trờng và định hớng chính sách phát triển một số thị trờng xuất khẩu
chính của Việt nam trong giai đoạn tới bởi vì vấn đề thị trờng là một trong
những căn cứ quan trọng để thực hiện chiến lợc hớng về xuất khẩu của Nhà n-
ớc.
Trịnh Thị Phơng Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT
1
ờng xuất khẩu
I. Căn cứ đặc điểm, tình hình kinh tế và thực tiễn xuất khẩu
của Việt Nam trong những năm qua.
1. Đặc điểm, tình hình kinh tế của Việt Nam những năm gần đây
Thực hiện chiến lợc ổn định và phát triển kinh tế xã hội 10 năm
(1991-2000), nền kinh tế Việt Nam mặc dù phải đối mặt với những khó khăn,
thách thức to lớn, nhng nhờ thực hiện tốt các chính sách và giải pháp phù hợp, phát
huy nội lực kết hợp với sự hỗ trợ có hiệu quả của cộng đồng quốc tế nên vẫn tiếp
tục xu thế phát triển khá. Theo các chuyên gia kinh tế Ngân hàng Thế giới nhận
định trong buổi báo cáo tình hình Đông á : Việt Nam và Trung Quốc tiếp tục là
hai quốc gia dẫn đầu và tiêu biểu cho tốc độ tăng trởng kinh tế thế giới với mức
tăng 7% tại Việt Nam và 7,8% tại Trung Quốc trong năm nay.
1
Bảng 1: Một số chỉ tiêu kinh tế chọn lọc
Giai đoạn 1990 1995 2000
Tốc độ tăng GDP bình quân 5 năm
(1986-1990; 1991-1995; 1996-2000),%
4.4 8.2 6.9
Trong đó:
Nông, lâm, ng nghiệp (%) 3.1 4.1 4.3
Công nghiệp và xây dựng (%) 4.7 12 10.6
Dịch vụ (%) 5.7 8.6 5.75
Kim ngạch xuất khẩu (%) 2.4 5.4 14.5
Kim ngạch nhập khẩu (%) 2.7 8.1 15.2
Tiết kiệm so với GDP (%) 8.5 22.8 27
Chỉ số giá tiêu dùng (%) 67.1 12.7 -0.6
Nguồn: Tổng cục Thống kê, Bộ kế hoạch và Đầu t.
Ngành nông nghiệp: nền tảng để ổn định kinh tế, xã hội của Việt Nam đợc
duy trì và phát triển khá cao, có tác động quyết định cho công cuộc xoá đói giảm
1
qua. Dịch vụ bu chính viễn thông phát triển nhanh, mạng lới viễn thông trong nớc
đã đợc hiện đại hoá về cơ bản. Đã hình thành thị trờng dịch vụ bảo hiểm với sự
tham gia của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trong và ngoài nớc.
Dịch vụ tài chính ngân hàng có những đổi mới quan trọng. Các dịch vụ khác nh t
vấn pháp luật, khoa học và công nghệ đã bắt đầu phát triển.
Trịnh Thị Phơng Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT
2
Khoá luận tốt nghiệp
Ngành thơng mại: tự do hoá thơng mại đã có tác động mở rộng thị trờng
xuất khẩu thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu tăng nhanh, tốc độ kim
ngạch xuất khẩu cao gấp 2-3 lần tốc độ phát triển GDP. Mức độ mở cửa nền kinh
tế của Việt Nam thể hiện thông qua tơng quan tổng giá trị XNK trên tổng sản
phẩm quốc dân (XNK/GDP) đã tăng mạnh từ 76.4% vào năm 1998 lên 98.4% năm
2000 và lên 105% vào năm 2002. Năm 2000 giá trị xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ
đã tăng 3,6 lần so với năm 1991. Chính sách tự do hoá thơng mại đã tạo động lực
khuyến khích mạnh mẽ các doanh nghiệp trong nớc và nớc ngoài tham gia trực
tiếp vào hoạt động kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu.
Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam phát triển cha vững chắc. Từ năm 1997,
do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực, nhịp độ tăng trởng kinh tế
chậm lại. Năm 2002 tăng 7.1%, chặn đợc đà giảm sút, nền kinh tế có chiều hớng
tăng lên, song cha đạt mức tăng trởng nh những năm giữa thập kỷ 90 (năm 1994 là
8.6%, 1995 tăng 9.5%, 1996 tăng 9.3%). Nền kinh tế Việt Nam còn phải trải qua
những khó khăn to lớn do tác động tiêu cực của những yếu tố bên ngoài không
thuận lợi, thiên tai liên tiếp xảy ra.
Chất lợng phát triển còn thấp, hiệu quả của nền kinh tế cha cao, sức cạnh
tranh thấp, nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh, ngành sản phẩm cha đủ năng lực
cạnh tranh. Trong nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn còn chậm,
các phơng thức canh tác tiên tiến đợc đa vào nông thôn cha nhiều, lao động thiếu
việc làm và không có tay nghề còn cao, năng suất lao động còn thấp, khả năng
1997 9185.0 26.6%
1998 9360.3 1.9%
1999 11541.4 23.3%
2000 14455.0 25.2%
2001 15027.0 4.0%
2002 16706.0 11.2%
8T/2003 13308.0 27.5%
2
Nguồn: Vụ Thống kê - Bộ Thơng mại
Bảng 3: Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ qua các năm
Năm Kim ngạch xuất khẩu
dịch vụ (triệu USD )
Tốc độ tăng xuất khẩu
(%)
2000 2400
2001 2495 104.0%
2002 2750 110.2%
8T/2003 1935 81.10%
3
2
Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá 8T/2003 so với cùng kỳ năm 2002.
3
Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ 8T/2003 so với cùng kỳ năm 2002.
Trịnh Thị Phơng Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT
4
Khoá luận tốt nghiệp
Nguồn: Vụ Thống kê - Bộ Thơng mại
Giai đoạn 1991-1995
Trong thời gian từ năm 1991 đến năm 1995, kim ngạch xuất khẩu của Việt
1999. Nhờ đó, đa tổng kim ngạch xuất khẩu toàn kỳ 1996-2000 tăng lên 51,8 tỷ
USD, tăng hơn 3 lần so với thời kỳ 1990-1995.
Giai đoạn 2001-2003
Năm 2001 là năm hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam hết
sức khó khăn. Kim ngạch xuất khẩu đạt 15027 triệu USD , tăng 4% so với năm tr-
ớc, là mức thấp so với mục tiêu đề ra 16%. Nguyên nhân do nhu cầu giảm nhẹ ở
một số thị trờng, giá cả hạ ở một số mặt hàng nh dầu thô, gạo, cà phê đã làm kim
ngạch nhóm hàng nông sản giảm 510 triệu USD và kim ngạch chung giảm đến 1,2
tỷ USD. Sự phụ thuộc lớn vào các mặt hàng xuất khẩu nông nghiệp đã làm cho đất
nớc đặc biệt thiệt hại khi giá cả dao động trên thị trờng thế giới.
Năm 2002 tình hình có nhiều thay đổi. Kim ngạch xuất khẩu đạt 16706
triệu USD, tăng 11.2% so với năm 2001, trong đó một số mặt hàng có tốc độ tăng
trởng khá là dệt may (39.3%), giày dép (19.7%), hàng thủ công mỹ nghệ (40.7%),
sản phẩm gỗ(30%), cao su (+61.4%), hạt điều (+38%) Kim ngạch xuất khẩu
tăng lên là nhờ xuất khẩu vào Hoa Kỳ tăng mạnh, cả năm đạt 2,42 tỷ USD, bằng
hơn 2 lần so với 2001. Tỷ trọng của Hoa Kỳ trong tổng kim ngạch đã tăng từ 7%
lên 14,5% và riêng phần đóng góp đối với tốc độ tăng trởng chung năm 2002 là
9%. Có đợc kết quả trên là nhờ các doanh nghiệp Việt Nam đã tranh thủ đợc cơ
hội do Hiệp định Việt-Mỹ mang lại.
Tám tháng đầu năm 2003 kim ngạch xuất khẩu đạt 13,3 tỷ USD tăng 27.5%
so với cùng kỳ năm ngoái. Đáng chú ý là kim ngạch xuất khẩu 8 tháng của khu
vực kinh tế trong nớc xấp xỉ kim ngạch của khu vực có vốn đầu t nớc ngoài. Khối
lợng xuất khẩu tăng lên, trong đó, mặt hàng chủ yếu tăng khối lợng là: thủy sản,
hạt điều, dầu thô, than đá, hàng dệt may, giày dép, hàng điện tử và linh kiện máy
tính, hàng thủ công mỹ nghệ Thị tr ờng xuất khẩu có sự chuyển biến tích cực, 4
thị trờng đang dẫn đầu tốc độ tăng trởng là: Inđônexia, Bồ Đào Nha (173,1%),
Mianma (169,7%), Hoa Kỳ (127,7%). Tốc độ tăng trởng kim ngạch xuất khẩu
năm 2002 cùng với các chính sách mạnh mẽ của Chính phủ góp phần đẩy mạnh
xuất khẩu là những nhân tố để Việt Nam đạt đợc kết quả nói trên.
Trịnh Thị Phơng Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT
1995 2522.8 46.3 1378.6 25.3 1547.5 28.4
1996 3315.9 45.7 1814 25 2126 29.3
1997 3398.5 37 2388.1 26 3398.5 37
1998 3463.3 37 2265.2 24.2 3631.8 38.8
1999 4304.9 37.3 2827.6 24.5 4408.8 38.2
2000 4365.4 30.2 4553.3 31.5 5536.3 38.3
2001 4417.9 29.4 5244.4 34.9 5364.6 35.7
2002 5095.3 30.5 5212.3 31.2 6398.4 38.3
8T/2003 3912.6 29.4 3726.2 28 5669.2 42.6
Nguồn: Vụ Thống kê - Bộ Thơng mại
Đánh giá chung là xuất khẩu hàng hoá ở nớc ta tuy chậm nhng cơ cấu,
nhóm mặt hàng xuất khẩu vẫn tiếp tục chuyển dịch theo hớng tăng dần tỷ trọng
hàng đã qua chế biến.
Trịnh Thị Phơng Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT
7
Khoá luận tốt nghiệp
Trong những năm đầu của thời kỳ 1990-1995, các mặt hàng nông lâm thủy
sản, hàng công nghiệp nặng và khoáng sản chiếm tỷ trọng lớn vì trong những năm
đầu của kinh tế thị trờng thì hầu nh nớc ta chỉ có thể khai thác tài nguyên lên rồi
bán đi. Năm 1991 nhóm hàng này chiếm tỷ trọng 85,6%, sang năm 1992 nhóm
này tăng lên 86,5%. Tuy nhiên trong những năm tiếp sau đó, do sự tăng trởng
nhanh chóng của nhóm dệt may, giày dép và hải sản chế biến, tỷ trọng của nhóm
nông lâm thủy sản thô và công nghiệp nặng, khoáng sản đã giảm dần. Đến năm
1995, hai nhóm này chỉ còn chiếm cha đầy 72% kim ngạch xuất khẩu. Song cùng
với sự phát triển kinh tế nói chung và xuất khẩu nói riêng, có thể thấy thời kỳ
1996-2000 tỷ trọng hàng chế biến đã tăng lên rõ rệt nhờ nhận thức đợc nguồn
nguyên liệu, tài nguyên sẵn có, khả năng ứng dụng những máy móc công nghệ
hiện đại vào sản xuất để tạo ra sản phẩm có hàm lợng giá trị cao, kim ngạch lớn,
mang lại thêm lợi nhuận cho xuất khẩu và tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nớc.
năm qua.
2.3. Cơ cấu thị tr ờng xuất khẩu.
Trong thời gian qua, thị trờng xuất khẩu của Việt Nam đã có sự thay đổi sâu
sắc. Đến nay, hàng hoá và dịch vụ của Việt Nam đã có mặt ở 200 quốc gia và
vùng lãnh thổ. Nhiều mặt hàng chủ lực của ta có vị trí đáng kể trong thơng mại thế
giới. Với nhiều nỗ lực cố gắng của Nhà nớc và các doanh nghiệp, thị trờng xuất
khẩu của Việt Nam ngày càng mở rộng. Tính đến nay ta đã có quan hệ buôn bán
với tất cả các châu lục. Trong đó:
Bảng 5: Tỷ trọng các thị trờng xuất khẩu của Việt Nam
thời kỳ 1991-2000.
Đơn vị: %
Thị trờng Thời kỳ
1991-1995
1996
(%)
1997
(%)
1998
(%)
1999
(%)
2000
(%)
ASEAN 22.1 24.5 21.2 24.6 21.4 18.1
Nhật Bản 30.2 21.3 17.7 15.5 15.5 18.1
Đài Loan 5.5 7.4 8.5 7 5.9 5.2
Hồng Kông 6.2 4.3 5.2 3.3 2.1 2.4
Hàn Quốc 3.3 7.7 3.9 2.4 2.8 2.4
Trung Quốc 5.3 4.7 5.7 5 7.5 10.6
Châu á
11,1%, năm 1995 còn 2,5% đến năm 2000 chỉ còn chiếm 1,2% kim ngạch xuất
khẩu.
Trịnh Thị Phơng Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT
10
Khoá luận tốt nghiệp
Sau khi hệ thống CNXH tan rã, các nớc châu á đã nhanh chóng trở thành
thị trờng xuất khẩu chính của ta. Tỷ trọng của khu vực này năm 1991 (năm ta mất
thị trờng XNCH) đã vọt lên gần 77% nhng những năm sau này, nhờ nỗ lực khai
thông 2 thị trờng mới là châu Âu và Bắc Mỹ, tỷ trọng của châu á đã giảm dần nh-
ng vẫn còn rất cao (59,2% vào năm 2000, 47,75% vào năm 2002). Trong số các n-
ớc châu á thì Nhật Bản, ASEAN, Trung Quốc đóng vai trò lớn (Nhật Bản chiếm tỷ
trọng 18,1% năm 2000 và 15.57% năm 2002, ASEAN là 18,1% năm 2000 và
14.5% vào năm 2002 và Trung Quốc chiếm tỷ trọng 10,2% năm 2000 và 8.95%
năm 2002).
Tỷ trọng của EU nói riêng và châu Âu nói chung tăng khá đều trong những
năm qua. Năm 1991, EU mới chỉ chiếm 5.7% kim ngạch xuất khẩu nhng đến năm
2002 đã chiếm 20%, góp phần đa toàn châu Âu lên 22%. Thị trờng châu Âu đối
với Việt Nam hiện nay đang phát triển cả về bề rộng lẫn bề sâu, đợc xây dựng trên
cơ sở các mối quan hệ truyền thống và những thiết chế luật pháp đã đợc hai bên
cam kết và tuân thủ. Đó là Hiệp định hàng dệt may ký tắt năm 1992 và ký chính
thức tháng 7 năm 1996, Hiệp định khung về hợp tác ký năm 1995 và việc Việt
Nam tham gia chính thức hiệp định hợp tác ASEAN-EU từ tháng 3 năm 1997,
Hiệp định buôn bán hàng dệt may giữa Việt Nam và EU 1998-2000 là đỉnh cao
mối quan hệ ngày càng phát triển của cả hai bên. Hiện nay, Việt Nam đợc đa vào
danh sách các nớc đợc u tiên hợp tác phát triển. Trong những năm qua, kim ngạch
xuất khẩu sang EU đã tăng rất nhanh (năm 1991 ta mới xuất đợc 119,4 triệu USD
sang EU thì đến năm 2002 đã là 3149,8 triệu USD). Đặc biệt đây là thị trờng mà ta
thờng xuyên xuất siêu.
Quan hệ thơng mại với Bắc Mỹ trong đó chủ yếu là Mỹ, đã có bớc phát
- Xuất k
ẩu của ta vẫn ẽCn khá nhỏ bé so với một số nớc trong khu vực, xét về cả tổng ớ im ng
chZlẫn kim ngạch tính theo đầu ngời.
- Tuy'chủngxFoại hàng hoá xuất@khẩu#ểã đa dạng hơn nhng nhìn chung thì
diện mặt hàng vẫn còn khá đơn điệu dẫn đến sự phụ thuộc quá mạnh vào ột
số mặB hàng chủ lực.
- Sự thay đổi cơ cấu hàngíxuất -)ẩu là tích cực nh4ng cm a phải là những thay
đổi theo chiều sâu.Mó thể0dễ dàng nhận thấy việc chuyển dịch cơ cấu diễn ra
Trịnh Thị Phơng Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT
12
Khoá luận tốt nghiệp
chủ yếu nhờ tăng nhanh kim ngạch của 4 nhóm hàng chính là dệỏ]may, giày
dép,rsản phẩugỗ tinh chế và iện tử (bao gồm cả linh kiện máa tính). Trong
#h này chỉ có hàm lợng gỗ tinh chế là đạt hàm lợng tơng đối cbo, các nwóm
còn lại do dựa mạnh vào phơng thức gia công, đạt hàm lợng nội địa tơng đối
thấp. Hơn nữa, Việt Nam cha tạo đợc những ngành công nghiệp gắn kết với
nhau để cùng hớng về xuất khẩu v tạo ra giá trị gia tăng ngày càng lớn.
- Một số mặt hàng đã Qạo chỗ đứng |rên thị trờng thế giớt nhng nhìn chung sức
cạnh tranh của=hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam vẫn còn yếu (giá thành cao,
chất lợng không ổn định, mẫu mã chủng loại nghèo nàn, bao bì kóm hấp dẫn,
khả0năng giao hàng không chắc chắn, dịch vụ hậu ãi kém )
Tóm lại, những tồn tại và bất cập trong hoạt động xuất khẩu nh đã nêu trên
đều có mối liên quan chặt chẽ đến nhau, vừa là nguyênrnhân n
Trịnh Thị Phơng Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT
13
Khoá luận tốt nghiệp
ng cũng vừa là hậu quả của nhau. Troủg thời gian tới, để đấy mạnh xuất
khẩu hơn nữa thì đòi hỏi những bất cập này phải đợc xử lý một cách dứt khoát.
dụng nhiều lần trong một năm và nh trên đã nói, Việt Nam lại ở vào vùng khí hậu
ẩm nhiệt đới, rất thích hợp với nhiều loại cây trồng nh cao su, cà phê, chè, hạt tiêu,
các loại đậu lạc và các loại cây ăn quả.
Rừng: Qua đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến
cuối năm 1999, tổng diện tích rừng trong cả nớc là 10,9 triệu ha trong đó có 9,4
triệu ha rừng tự nhiên và 1,5 ha rừng trồng. Tổng trữ lợng gỗ của cả nớc là 751,5
triệu m
3
và khoảng 8,4 tỷ cây tre nứa trong đó trữ lợng gỗ rừng trồng là 30,6 triệu
m
3
và 96 triệu cây tre nứa. Trữ lợng gỗ nhiều trong đó có nhiều loại gỗ quý nhiệt
đới nh lim, sến, táu
Hải sản: Việt Nam có hơn 3000km bờ biển với trữ lợng hải sản lớn, cho
phép đánh bắt mỗi năm 4,3-4,5 triệu tấn cá, 5-6 vạn tấn tôm, khả năng phát triển
nuôi trồng thuỷ sản còn lớn. Vùng ven biển nớc ta có khả năng phát triển mạnh
sản xuất cá, muối.
Khoáng sản: nớc ta có nhiều khoáng sản với trữ lợng không nhỏ, trong đó
đáng chú ý là: than (trữ lợng dự báo là khoảng 4 tỷ tấn than đá và 128 triệu than
nâu), sắt (trữ lợng thăm dò 860 triệu tấn), bôxit (tổng trữ lợng dự báo hơn 10 tỷ
tấn), apatit (trữ lợng dự báo trên 2 tỷ tấn), dầu thô (dự đoán trữ lợng địa chất
khoảng 5 tỷ tấn dầu và khí quy ra dầu),
Nớc: Việt Nam đợc xếp vào những quốc gia có nguồn nớc ngọt dồi dào trên
thế giới. Tiềm năng nớc trên bề mặt phân bố đều ở các vùng của đất nớc. Do vậy,
có thể đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải và
sinh hoạt của dân c mỗi vùng về trớc mắt cũng nh về lâu dài. Trên mặt đất có 2860
sông ngòi với diện tích khoảng 653.566 ha, 394.000 ha hồ, 56.000 ha ao, 85.000
ha đầm lầy và hơn 1 triệu ha đất ngập mặn. Đây là điều kiện rất thuận lợi cho phát
triển và nuôi trồng thuỷ sản. Nguồn thuỷ năng vào loại lớn trên thế giới, công suất
ớc tính khoảng trên 30 triệu kW, lợng điện ớc tính là 260 kWh/năm. Đây là điều
Trịnh Thị Phơng Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT
16
Khoá luận tốt nghiệp
II. Căn cứ vào quan điểm của Đảng và Nhà nớc trong việc
phát triển thị trờng xuất khẩu
1. Kiên trì đờng lối đối ngoại rộng mở, đa phơng hoá đa dạng
hoá quan hệ kinh tế quốc tế.
Một trong những nội dung quan trọng của đờng lối đổi mới kinh tế của
Đảng và Nhà nớc ta đợc xác định trong Đại hội toàn quốc lần thứ VI (1986) là
thực hiện đờng lối đối ngoại rộng mở, phát triển nền kinh tế mở, đa phơng hoá và
đa dạng hoá quan hệ kinh tế quốc tế. Nhờ những kết quả bớc đầu của việc thực
hiện nội dung đổi mới này thị trờng xuất khẩu của nớc ta đã có sự mở rộng phạm
vi địa lý, chuyển dịch tích cực cơ cấu thị trờng.
Trong thời kỳ 1991-2000, tiếp tục thực hiện đờng lối đối ngoại rộng mở, đa
phơng hoá và đa dạng hoá quan hệ kinh tế quốc tế, gia nhập các tổ chức kinh tế và
thơng mại thế giới và khu vực nh ASEAN (07/1995), ASEM (1996), tham gia vào
AFTA, APEC (1998), trở thành quan sát viên của WTO (1995) và phấn đấu đến
năm 2005 sẽ là thành viên chính thức của WTO đã tạo tiền đề cực kỳ quan trọng
cho việc đẩy mạnh cơ cấu thị trờng xuất khẩu theo hớng đa phơng hóa, đa dạng
hoá các thị trờng. Hiện nay, Việt Nam đã có 42 Thơng vụ ở nớc ngoài. Trong đó
có 14 Tham tán thơng mại ở khu vực thị trờng châu á-Thái Bình Dơng, 20 Tham
tán và 1 tuỳ viên thơng mại phụ trách Thơng vụ ở thị trờng Âu Mỹ, 7 Tham tán và
1 Tuỳ viên phụ trách Thơng vụ ở khu vực thị trờng châu Phi-Tây Nam á. Công tác
thị trờng ngoài nớc và hoạt động của các Thơng vụ Việt Nam trong thời gian qua
đã có những chuyển biến tích cực, tạo môi trờng pháp lý thuận lợi nhằm củng cố
và mở rộng thị trờng ngoài nớc, đẩy mạnh quan hệ hợp tác song biên, đa biên, tạo
thị trờng ổn định cho sự phát triển của các doanh nghiệp trớc yêu cầu đổi mới,
phát triển và hội nhập của ngành thơng mại, kịp thời nắm vững và xử lý những khó
khăn vớng mắc trong quan hệ đối ngoại để mở rộng quan hệ buôn bán với các nớc.
Một trong những nguyên nhân của sự thành công trong hoạt động xuất khẩu
và phát triển thị trờng xuất khẩu của nớc ta hơn 10 năm qua là Đảng và Nhà nớc ta
đã nhận thức rõ xu thế không thể đảo ngợc đợc và những lợi ích của hội nhập quốc
tế, nhận thức rõ những cơ hội và thách thức trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế của Việt Nam. Trớc hết, đó là việc Việt Nam tham gia ASEAN, APEC, ASEM
và đang tích cực chuẩn bị gia nhập WTO. Đồng thời, tích cực tham gia ký kết và
Trịnh Thị Phơng Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT
18
Khoá luận tốt nghiệp
áp dụng các điều ớc quốc tế về thơng mại, tức là tham gia vào các luật chơi
chung, các thớc đo chung của thế giới trong hoạt động buôn bán trên thị trờng
thế giới và khu vực. Đây là tiền đề quan trọng để Việt Nam đẩy mạnh các hoạt
động giao lu, hợp tác kinh tế, khoa học-kỹ thuật và thơng mại đối với các nớc
thành viên của tổ chức mà Việt Nam tham gia. Qua đó, đẩy mạnh việc mở rộng thị
trờng xuất khẩu, tăng cờng phát triển thị trờng theo chiều sâu. Việc Việt Nam
tham gia vào các luật chơi chung, các thớc đo chung của thế giới và khu vực thông
qua ký kết các điều ớc quốc tế về thơng mại cũng có nghĩa là Việt Nam đợc tham
gia vào sân chơi chung của thị trờng thế giới, đợc tham gia cạnh tranh một cách
bình đẳng với các nớc khác trên thị trờng thế giới. Và đây cũng chính là cơ sở
pháp lý quốc tế để Việt Nam mở rộng quan hệ thơng mại với 200 nớc và vùng lãnh
thổ, kết quả đó đã mở ra thị trờng tiêu thụ rộng lớn cho hàng hoá xuất khẩu của n-
ớc ta.
Tuy nhiên những kết quả to lớn nêu trên sẽ không thể đạt đợc trong hơn 10
năm qua nếu nh nớc ta không có đợc sự ổn định về chính trị và kinh tế, nếu nh thể
chế kinh tế thị trờng cha đợc xác lập ở nớc ta. Yếu tố quan trọng hàng đầu để tạo
nên sự ổn định đó lại chính là Đảng và Nhà nớc ta kiên định con đờng XHCN, giữ
vững định hớng XHCN trong phát triển kinh tế xã hội.
4. Khuyến khích tất cả các thành phần kinh tế trong và ngoài nớc
tham gia tìm kiếm và tạo thị trờng xuất khẩu
ờng dịch vụ, thị trờng vốn và thị trờng sức lao động), thông qua việc cắt giảm tiến
đến xoá bỏ rào cản giữa các quốc gia trong các hoạt động kinh tế. Xung lực chính
của xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá là tự do hoá thơng mại, mục tiêu cuối cùng
của tự do hoá thơng mại là xoá bỏ tất cả các rào cản về thuế quan cũng nh phi thuế
quan để tạo điều kiện cho hàng hoá đợc giao lu tự do giữa các nớc.
Quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá sẽ đẩy mạnh quá trình hội nhập quốc tế
của các nớc ở nhiều cấp bậc khác nhau: liên minh kinh tế, liên minh tiền tệ, thị tr-
ờng chung, liên minh thuế quan và khu vực mậu dịch tự do.
Trịnh Thị Phơng Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT
20
Khoá luận tốt nghiệp
Trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI này, xu hớng toàn cầu hoá và khu
vực hoá đang là một xu hớng nổi trội nhất trong bức tranh toàn cảnh của nền kinh
tế thế giới với sự đã và đang ra đời của các khu vực mậu dịch tự do nh khu vực
mậu dịch tự do châu Âu (EFTA), Hiệp định mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA),
khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Tổ chức diễn đàn hợp tác kinh tế châu
á-Thái Bình Dơng (APEC), diễn đàn hợp tác kinh tế á-Âu (ASEM), thị trờng
chung châu Âu (EEU), liên minh tiền tệ châu Âu (EMU), liên minh kinh tế
Benilux (liên minh kinh tế giữa các nớc Bỉ, Hà Lan, Luc-xăm-bua).
Nh vậy, với xu thế toàn cầu hoá, hội nhập khu vực sẽ góp phần tạo điều kiện
cho các quốc gia kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh quốc tế, phát huy nội lực
và tất cả tiềm năng của đất nớc cùng với việc tranh thủ tối đa các nguồn lực bên
ngoài phục vụ cho phát triển đất nớc.
Tuy nhiên, mặt bất lợi của toàn cầu hoá thể hiện ở khía cạnh khi có khủng
hoảng kinh tế xảy ra. Do nền kinh tế các nớc trong khu vực và trên thế giới ngày
càng có xu hớng phụ thuộc nhau nhiều hơn, nếu sự khủng hoảng kinh tế của một
quốc gia xảy ra, nó sẽ nhanh chóng lây lan ra các nớc khác trong cùng khu vực.
Đồng thời, khi hội nhập với xu hớng mậu dịch tự do, điểm bất lợi lớn nhất thể hiện
trong thơng mại giữa các nớc là hàng hoá chịu sức cạnh tranh cao. Do đó, nớc nào
hàng, tạo ra những kênh liên kết mới với khách hàng, tạo ra cơ hội mới để xúc
tiến và quảng bá các sản phẩm. Các đối tác có thể trực tiếp tìm nhau trên mạng
và giao tiếp một cách liên tục, qua đó xoá đi khoảng cách về không gian và
thời gian. Một công ty, dù nhỏ, cũng có thể tự giới thiệu hoặc tìm kiếm bạn
hàng, tìm kiếm cơ hội kinh doanh trên phạm vi toàn quốc, khu vực cũng nh
toàn thế giới.
- Thơng mại điện tử góp phần làm tăng nhanh tốc độ chu chuyển của hàng hoá:
việc kết nối Internet cho phép ngời mua có thể chọn hàng và đặt hàng theo các
catalog điện tử của nhà cung cấp. Toàn bộ quá trình mua hàng đều đợc thực
hiện trên trang Web, điều này giúp tiết kiệm đợc thời gian hơn so với việc mua
hàng thông thờng.
Nh vậy, có thể thấy rằng sự phát triển của khoa học công nghệ đã trở thành
nhân tố ảnh hởng lớn tới nền kinh tế của đất nớc, cả các nớc đang phát triển và các
nớc phát triển.
Trịnh Thị Phơng Nhung - Pháp 1 - K38 - KTNT
22
Khoá luận tốt nghiệp
3. Sự phát triển của các công ty đa quốc gia và xu hớng liên minh
chiến lợc.
Các công ty đa quốc gia và đặc biệt là các công ty xuyên quốc gia (TNCs)
đang trở thành lực lợng kinh tế hàng đầu và đang trở thành động lực chính cho quá
trình toàn cầu hoá. Các công ty này đang phát triển nhằm tận dụng nguồn nguyên
liệu sẵn có tại các nớc. Tuy nhiên, các nớc này cũng nhận đợc một sự trang bị
đáng kể về vốn và công nghệ hiện đại trong quản lý, giao tiếp và sản xuất. Cùng
với xu hớng hội nhập và thơng mại tự do, ngày càng nhiều các công ty đa quốc gia
vơn ra nớc ngoài nhằm tận dụng lợi thế của nớc ngoài và tăng sức cạnh tranh của
công ty trên thị trờng toàn cầu.
Với sự thay đổi của công nghệ, thị trờng đợc hội nhập đã gây lên những chi
phí lớn và rủi ro trong kinh doanh về khía cạnh sản phẩm và thị trờng cho các