Biện pháp hỗ trợ xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2009-2010 - Pdf 13

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
*** KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
BIỆN PHÁP HỖ TRỢ XUẤT KHẨU CỦA
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2009-2010 Sinh viên thực hiện : Vũ Thị Thu Thủy
Lớp : Nhật 3
Khóa : K44F
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Lê Hoàng Liên

Hà Nội - 2009


2.2. Vai trò 8
2.2.1. Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp
hóa đất nước 9
2.2.2. Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy
sản xuất phát triển 9
2.2.3 Xuất khẩu có tác động tích cực đến giải quyết công ăn việc làm và cải
thiện đời sống của nhân dân 11
2.2.4 Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối
ngoại của nước ta 11
3. Các chính sách và biện pháp hỗ trợ xuất khẩu 12
3.1. Các biện pháp để tạo nguồn hàng và cải biến cơ cấu xuất khẩu 12
3.1.1 Xây dựng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực 12
3.1.2 Gia công xuất khẩu 15
3.1.3 Các biện pháp đầu tư liên quan đến tổ chức nguồn hàng, cải biến cơ
cấu xuất khẩu 17
3.1.4 Xây dựng các khu kinh tế mở 20
3.2. Các biện pháp, chính sách tài chính nhằm khuyến khích sản xuất và
thúc đẩy xuất khẩu 27
3.2.1 Tín dụng xuất khẩu 27
3.2.2 Trợ cấp xuất khẩu 31
3.2.3. Chính sách tỷ giá hối đoái 35
3.2.4. Thuế xuất khẩu và các ưu đãi về thuế 43 iii
3.3. Các biện pháp về thể chế và xúc tiến xuất khẩu 45
3.3.1. Các biện pháp về thể chế 45
3.3.2. Thực hiện xúc tiến xuất khẩu 46
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU VÀ CÁC BIỆN PHÁP HỖ TRỢ
XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001-2008 48

iv
2.1.2. Các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách tài chính, tín
dụng và đầu tư phục vụ xuất khẩu 84
2.1.3. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác xúc tiến xuất
khẩu 86
2.1.4. Các giải pháp nhằm hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho
một số ngành sản xuất hàng xuất khẩu 87
2.1.5. Các giải pháp nhằm dự báo và nhằm đẩy mạnh xuất khẩu theo ngành
hàng 88
2.2. Về phía doanh nghiệp 88
2.2.1. Các giải pháp nhằm xây dựng và củng cố mối liên kết với người cung
ứng nguyên liệu phục vụ sản xuất 88
2.2.2. Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của doanh
nghiệp 89
2.3. Các giải pháp cho từng ngành hàng 90
2.3.1 Một số giải pháp cho ngành Thủy sản 90
2.3.2. Một số giải pháp cho ngành gạo 92
2.3.3. Một số giải pháp cho ngành cà phê 92
2.3.4. Một số giải pháp cho ngành cao su 94
2.3.5. Một số giải pháp chung cho ngành dệt may, da giầy 94
2.3.6. Một số giải pháp cho ngành Điện tử và linh kiện máy tính: 94
2.3.7. Một số giải pháp cho ngành Gỗ 95
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

v
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ

KNXK nhóm nhiên liệu, khoáng sản giai đoạn 2008-
2010
72
Bảng 3.3:
KNXK nhóm nông lâm thuỷ sản giai đoạn 2008-2010
73
Bảng 3.4:
KNXK nhóm chế biến, CN và TCMN giai đoạn 2008-2010
76
Biểu đồ1.1:
Phân tích lợi ích và chi phí của trợ cấp xuất khẩu
33
Biểu đồ 2.1:
Tăng trưởng của kim ngạch xuất khẩu
49
Biều đồ 2.2:
Tỷ trọng xuất khẩu trong tổng GDP từ năm 2001 - 2008
49
Sơ đồ 2.1:
So sánh cơ cấu mặt hàng xuất khẩu năm 2001 và 2008
54


2
xuất khẩu. Xuất khẩu tăng mạnh còn trực tiếp tiếp sức cho sản xuất trong
nước tăng trưởng, mở rộng quy mô thị trường và tạo thêm nhiều việc làm mới.
Hơn thế, thành tích xuất khẩu còn là lực đẩy mạnh mẽ, có tính quyết
định góp phần đẩy nhanh tốc độ hội nhập của nền kinh tế nước ta. Trong hơn
10 năm qua, Việt Nam đã tham gia các thể chế kinh tế khu vực và quốc tế như
AFTA, APEC, ký Hiệp định thương mại với EU, Mỹ,… và sự kiện quan
trọng nhất là việc chúng ta trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương
mại Thế giới – WTO. Đó là một bước tiến lớn trong quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế của Việt Nam. Xuất khẩu trong năm 2007 đã đạt được mức tăng
trưởng mạnh mẽ nhờ sự kiện đó.
Tuy nhiên, khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu từ Hoa Kỳ đã lan
rộng và hậu quả nặng nề của nó ngày càng lộ rõ đối với thương mại quốc tế.
Việt Nam tuy không chịu ảnh hưởng trực tiếp nhưng với một nền kinh tế đã
hội nhập thì những tác động gián tiếp là không thể tránh khỏi. Đúng như cảnh
báo của nhiều chuyên gia, xuất khẩu Việt Nam đã và đang bắt đầu gánh chịu
những khó khăn bắt nguồn từ khủng hoảng tài chính thế giới. Dự đoán xuất
khẩu năm tới 2009 sẽ gặp nhiều khó khăn, và vì vậy mà đòi hỏi Việt Nam cần
một tay chèo vững chắc hơn để đưa xuất khẩu tiếp tục là nhân tố đưa kinh tế
đất nước đi lên.
Vì vậy, trong quá trình chọn đề tài khóa luận, em rất quan tâm tới đề
tài “Những biện pháp hỗ trợ xuất khẩu mà Việt Nam cần dùng để thúc đẩy
xuất khẩu giai đoạn 2009 – 2010”. Bài khóa luận trình bày những thành tựu
và hạn chế của Việt Nam trong quá khứ (2001 - 2008), đồng thời đưa ra một
số ý kiến về biện pháp hỗ trợ xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn khủng
hoảng kinh tế toàn cầu 2009 – 2010.

các bên. Thương mại quốc tế xuất hiện từ hàng ngàn năm nay, nó ra đời sớm
nhất và hiện nay vẫn giữ vị trí trung tâm trong các quan hệ kinh tế quốc tế.
Thương mại quốc tế thường được nghiên cứu dưới ba góc độ. Góc độ
thứ nhất nhìn nhận hoạt động thương mại trên quan điểm toàn cầu, tìm ra
những quy luật, xu hướng, vấn đề mang lại tính chất chung nhất trên thế giới,
không phụ thuộc vào lợi ích của từng quốc gia. Góc độ thứ hai đứng trên lợi
ích và quan điểm của từng quốc gia để xem xét hoạt dộng buôn bán chủ yếu
của quốc gia đó đối với phần còn lại của thế giới. Góc độ thứ ba gắn với hoạt
động kinh doanh quốc tế của các công ty nhằm mục đích thu lợi cao nhất cho
công ty.
1.2. Nội dung
Thương mại quốc tế bao gồm nhiều hoạt động khác nhau. Trên góc độ
một quốc gia đó chính là hoạt động ngoại thương. Nội dung của thương mại
quốc tế bao gồm:
- Xuất và nhập khẩu hàng hóa hữu hình (nguyên vật liệu, máy móc,
thiết bị, lương thực, thực phẩm, các loại hàng hóa tiêu dùng…), thông qua
xuất – nhập khẩu trực tiếp hoặc xuất – nhập khẩu ủy thác.
- Xuất và nhập khẩu hàng hóa vô hình (các bí quyết công nghệ, bằng
sáng chế, phát minh, phần mềm máy tính, các bảng thiết kế kỹ thuật, các dịch 5
vụ lắp ráp thiết bị, máy móc, dịch vụ du lịch, kiểu dáng công nghiệp, quyền
tác giả, độc quyền nhãn hiệu, thương hiệu…) thông qua xuất – nhập khẩu trực
tiếp hoặc xuất – nhập khẩu ủy thác.
- Gia công thuê cho nước ngoài và thuê nước ngoài gia công. Khi trình
độ phát triển còn thấp, thiếu vốn, thiếu công nghệ, thiếu thị trường thì cần
phải chú trọng các hoạt động gia công thuê cho nước ngoài, nhưng khi trình
độ phát triển ngày càng cao thì nên chuyển qua hình thức thuê nước ngoài gia
công cho mình và cao hơn là phải sản xuất và xuất khẩu trực tiếp (trong ngoại

tế trong nước trên cơ sở phân công lao động quốc tế, nâng cao năng suất lao
động và hạ giá thành. Các chức năng của thương mại quốc tế có liên quan
chặt chẽ với các nhân tố thúc đẩy sự hình thành và phát triển của nó. Căn cứ
vào các nhân tố này người ta phân biệt thành thương mại bù đắp và thương
mại thay thế. Thương mại bù đắp diễn ra do sự khác nhau về các điều kiện tự
nhiên và do trình độ phát triển còn thấp của lực lượng sản xuất. Thương mại
thay thế diễn ra trên cơ sở phân công lao động quốc tế đã đạt tới trình độ phát
triển cao, chuyên môn hóa vào những mặt hàng có ưu thế. Thương mại bù đắp
và thương mại thay thế có liên hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau và thúc
đẩy lẫn nhau phát triển.
1.4. Đặc điểm của thương mại quốc tế
- Thương mại quốc tế trong những năm gần đây có xu hướng tăng
nhanh, cao hơn so với tốc độ tăng trưởng của nền sản xuất, điều đó đưa đến tỷ
trọng kim ngạch ngoại thương trong tổng sản phẩm quốc dân của mỗi quốc
gia ngày càng lớn, thể hiện mức độ mở cửa gia tăng của nền kinh tế mỗi quốc
gia ra thị trường thế giới.
- Tốc độ tăng trưởng của thương mại “vô hình” nhanh hơn tốc độ tăng
trưởng của thương mại “hữu hình” thể hiện sự biến đổi sâu sắc trong cơ cấu
kinh tế, cơ cấu hàng xuất – nhập khẩu của mỗi quốc gia. Điều này đã kéo theo
nhiều quốc gia đang có sự đầu tư phát triển nhiều lĩnh vực dịch vụ. 7
- Cơ cấu mặt hàng trong thương mại quốc tế có những thay đổi sâu sắc
với các xu hướng chính như sau:
+ Giảm đáng kể tỷ trọng của nhóm hàng lương thực, thực phẩm và đồ
uống.
+ Giảm mạnh tỷ trọng của nhóm hàng nguyên vật liệu, tăng nhanh tỷ
trọng của dầu mỏ và khí đốt.
+ Giảm tỷ trọng hàng thô, tăng nhanh tỷ trọng sản phẩm công nghiệp

thương mại quốc tế. Có thể coi WTO là một tổ chức quốc tế có uy lực nhất
trong điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế. Các thể chế điều chỉnh của
GATT/WTO ngày càng có hiệu lực đối với nhiều nước, mức độ điều chỉnh và
tính chất điều chỉnh cũng ngày càng sâu sắc và hiệu quả hơn. Việc hơn 130
quốc gia thành viên sau vòng đàm phán Uruguay nhất trí thành lập WTO với
những nguyên tắc hoạt động mới hơn, thay thế cho GATT 1947 cũng chứng
tỏ vai trò ngày càng tăng của tổ chức này. Chính vì vậy, việc Việt nam trở
thành thành viên chính thức của WTO vào ngày 01/01/2007 vừa qua là một
thành công, mở ra giai đoạn phát triển mới trong quan hệ kinh tế quốc tế.
2. Khái niệm và vai trò của xuất khẩu
2.1. Khái niệm
* Xuất khẩu là một hoạt động kinh doanh thu doanh lợi bằng cách
bán sản phẩm hoặc dịch vụ ra thị trường nước ngoài và sản phẩm hay dịch
vụ ấy phải di chuyển ra khỏi biên giới của một quốc gia
2.2. Vai trò
Xuất khẩu đã được thừa nhận là một hoạt động rất cơ bản của hoạt
động kinh tế đối ngoại, là phương tiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Việc
mở rộng xuất khẩu để tăng thu nhập ngoại tệ cho đất nước và cho nhu cầu
nhập khẩu phục vụ cho sự phát triển kinh tế là một mục tiêu quan trọng nhất
của chính sách thương mại. Vậy nhìn chung, xuất khẩu có những vai trò như
sau? 9
2.2.1. Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp
hóa đất nước
Công nghiệp hóa đất nước theo những bước đi thích hợp là con đường
tất yếu để khắc phục tình trạng nghèo và chậm phát triển của nước ta. Để
công nghiệp hóa đất nước trong thời gian ngắn, đòi hỏi phải có số vốn rất lớn
để nhập khẩu máy móc, thiết bị, kĩ thuật, công nghệ tiên tiến.

vượt quá nhu cầu nội địa. Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm
phát triển như nước ta, sản xuất về cơ bản còn chưa đủ tiêu dùng nếu chỉ thụ
động chờ ở sự “thừa ra” của sản xuất thì xuất khẩu sẽ vẫn cứ nhỏ bé và tăng
trưởng chậm chạp. Sản xuất và sự thay đổi cơ cấu kinh tế sẽ rất chậm chạp.
Hai là, coi thị trường và đặc biệt thị trường thế giới là hướng quan
trọng để tổ chức sản xuất. Quan điểm thứ hai chính là xuất phát từ nhu cầu
của thị trường thế giới để tổ chức sản xuất. Điều đó có tác động tích cực đến
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Điều này ảnh hưởng
tới sản xuất ở những mặt sau:
- Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần cho
sản xuất phát triển và ổn định.
- Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản
xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước.
- Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế - kĩ thuật nhằm cải tạo và nâng
cao năng lực sản xuất trong nước. Điều này muốn nói đến xuất khẩu là
phương tiện quan trọng tạo ra vốn và kĩ thuật, công nghệ từ thế giới bên ngoài
vào Việt Nam, nhằm hiện đại hóa nền kinh tế của đất nước, tạo ra một năng
lực sản xuất mới.
- Thông qua xuất khẩu, hàng hóa của ta sẽ tham gia vào cuộc cạnh
tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng. Cuộc cạnh tranh này đòi
hỏi chúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích
nghi được với thị trường. 11
- Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn
thiện công việc quản trị sản xuất kinh doanh, thúc đẩy sản xuất mở rộng thị
trường.
2.2.3 Xuất khẩu có tác động tích cực đến giải quyết công ăn việc làm và cải
thiện đời sống của nhân dân

biến cơ cấu xuất khẩu;
2) Nhóm chính sách và biện pháp tài chính;
3) Nhóm chính sách và biện pháp liên quan đến thể chế - tổ chức.
3.1. Các biện pháp để tạo nguồn hàng và cải biến cơ cấu xuất khẩu
3.1.1 Xây dựng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực
a) Khái niệm
Song song với chính sách đa dạng hóa mặt hàng xuất khẩu, các quốc
gia đều có chính sách xây dựng những mặt hàng chủ lực – những con át chủ
bài của nền ngoại thương.
Trên thế giới mỗi nước, thậm chí mỗi nhóm nghiên cứu có thể đưa ra
khái niệm về mặt hàng xuất khẩu chủ lực khác nhau. Có nước quan niệm hàng
hóa nào sản xuất ra chủ yếu dành cho xuất khẩu thì gọi là hàng xuất khẩu chủ
lực; có quan điểm cho rằng hàng xuất khẩu nào có thị trường tiêu thụ ổn định
thì mặt hàng đó là chủ lực; có quan điểm lại cho rằng hàng hóa xuất khẩu nào
mà có tỷ trọng nguyên liệu nội địa chủ yếu không phục thuộc vào nước ngoài
thì coi đó là hàng chủ lực. Tất cả các quan niệm trên đều đúng một phần
nhưng chưa toàn diện và đầy đủ. Chính vì chưa có định nghĩa nào chính xác
nên theo quan niệm của tác giả chúng ta có thể hiểu hàng chủ lực như sau:
“Hàng chủ lực là những hàng hóa có điều kiện sản xuất ở trong
nước với hiệu quả kinh tế cao hơn những hàng hóa khác; có thị trường
tiêu thụ tương đối ổn định, chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất
khẩu của một quốc gia. 13
Trên cơ sở đó người ta thừơng chia cơ cấu xuất khẩu của một quốc gia
thành 3 nhóm hàng:
(1) Nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực: là loại hàng chiếm vị trí quyết
định trong kim ngạch xuất khẩu do có thị trường nước ngoài và điều kiện sản
xuất trong nước thuận lợi.

Ví dụ: vào những năm 1960 thì than có thể coi là mặt hàng xuất khẩu chủ lực
của Việt nam nhưng vào đầu những năm 1990 thì có thể coi dầu thô, gạo là
mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta.
c) Ý nghĩa của việc xây dựng mặt hàng xuất khẩu chủ lực
Xây dựng mặt hàng xuất khẩu chủ lực luôn được tất cả các nước coi
trọng và tập trung đầu tư phát triển. Ví dụ các nước phát triển như Mỹ có
những nhóm hàng như máy bay, ô tô, điện tử, tin học, các sản phẩm công
nghệ sinh học…; Đức có ô tô, thiết bị điện, dụng cụ chính xác…; Nhật có ô tô,
điện tử… Các nước đang phát triển như Thái Lan có gạo, gỗ, sản phẩm công
nghiệp nhẹ, dịch vụ du lịch…; Malaysia có dầu cọ, gỗ, dầu khí, dịch vụ du
lịch…
Nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực đã gây nên áp lực kể cả kinh tế và
chính trị đối với một số nước như sự kiện cung cấp khí đốt của Nga cho
Ucraina và Tây Âu, sự đột biến tăng về giá dầu của những năm 2004, 2005…
Do vậy việc xây dựng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực có ý nghĩa rất to lớn:
- Mở rộng quy mô sản xuất trong nước, trên cơ sở đó kéo theo việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, mở rộng và làm
phong phú thị trường nội địa;
- Tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, từ đó góp phần tăng ngân sách nhà
nước cải thiện cán cân thanh toán quốc tế;
- Tạo điều kiện giữ vững, ổn định thị trường xuất khẩu, từ đó góp phần
tăng ngân sách nhà nước cải thiện cán cân thanh toán quốc tế;
- Tạo cơ sở vật chất để mở rộng các quan hệ hợp tác kinh tế khoa học
kĩ thuật với nước ngoài; 15
Để hình thành được những mặt hàng xuất khẩu chủ lực Nhà nước cần
có những biện pháp, chính sách ưu tiên hỗ trợ trong việc nhanh chóng có
được những mặt hàng, nhóm hàng xuất khẩu chủ lực. Các biện pháp và chính

công, bên nhận gia công không có quyền chi phối sản phẩm làm ra.
Hai là, nguyên liệu hoặc bán thành phẩm được xuất đi nhằm gia công
chế biến và sau đó nhập thành phẩm trở lại. Trong quan hệ này, quyền sở hữu
đối với nguyên liệu đã được chuyển giao. Vì vậy, khi nhập trở lại các bộ phận
giá trị thực tế tăng thêm đều phải chịu thuế quan. Thực chất đây là hình thức
bên đặt gia công giao nguyên vật liệu, giúp đỡ kĩ thuật cho bên nhận gia công
và bao tiêu sản phẩm.
c) Các hình thức gia công xuất khẩu
* Căn cứ vào các lĩnh vực kinh tế (cơ cấu kinh tế)
+ Gia công sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu (bao gồm cả tiểu thủ công
nghiệp).
+ Gia công sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu (gồm trồng trọt và chăn
nuôi).
* Căn cứ vào mức độ chuyển giao nguyên vật liệu của bên đặt hàng gia công
+ Bên đặt hàng giao cả nguyên vật liệu – có chuyên gia hướng dẫn
+ Bên đặt hàng chỉ giao nguyên vật liệu
+ Bên đặt hàng giao một phần nguyên vật liệu
d) Lợi ích gia công xuất khẩu
+ Qua gia công xuất khẩu, không những chúng ta có điều kiện giải
quyết công ăn việc làm cho nhân dân mà còn góp phần tăng thu nhập quốc
dân và đặc biệt tăng nguồn thu ngoại tệ.
+ Thúc đẩy các cơ sở sản xuất trong nước, nhanh chóng thích ứng với
đòi hỏi của thị trường thế giới, góp phần cải tiến các quy trình sản xuất trong
nước theo kịp trình độ quốc tế.
+ Tạo điều kiện thâm nhập thị trường các nước tránh những biện pháp
hạn chế nhập khẩu do các nước đề ra. 17
+ Khắc phục khó khăn do thiếu nguyên liệu để sản xuất các mặt hàng

phải xây dựng thêm nhiều các cơ sở sản xuất mới để tạo ra nguồn hàng xuất
khẩu dồi dào, tập trung, có chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế. Do đó, đầu
tư là biện pháp có ý nghĩa quyết định để gia tăng xuất khẩu.
+ Tăng năng lực sản xuất hàng xuất khẩu.
+ Nâng cao trình độ quản lý sản xuất và kinh doanh.
+ Góp phần chuyển giao, tiếp nhận công nghệ mới tăng năng lực cạnh
tranh cho xuất khẩu.
+ Là cơ sở để mở rộng hợp tác kinh tế đối ngoại.
+ Giải quyết một số vẫn đề xã hội tạo môi trường thuận lợi cho sản
xuất kinh doanh xuất khẩu
b) Nguồn vốn đầu tư cho sản xuất hàng xuất khẩu
Vốn đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu ở nước ta hiện nay gồm:
+ Vốn đầu tư trong nước thông thường bao gồm:
- Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, trong đó bao gồm ngân sách từ
Trung ương, từ các ngành, từ các địa phương. Nguồn vốn này chủ yếu tập
trung đầu tư cho các chương trình khuyến khích xuất khẩu lớn mà Nhà nước
đề xuất nhằm thực hiện mục tiêu nền kinh tế quốc dân hoặc mục tiêu chính trị
như: Đầu tư cho khai thác dầu khí, xây dựng khu công nghiệp hóa dầu, đầu tư
cho đánh bắt, khai thác thủy sản xa bờ…
- Nguồn vốn từ tư nhân như vốn đầu tư vào sản xuất, chế biến, kinh
doanh hàng xuất khẩu. Nguồn vốn này ngày càng giữ vị trí quan trọng để phát
triển nền kinh tế quốc dân nói chung và đẩy mạnh xuất khẩu nói riêng.
+ Vốn đầu tư nước ngoài được thực hiện thông qua hai hình thức chủ yếu là:
- Nguồn vốn ODA (Viện trợ có hoàn lại hoặc không hoàn lại; cho vay
với lãi suất ưu đãi) nguồn vốn này chủ yếu do Chính phủ các nước hoặc do
các tổ chức quốc tế cấp.
- Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chủ yếu được thực hiện
dưới các hình thức góp vốn kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status