Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (KTTĐMT)
a. Tiềm năng và thực trạng. Vùng KTTĐMT là dải lãnh thổ ven biển kéo dài từ Thừa Thiên - Huế
đến Bình Định với 400 km bờ biển, hạt nhân của vùng là Tp Huế và Đà Nẵng cùng các đô thị kéo dài từ
Tam Kỳ - Qui Nhơn. Các hạt nhân này được gắn kết bởi trục tuyến QL1A, đường sắt Thống Nhất và các
cửa ra - vào như Chân Mây, Liên Chiểu, Tiên Sa, Kỳ Hà, Dung Quất, Qui Nhơn. Diện tích 27.953,2 km
2
,
dân số (2006) là 6,20 triệu người (8,44% diện tích và 7,45% dân số cả nước). Vùng nằm ở vị trí trung độ
của cả nước, trên các trục QL1A và đường sắt Bắc-Nam, đầu mối phía Đông của trục QL14B, 14 nối với
Tây Nguyên, có 4 sân bay Phú Bài, Đà Nẵng, Chu Lai, Phù Cát là cửa ngõ thông ra biển của Tây Nguyên và
Nam Lào, đồng thời cũng rất thuận lợi để trao đổi giao lưu với khu vực và quốc tế. Có các vịnh nước sâu
(Chân Mây, Liên Chiểu, Dung Quất) gắn với các bến có diện tích mặt bằng rộng chủ yếu là đất cát, dân cư
thưa thớt, lại gần các sân bay lớn (Phú Bài, Đà nẵng, Chu Lai); gần đường sắt, đường bộ và đường điện
quốc gia, không xa nguồn nước ngọt và hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển các cảng nước sâu có ý
nghĩa quốc gia; xây dựng các KCN lọc dầu, KCNTT. Vùng có thế mạnh về khai thác tài nguyên biển -
khoáng sản - rừng để phát triển du lịch - dịch vụ - nuôi trồng thủy sản, công nghiệp cơ khí đóng mới và sữa
chữa tàu thuyền, công nghiệp CB' N-L-HS, công nghiệp đường mía, khai thác khoáng sản, nhằm chuyển đổi
cơ cấu kinh tế theo hướng CNH', HĐH'. Đã hình thành một dải đô thị gồm: Huế, Đà Nẵng, Hội An, Tam
Kỳ, Quảng Ngãi, Qui Nhơn và các thị trấn (Chân Mây, Vạn Tường, Nhơn Hội ). Những đô thị này là trung
tâm hạt nhân, có sức lan tỏa và thu hút các lãnh thổ xung quanh vào việc phát triển kinh tế của vùng. Dân
cư, một bộ phận đã được tiếp cận với nền sản xuất hàng hóa. Nhân dân cần cù, có truyền thống CM, nếu
được đào tạo và có chính sách sử dụng hợp lý sẽ là động lực để phát triển kinh tế của vùng.
▪ Những hạn chế của vùng: Kết cấu hạ tầng thiếu đồng bộ và yếu kém (đặc biệt là vùng nông thôn,
miền núi); Thiết bị và công nghệ của các cơ sở sản xuất kinh doanh còn lạc hậu đã làm giảm hấp dẫn đối với
các nhà đầu tư và hạn chế sự giao lưu kinh tế với bên ngoài. Nền kinh tế còn ở trình độ thấp, chưa có tích
lũy, đời sống của một bộ phận dân cư còn gặp khó khăn. sản xuất công nghiệp chưa phát triển; Cơ cấu kinh
tế chuyển dịch chậm; hậu quả của chiến tranh còn để lại nhất là về xã hội và môi trường. Dân số tăng nhanh,
LĐ chưa có việc làm còn lớn. Lực lượng lao động bổ sung hàng năm chủ yếu ở nông thôn lại chưa qua đào
tạo. Việc sử dụng và thu hút chất xám còn nhiều hạn chế. Sự thấp kém thể hiện ở chỗ: dân số chiếm 7,5%
cả nước, song mới chỉ tạo ra 5,15% GDP, mức thu ngân sách chỉ đạt 4% so với cả nước. Mặc dù gần đây, cơ
cấu kinh tế đã có nhiều biến đổi, tỉ trọng công nghiệp, dịch vụ có tăng lên; Song năm 2002, GDP công
vùng nhằm cung cấp nguyên liệu cho chế biến và xuất khẩu. Phát triển chăn nuôi theo hướng đa dạng hóa,
nạc hóa đàn lợn, phát triển đàn bò sữa, bò thịt, đàn gia cầm phục vụ đời sống và công nghiệp CB'TP xuất
khẩu. Phát triển nông nghiệp gắn với phát triển nông thôn. Chú trọng quản lý, bảo vệ, tái tạo và tu bổ rừng
tự nhiên, nhằm giữ gìn cảnh quan môi trường. Đẩy mạnh trồng rừng ở các khu vực đất trống, ven biển. Kết
hợp kinh tế biển và ven bờ theo hướng đánh bắt-nuôi trồng- CB' thủy hải sản, làm muối, làm nông nghiệp và
trồng rừng ven biển. Hình thành và phát triển các làng cá để cung cấp thực phẩm tươi sống có giá trị cao.
Đầu tư, hiện đại hóa phương tiện, trang thiết bị, CSHT đánh bắt thủy hải sản (đặc biệt là phương tiện đánh
bắt xa bờ), khuyến khích tạo điều kiện CB' xuất khẩu.
▪ Về phát triển công nghiệp. Hình thành các ngành công nghiệp mũi nhọn trên cơ sở những ngành
được đầu tư tập trung, có lợi thế về tài nguyên, lao động, thị trường để tăng trưởng với tốc độ cao, thúc đẩy
nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của vùng. Ưu tiên đầu tư phát triển những ngành sản xuất có
hiệu quả và góp phần xuất khẩu, tạo ra lợi thế trong quá trình hội nhập với khu vực và quốc tế. Đầu tư cho
các KCN Dung Quất, Điện Nam - Điện Ngọc, Hòa Khánh - Liên Chiểu, Phú Bài, An Đồn, Chân Mây, Tịnh
Phong. Chuẩn bị điều kiện để phát triển một số điểm công nghiệp khác với các ngành chủ yếu là CB' N - L -
TS, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp đóng tàu và sản xuất hàng tiêu dùng. Đầu tư đồng bộ CSHT để thu
hút đầu tư. Đẩy mạnh phát triển CNCB' qui mô nhỏ ở nông thôn thuộc các ngành VLXD, thủ công mĩ nghệ,
gia công cho các KCN lớn nhằm tạo ra sự đổi mới ở nông thôn.
▪ Về thương mại, dịch vụ, du lịch. Xây dựng Tp Huế, Đà Nẵng thành đầu mối giao lưu quốc tế và
xuất-nhập khẩu. Phát triển các trạm trung chuyển, hình thành một số siêu thị và trung tâm thương mại tại
Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Qui Nhơn và ở một số đô thị mới. Phát triển du lịch gắn với bảo vệ, tôn tạo các
di tích lịch sử, VH, khu bảo tồn thiên nhiên. Kết hợp du lịch với nuôi trồng thủy hải sản, trồng cây ven biển
và rừng quốc gia. Chú trọng phát triển dải du lịch trọng điểm như: Huế, Lăng Cô, Bạch Mã - Cảnh Dương,
Đà Nẵng, Hội An, Cổ Lũy và các khu vực phụ cận. Gắn du lịch giữa các tỉnh, Tp trong vùng với các vùng
khác trong cả nước. Nâng cao chất lượng sản phẩm và đa dạng hóa các loại hình du lịch, từng bước hình
thành các tuyến du lịch khu vực miền Trung. Về lâu dài, nối liền với tuyến du lịch Chiềng Mai (Thái Lan) -
Luông Phabăng (Lào) - Ăngkovat (CPC)
(Theo ĐỊA LÝ KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM- Nguyễn Duy Hòa)