Nhóm 11 – Lớp DTU308.6
Tiểu luận
Đề tài: ”Bảo hộ và tự do hóa trong đầu
tư. Xu hướng thế giới và thực tiễn
tại Việt Nam"
1
Nhóm 11 – Lớp DTU308.6
Tiểu luận 1
Đề tài: ”Bảo hộ và tự do hóa trong đầu tư. Xu hướng thế giới và thực tiễn tại Việt Nam".1
LỜI MỞ ĐẦU 3
Chương I: Tổng quan về bảo hộ và tự do hóa đầu tư 4
I/ Bảo hộ đầu tư 4
1. Khái niệm 4
2. Các biện pháp thực hiện bảo hộ đầu tư 4
a. Biện pháp bảo đảm đối xử công bằng và thoả đáng 4
b. Biện pháp bảo đảm đối với vốn và tài sản của nhà ĐTNN 4
c. Bảo đảm cho nhà đầu tư chuyển vốn, tài sản và thu nhập hợp pháp tại nước đầu tư ra
nước ngoài 5
d. Bảo đảm cho nhà đầu tư kinh doanh có hiệu quả 5
e. Biện pháp giải quyết thoả đáng các tranh chấp về đầu tư 6
II/ Tự do hóa đầu tư 6
1. Khái niệm 6
2. Các biện pháp thực hiện tự do hóa đầu tư 6
Chương II Xu hướng thế giới về bảo hộ và tự do hóa đầu tư 7
I/ Tình hình đầu tư thế giới sau cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu 7
II/ Xu hướng tự do hóa đầu tư diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới 9
1. Đôi nét về xu hướng tự do hóa đầu tư trên thế giới hiện nay 9
2. Tự do hóa đầu tư tại một số quốc gia 9
a. Trung Quốc 9
b. Hàn Quốc 10
Chương III Thực tiễn hoạt động bảo hộ và tự do hóa đầu tư tại Việt Nam 11
hiểu rõ về xu hướng bảo hộ và tự do hóa đầu tư sẽ cho chúng ta có cái nhìn tổng
quan về đầu tư trên quan điểm từng quốc gia cũng như trên phương diện toàn cầu.
Đó cũng là lí do nhóm chúng em thực hiện bài tiểu luận với đề tài mang tên:
”Bảo hộ và tự do hóa trong đầu tư. Xu hướng thế giới và thực tiễn tại Việt
Nam.”
Kết cấu bài viết gồm ba phần lớn:
Chương I: Tổng quan về bảo hộ và tự do hóa đầu tư
Chương II: Cu hướng thế giới về bảo hộ và tự do hóa đầu tư
Chương III: Thực tiễn hoạt động bảo hộ và tự do hóa tạo Việt Nam
Trong quá trình thực hiện bài viết, chúng em đã cố gắng tổng hợp và tìm hiểu
nhiều nguồn tài liệu để có được bài viết với chất lượng tốt nhất. Tuy nhiên, do thời
gian để hoàn thành bài không nhiều và với lượng kiến thức còn hạn chế, nên chắc
chắn, chúng em sẽ không tránh khỏi có những thiếu sót trong bài làm của mình.
Chúng em rất mong sẽ nhận được những đóng góp từ phía cô và các bạn để bài
viết được hoàn chỉnh hơn nữa.
Chúng em xin chân thành cảm ơn./.
3
Nhóm 11 – Lớp DTU308.6
Chương I: Tổng quan về bảo hộ và tự do hóa đầu
tư
I/ Bảo hộ đầu tư
1. Khái niệm
Bảo hộ đầu tư xét dưới góc độ lý luận chung là một khái niệm rộng bao gồm
nhiều biện pháp do Nhà nước đề ra nhằm bảo đảm quyền lợi thiết thực, chính đáng
cho nhà đầu tư nước ngoài trong quá trình đầu tư tại nước sở tại. Đó là sự đảm bảo
pháp lý với những biện pháp được qui định bằng các qui phạm pháp luật nhằm bảo
đảm sự ổn định về lợi ích và sự an toàn cả vốn lẫn lãi trong suốt quá trình sản xuất
kinh doanh, tạo mọi điều kiện cho hoạt động đầu tư có hiệu quả. Bảo hộ đầu tư tạo
cơ sở vững chắc để nhà đầu tư tin tưởng quyền lợi của mình sẽ được bảo vệ bằng
các cam kết của nước nhận đầu tư, khuyến khích đầu tư tạo thêm những điều kiện
c. Bảo đảm cho nhà đầu tư chuyển vốn, tài sản và thu
nhập hợp pháp tại nước đầu tư ra nước ngoài
Các nhà đầu tư khi đầu tư với mục đích cuối cùng là thu lợi nhuận thì yêu
cầu tất yếu của họ là phải sử dụng lợi nhuận đó (đưa về nước hoặc tái đầu tư) để
có thể đạt được lợi nhuận nhiều hơn nữa. Do đó, họ rất quan tâm đến vấn đề chu
chuyển đồng vốn, đặc biệt là chu chuyển ra nước ngoài. Vì thế, Chính phủ nước
nhận đầu tư cần có các chính sách điều chỉnh việc chuyển ra nước ngoài linh động
các dòng tiền như:
- Lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh.
- Những khoản tiền trả cho việc cung cấp kỹ thuật, dịch vụ.
- Tiền gốc và lãi các khoản vay nước ngoài trong quá trình hoạt động.
- Vốn đầu tư.
- Các khoản tiền, tài sản khác thuộc quyền sở hữu hợp pháp của nhà đầu tư.
d. Bảo đảm cho nhà đầu tư kinh doanh có hiệu quả
Các nhà đầu tư rất chú ý đến tính hiệu quả trong kinh doanh, đặc biệt là khi
đầu tư vốn ra nước ngoài. Do vậy, việc Nhà nước có các quy định nhằm bảo đảm
cho nhà đầu tư kinh doanh có hiệu quả được xem là những biện pháp bảo hộ đầu
tư hữu hiệu. Nhóm biện pháp này bao gồm:
- Đảm bảo về thời gian: Quy định thời hạn kinh doanh.
- Đảm bảo tự do lựa chọn lĩnh vực kinh doanh: Các nhà đầu tư có thể đầu tư
vào các lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư, các lĩnh vực đầu tư có điều kiện
hoặc các lĩnh vực thông thường khác, cũng có thể lựa chọn địa bàn đầu tư phù hợp
với điều kiện của họ.
- Đảm bảo quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh: Doanh nghiệp có vốn
ĐTNN có toàn quyền quyết định kế hoạch sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản
phẩm, Nhà nước không nên can thiệp hay áp đặt điều gì tới kế hoạch và quá trình
sản xuất kinh doanh của họ mà nên tôn trọng và bảo đảm quyền tự chủ cho họ.
Doanh nghiệp cũng có quyền quyết định giá bán và không bị giới hạn về khu vực
5
Nhóm 11 – Lớp DTU308.6
cản lớn nhất của những nhà đầu tư nước ngoài. Mặc dù họ nhìn thấy được tiềm
năng khi đầu tư nhưng nếu ngành đó trong danh sách những ngành nghề, dịch vụ
bị cấm thì họ cũng không được phép đầu tư.
- Tạo một môi trường công bằng, bình đẳng giữa tất cả những nhà đầu tư. Điều
này cần thể hiện rõ ràng trong luật đầu tư của quốc gia đó, không được phân biệt
6
Nhóm 11 – Lớp DTU308.6
đối xử với bất kỳ nhà đầu tư nào. Những quyền lợi và nghĩa vụ dành cho các nhà
đầu tư trong nước cũng sẽ được quy định tương đương đối với các nhà đầu tư
nước ngoài thuộc bất cứ quốc gia nào.
- Triển khai kí kết và thực hiện hiệu quả, đúng lộ trình các cam kết song phương,
đa phương trong quá trình hội nhập quốc tế, các quy định về đối xử công bằng cho
các nhà đầu tư của các nước thành viên trong nội bộ các tổ chức kinh tế khu vực
và liên khu vực, các tổ chức kinh tế khác mà quốc gia đó tham gia. Theo đó, khi
các nhà đầu tư thuộc các nước là thành viên của cùng một tổ chức tiến hành hoạt
động đầu tư tại một quốc gia thành viên khác sẽ nhận được những ưu đãi và nghĩa
vụ như nhau.
Chương II Xu hướng thế giới về bảo hộ và tự do hóa
đầu tư
I/ Tình hình đầu tư thế giới sau cuộc suy thoái kinh tế
toàn cầu
Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ và suy thoái kinh tế toàn cầu đã làm cho
tình hình kinh doanh quốc tế xấu nghiêm trọng, mức độ rủi ro cao, thiếu vốn nên
nhiều tập đoàn phải điều chỉnh chiến lược đầu tư kinh doanh, điều chỉnh địa bàn
và các dịnh hướng đầu tư dẫn đến thu hẹp phạm vi đầu tư, đồng thời cắt giảm vốn
nhằm giảm thiểu rủi ro kinh doanh. Khủng hoảng tài chính Mỹ và suy thoái kinh
tế toàn cầu đã tác động đến đầu tư quốc tế trên những khía cạnh chính sau:
- Thứ nhất, các nhà đầu tư nước ngoài đẩy mạnh chuyển lợi nhuận về nước;
- Thứ hai, vốn tài trợ của công ty mẹ ở bản quốc cho các công ty con ở nước nhận
đầu tư giảm sút nghiêm trọng. Các nước phát triển thay vì đầu tư ra nước ngoài, đã
Điểm nổi bật là xu hướng tự do hóa đầu tư ngày càng mạnh giữa các nước,
khu vực và thế giới. Các qui chế về FDI của các nước thay đổi nhanh trong thập
kỷ qua từ bảo hộ đến hạn chế, kiểm soát và chuyển sang tự do hóa FDI trong phạm
vi từng nhóm nước, khu vực.
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã ngày càng tác động mạnh đến kế
hoạch đầu tư của các công ty xuyên quốc gia TNCs (Transnational Corporations).
Lợi nhuận suy giảm do khối lượng buôn bán giảm sút đã làm hạn chế xu hướng
đầu tư. Đây chính là tác động của "khủng hoảng kinh tế" (economic crisis).
Theo Báo cáo tổng quan triển vọng đầu tư thế giới WIPS (World
Investment Prospects Survey) các nền kinh tế mới nổi nhờ có tiềm lực tài chính
tốt, tỷ lệ giới trẻ cao sẽ hỗ trợ tăng trưởng lâu dài nên càng thu hút giới đầu tư
quốc tế và các công ty xuyên quốc gia TNCs.
8
Nhóm 11 – Lớp DTU308.6
II/ Xu hướng tự do hóa đầu tư diễn ra mạnh mẽ trên toàn
thế giới
1. Đôi nét về xu hướng tự do hóa đầu tư trên thế giới
hiện nay
Trong quý I/2010, có tới 62 nền kinh tế trên thế giới đã triển khai các biện
pháp mới tác động đến khuôn khổ chính sách đầu tư của nước ngoài và 73 nền
kinh tế thực hiện những biện pháp đầu tư quốc tế, tiếp tục xu hướng ký kết nhanh
các hiệp định mới về đầu tư. Trong 5 tháng đầu năm 2010, khoảng 37 hiệp định
như trên đã được ký kết.
Báo cáo giám sát đầu tư của UNCTAD cho biết khoảng 28 nền kinh tế đã
thông qua những biện pháp chuyên về đầu tư nhằm tự do hóa, thu hút đầu tư nước
ngoài vào các khu vực kinh tế từ lâu vẫn đóng kín. Cụ thể là Australia và Canada
đã tự do hóa dịch vụ vận tải hàng không; Ấn Độ tự do hóa dịch vụ truyền hình trên
mạng điện thoại di động; Malaysia, Syria, Cameroon tự do hóa dịch vụ ngân hàng
hoặc sở hữu nhà ở; 9 nền kinh tế, trong đó có Nga, Mexico, Libya, Peru, đã triển
khai các chính sách đầu tư nhằm thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư
Trung Quốc ban hành nhiều văn bản, luật để đảm bảo quyền lợi cũng như quản
lý các hoạt động đầu tư nước ngoài một cách hiệu quả: Luật Trung Quốc về các xí
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của người Trung Quốc, Quy định của hội đồng
nhà nước về khuyến khích các đầu tư nước ngoài, Luật về ngoại thương Trung
Quốc … Qua các văn bản, luật này các nhà đầu tư nước ngoài có thể biết được chi
tiết thủ tục đăng kí, các phương pháp đầu tư vốn, các loại thuế, việc kiểm soát
ngoại tệ, thủ tục đình chỉ hoạt động của xí nghiệp, hoạt động của các công đoàn,
nhập khẩu kĩ thuật …
Hiện nay khi GDP của Trung Quốc lớn thứ 2 trên Thế giới, dự trữ ngoại tệ lớn
nhất Thế giới thì vốn không phải là ưu tiên hàng đầu trong chính sách thu hút đầu
tư của Trung Quốc nữa. Trong những năm gần đây Trung Quốc khuyến khích đầu
tư và đưa công vệ vào lĩnh vực công nghiệp, chế độ khuyến khích được ưu tiên
trao cho các ngành cần công nghệ tiên tiến, hàm lượng khoa học kĩ thuật cao: sản
xuất chế tạo máy, điện tử tin học, sản xuất ô tô … Đặc biệt các dự án đầu tư vào
khu vực miền Tây, Đông Bắc hẻo lánh, các nơi xa xôi sẽ được hưởng ưu tiên đặc
biệt. Những ngành cần sử dụng nhiều tài nguyên thiên nhiên và nguy cơ gây ra ô
nhiễm môi trường cao hiện không còn được khuyến khích nữa.
Kể từ khi gia nhập vào WTO, Trung Quốc càng mở cửa hơn nữa đối với các
nhà đầu tư, nhất là ở những ngành dịch vụ trước kia vốn là độc quyền của nhà
nước như: tài chính,bảo hiểm, viễn thông, du lịch … Nhờ nguyên tắc không phân
biệt đối xử, các điều kiện không công bằng so với các công ty trong nước mà các
công ty nước ngoài phải đối mặt khi thâm nhập thị trường Trung Quốc sẽ được bãi
bỏ.
b. Hàn Quốc
Hàn Quốc là một quốc gia có rất nhiều các công ty, nhà đầu tư ra nước ngoài,
nhưng đồng thời cũng thu hút được một lượng vốn đầu tư vào trong nước rất lớn.
Trong những năm gần đây, Hàn Quốc đã và đang tiến hành mạnh mẽ xu hướng tự
do hóa đầu tư nhằm góp phần tiếp cận với nguồn vốn và kĩ thuật, công nghệ tiên
tiến của nước ngoài, cải thiện hoạt động sử dụng vốn đầu tư. Chính phủ Hàn Quốc
đang tiếp tục tạo dựng môi trường "ngoại thương thân thiện" thông qua nhiều biện
2006 tới nay. Đặc biệt trong 2 năm 2006-2007, dòng vốn ĐTNN vào nước ta đã
tăng đáng kể (32,3 tỷ USD) với sự xuất hiện của nhiều dự án quy mô lớn đầu tư
chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp (sản xuất thép, điện tử, sản phẩm công nghệ
cao, ) và dịch vụ (cảng biển, bất động sản, công nghệ thông tin, du lịch-dịch vụ
cao cấp .v.v.).
Việt Nam chính thức gia nhập WTO vào 7 tháng 11 năm 2006 với các cam kết
bắt đầu có hiệu lực từ 11 tháng 1 năm 2007. Sau khi gia nhập và thực hiện cam kết
với WTO, Việt Nam đã bãi bỏ các quy định về ưu đãi đối với dự án đầu tư có tỷ lệ
xuất khẩu cao, không yêu cầu bắt buộc thực hiện tỷ lệ nội địa hóa và sử dụng
nguyên liệu trong nước. Hai tác động tích cực chủ yếu của việc là thành viên của
WTO đối với ĐTNN là:
Thứ nhất, thuế nhập khẩu các hàng hóa phục vụ sản xuất trong nước cũng như
cho tiêu dùng tư nhân và chính phủ được giảm rõ rệt (trong nhiều trường hợp, mức
thuế suất áp dụng cho các đầu vào nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu và các
hàng hóa khác như máy móc và thiết bị sản xuất hàng xuất khẩu được giảm đáng
kể trong quá trình đàm phán). Hơn nữa, các nhà xuất khẩu cũng sẽ được hoàn trả
thuế nhập khẩu bị áp lên đầu vào nguyên liệu dùng cho sản xuất hàng xuất khẩu
của mình.
Thứ hai, thị trường dịch vụ của Việt Nam sẽ được tự do hóa. Theo cách phân
loại của WTO, điều khoản liên quan đến dịch vụ sẽ được chia thành bốn phương
thức: (i) có sự dịch chuyển qua biên giới; (ii) dịch vụ được tiêu dùng ở nước
ngoài; (iii) hiện diện thương mại và (iv) hiện diện thể nhân. Khi lĩnh vực dịch vụ
được tự do hóa, đặc biệt dịch vụ ở phương thức (i) và (iv), sẽ ảnh hưởng đến dòng
vốn FDI vào Việt Nam. Đầu tiên, các phân ngành dịch vụ mà trước đây không cho
phép hoặc hạn chế vốn đầu tư nước ngoài (ví dụ như phân phối, vận tải, viễn
thông, tài chính, v.v) sẽ được tự do hóa rộng khắp (mặc dù còn một số điều kiện
hạn chế và một thời gian chuyển đổi từ 3 đến 5 năm).
Trong 5 năm trở lại đây, tình hình ĐTNN tại Việt Nam có nhiều bước tiến mới
với sự tăng nhanh về quy mô và nguồn vốn của các dự án đầu tư nước ngoài. Đặc
biệt, tình hình đầu tư đi theo hướng tự do hóa nhằm cải thiện môi trường đầu tư
Hiện nay, danh mục các lĩnh vực được ưu đãi đầu tư và được phép đầu tư có
điều kiện đối với các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã tăng lên đáng kể. Chi
tiết, đối với danh mục các lĩnh vực được ưu đãi đầu tư (tháng 9 năm 2006), có tất
cả 8 lĩnh vực với 52 nhóm ngành nghề. Đối với danh mục các lĩnh vực được phép
đầu tư có điều kiện áp dụng cho các nhà đầu tư nước ngoài, có tất cả 16 nhóm
ngành nghề. Điều này cho thấy, Việt Nam đang dần mở cửa thị trường đầu tư, tạo
sự cạnh tranh bình đẳng giữa các nhà đầu tư nước ngoài và các nhà đầu tư trong
nước.
13
Nhóm 11 – Lớp DTU308.6
b. Hoàn chỉnh hệ thống luật pháp đối với hoạt động đầu
tư nước ngoài:
Nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, môi trường pháp lý, tạo sự
thống nhất trong hệ thống pháp luật về đầu tư, tạo "một sân chơi" bình đẳng,
không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư; đơn giản hoá thủ tục đầu tư, tạo điều
kiện thuận lợi để thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư; đáp ứng yêu
cầu hội nhập kinh tế quốc tế; tăng cường sự quản lý của nhà nước đối với hoạt
động đầu tư. Năm 2005 Quốc hội đã ban hành Luật Đầu tư và có hiệu lực từ
1/7/2006, Luật Đầu tư 2005 thay thế Luật Đầu tư nước ngoài và Luật Khuyến
khích đầu tư trong nước. Tiếp đó, Chính phủ đã ban hành NĐ 108/2006/NĐ-CP
ngày 22/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Đầu tư (Nghị
định 108).
So với Luật Đầu tư nước ngoài và Luật khuyến khích đầu tư trong nước trước
đây thì pháp luật đầu tư 2005 quy định rõ hơn về những hình thức đầu tư như:
Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc 100% vốn
của nhà đầu tư nước ngoài; Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu
tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài; Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC,
hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT; Đầu tư phát triển kinh doanh; Mua
cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư; và Đầu tư thực hiện
việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp. Nhà đầu tư được đầu tư để thành lập tổ
giới khác và đã kí kết, đồng thời từng bước thực hiện nhiều hiệp định quan trọng
về tự do hóa thương mại, tự do hóa đầu tư. Dưới đây là một số hiệp định song
phương và đa phương mà Việt Nam đã kí kết:
• Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN
Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN được kí kết tháng 10/1998 giữa
các nước thành viên ASEAN nhằm mục đích tạo ra đầu tư lớn hơn từ các nước
ASEAN và các nước ngoài ASEAN. Hiệp định đã thỏa thuận về các mục tiêu tự
do hóa đầu tư trong khu vực: chế độ đối xử quốc gia được dành cho các nhà đầu tư
ASEAN vào năm 2010, và cho tất cả các nhà đầu tư vào năm 2020; tất cả các
ngành nghề được mở cửa cho các nhà đầu tư ASEAN vào năm 2010 và cho tất cả
các nhà đầu tư vào năm 2020; có lưu chuyển tự do hơn về vốn, lao động lành nghề
và chuyên gia, và công nghệ giữa các quốc gia thành viên.
• Hiệp định đầu tư ASEAN – Trung Quốc và Hiệp định đầu tư ASEAN –
Hàn Quốc
Hiệp định đầu tư ASEAN – Trung Quốc và hiệp định đầu tư ASEAN – Hàn
Quốc được kí kết năm 2009. Hiệp định là bước tiến mới trong quan hệ kinh tế
song phương, giúp mở rộng thương mại và đầu tư giữa hai bên và góp phần tăng
cường các quan hệ về kinh tế. Nỗ lực thuận lợi hóa và bảo vệ đầu tư sẽ giúp tăng
cường hoạt động sản xuất, xuất khẩu và khối lượng hàng hóa sản phẩm giữa hai
bên, dẫn đến việc gia tăng đầu tư vào lĩnh vực công nghệ xanh cũng như hoạt
động tái đầu tư có lợi nhuận. ASEAN và Trung Quốc, Hàn Quốc cũng ủng hộ kế
hoạch gia tăng nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nhà đầu tư hai bên vào
thị trường của nhau, thúc đẩy và bảo vệ vốn đầu tư của các bên ký hiệp định, đối
xử công bằng và không phân biệt đối với các nhà đầu tư, bồi thường trong một số
trường hợp và giải quyết tranh chấp theo quy định chung của nhà nước.
• Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản (AJCEP)
Ngày 01/4/2008, Bộ trưởng Bộ Công Thương Việt Nam đã thay mặt Chính
phủ ký Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản trước sự chứng
kiến của Đại Sứ Nhật Bản và đại diện sứ quán của các nước ASEAN tại Việt Nam,
đại diện các Bộ, ngành hữu quan. Hiệp định chính thức có hiệu lực đối với Nhật
Song phương (BTA), tư cách thành viên WTO của Việt Nam, Hiệp định Khung về
Thương mại và Đầu tư (TIFA) mở ra nhiều cơ hội hợp tác hơn nữa trong các vấn
đề thương mại và đầu tư, lĩnh vực mà cả Hoa Kỳ và Việt Nam đều ưu tiên.
2. Những vấn đề còn tồn tại trong thực hiện tự do hóa
hoạt động đầu tư tại Việt Nam
a. Các vấn đề về luật pháp đối với hoạt động đầu tư nước ngoài
Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO, điều đó có nghĩa là Việt Nam phải
cam kết thực hiện những tiêu chuẩn quốc tế về sự minh bạch, tính đồng bộ, tính
công bằng và tính hợp lý. Các luật, quy định và các quyết định của toà án liên
quan đến thương mại cần phải được công bố công khai để cho công chúng và thế
giới biết trước khi chúng có hiệu lực. Mọi yêu cầu về thông tin, thắc mắc và bình
luận đều có thể được giải đáp. Tính đồng bộ có nghĩa là các chính quyền địa
phương không được đưa ra những đạo luật riêng không thống nhất với những quy
định của WTO, tức là chính quyền địa phương phải tuân thủ các nguyên tắc của
16
Nhóm 11 – Lớp DTU308.6
WTO. Tính công bằng yêu cầu không chấp nhận bất cứ sự thiên vị nào trong việc
thực hiện luật pháp. Để tuân thủ tính đồng bộ và tính công bằng, các đạo luật cũng
phải mang tính chất hợp lý, phù hợp. So với những tiêu chuẩn quốc tế đó, thì hệ
thống luật pháp của Việt Nam còn nhiều yếu kém. Mặc dù Việt Nam đã có Luật
Doanh nghiệp và Luật đầu tư nước ngoài nhưng chúng ta còn thiếu nhiều luật
trong những lĩnh vực thương mại cụ thể.
Ngay khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO tháng 1/2007, phái đoàn 18
doanh nghiệp, tập đoàn hàng đầu nước Mỹ như Boeing, Chevron, Exxon Mobil,
IBM, Time Warner đã đến Việt Nam để tìm hiểu cơ hội đầu tư. Nhiều doanh
nghiệp muốn tìm kiếm cơ hội đầu tư ở Việt Nam. Điều mà họ quan tâm nhất là
Việt Nam đã có những cam kết gia nhập WTO và sẽ thực thi những cam kết này
như thế nào. Ví dụ, tập đoàn DELL rất nổi tiếng trong lĩnh vực sản xuất máy tính
đã sang gặp một số cơ quan Chính phủ Việt Nam và tập đoàn Intel đang đầu tư ở
Việt Nam để tìm hiểu xem Việt Nam có là một ứng cử viên tiềm năng cho việc
phủ Việt Nam đã có nhiều biện pháp để cải cách hành chính nhưng bộ máy hành
chính Nhà nước ở Việt Nam vẫn bị các tổ chức quốc tế đánh giá thấp.
Việc thực thi pháp luật, chính sách chưa nghiêm. Hiện tượng sách nhiễu, tiêu
cực chưa bị chặn đứng; tình trạng thanh tra, kiểm tra còn chồng chéo, phiền hà, hiện
tượng hình sự hoá các quan hệ kinh tế có xu hướng tăng lên, nạn tham nhũng, buôn
lậu, làm hàng giả chậm được khắc phục Những vấn đề trên đã làm biến dạng
chính sách, làm xấu thêm môi trường đầu tư. Công tác quản lý Nhà nước còn nhiều
sơ hở để một số đối tác nước ngoài lợi dụng như nâng giá đầu vào, hạ giá đầu ra để
thu lời bất chính, đưa thiết bị cũ, lạc hậu vào nền kinh tế, gian lận thương mại.
c. Thách thức trong cạnh tranh thu hút FDI với các nước khác
Tự do hoá FDI sẽ dẫn đến những khó khăn cho Việt Nam trong quá trình
cạnh tranh với các nước khác, đặc biệt là các nước trong khu vực như Trung Quốc,
Ấn Độ, các nước thành viên ASEAN trong thu hút FDI.
Lý do thứ nhất là vì chế độ FDI của Việt Nam tuy đã được điều chỉnh nhiều
lần theo hướng tự do hoá nhưng vẫn còn nhiều rào cản và so với nhiều nước trong
khu vực và trên thế giới mức độ tự do hoá FDI của Việt Nam chưa cao. Theo kết
quả nghiên cứu về tự do hoá đầu tư của các nước APEC của Chiang Rai (Nhật
Bản), Việt Nam có được mức độ các rào cản đối với FDI đứng thứ 7 trong tổng số
19 nước được nghiên cứu.
Lý do thứ hai là vì ngay cả khi môi trường luật pháp, chính sách FDI của
Việt Nam có thể cạnh tranh được với các nước khác thì nhiều yếu tố khác của môi
trường FDI của Việt Nam như cơ sở hạ tầng, các ngành công nghiệp phụ trợ vẫn
còn kém sức hấp dẫn so với nhiều nước trên thế giới và trong khu vực. Gia nhập
WTO tạo ra một mặt bằng pháp lý chung trong khu vực để điều chỉnh FDI. Việc
tạo ra một môi trường đầu tư thông thoáng và thuận lợi sẽ khiến cho các nhà đầu
tư thay vì đầu tư vào một nước để chiếm lĩnh thị trường nước này, có thể đầu tư
mới hoặc mở rộng cơ sở đầu tư đã có ở một quốc gia khác trong khu vực thuận lợi
hơn để xuất khẩu hàng hoá sang nước kia mà vẫn được hưởng các ưu đãi về đầu
tư. Điều này sẽ làm cho luồng vốn FDI vào khu vực tăng song lại mất tính chất
đồng đều giữa các quốc gia khi thu hút FDI.
đầu tư từ quốc gia này sang quốc gia khác để tạo nên một môi trường đầu tư có
tính cạnh tranh và bình đẳng hơn, tạo sự thuận lợi, thông thoáng cho việc di
chuyển các nguồn vốn đầu tư giữa các quốc gia.
Tuy nhiên, để xu hướng này phát triển mạnh mẽ hơn nữa tại Việt Nam, đem lại
những hiệu quả thiết thực, tăng cường thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài,
góp phần quan trọng thúc đẩy kinh tế đất nước đi lên thì điều quan trọng, đó là
việc phải sớm hoàn thiện các chính sách, các nhóm biện pháp đồng bộ để tạo nên
một thị trường đầu tư hấp dẫn, thông thoáng, bình đẳng và mang tính cạnh tranh
cao. Đây cũng chính là một trong những thách thức lớn của Việt Nam khi tiến
hành tự do hóa thương mại và đầu tư, hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu.
20
Nhóm 11 – Lớp DTU308.6
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Website của Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ kế hoạch và Đầu tư
2. Website của Viện nghiên cứu phát triển TP. Hồ Chí Minh
3. Website của Ủy ban Quốc Gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế
4. Website của Thông Tấn Xã Việt Nam
5. Website của Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ
6. Website của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
7. Website của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
8. Website của Thời báo Kinh tế Việt Nam
21